Nhiều quốc gia dù không cấm nhưng siết chuẩn chặt chẽ nên khó xảy ra đào tạo Y dược tràn lan

09/02/2026 06:25
Tường San

GDVN -Theo chuyên gia, với các ngành gắn chặt với thực tiễn lâm sàng cao như Y khoa hay Điều dưỡng, cần có quy định bắt buộc hình thành bệnh viện thực hành.

Một trong những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân nêu rõ: Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng, cân đối, đủ phẩm chất đạo đức, năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và sự hài lòng của người dân; có chính sách ưu đãi, đãi ngộ đặc biệt trong suốt quá trình từ đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, phát huy năng lực, thế mạnh của đội ngũ cán bộ y tế

Nhìn nhận từ thực tế hiện nay, nhiều chuyên gia vẫn còn nhiều nghi ngại về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y tế của nước ta hiện nay khi việc đào tạo những ngành như ngành Y khoa, Điều dưỡng, Dược, Kỹ thuật Y học đang diễn ra tại một số trường không đào tạo chuyên về y dược.

Tại Đức gần như không tồn tại việc một trường không chuyên đào tạo khối ngành sức khỏe

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Tạ Thị Minh Tâm – chuyên gia sức khỏe tâm thần toàn cầu, hiện là Trưởng khoa ngoại trú và Đồng Trưởng đơn vị nghiên cứu Sức khỏe Tâm thần Toàn cầu tại Đại học Y Charité, Đức (một trong những trường y lâu đời nhất châu Âu với bề dày lịch sử hơn 300 năm) cho biết, tại Đức, đối với lĩnh vực khoa học sức khỏe, mô hình viện – trường luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong đó, giảng viên của trường đại học y đồng thời cũng là cán bộ y tế làm việc trực tiếp tại bệnh viện riêng của nhà trường. Đây được xem là mô hình tất yếu trong đào tạo lĩnh vực sức khỏe tại quốc gia này. Nếu không có cơ sở thực hành lâm sàng, cơ sở đào tạo đó sẽ không được phép đào tạo khối ngành sức khỏe.

518191615-10162861734456885-4459124814033171104-n.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Tạ Thị Minh Tâm – chuyên gia sức khỏe tâm thần toàn cầu, hiện là Trưởng khoa ngoại trú và Đồng Trưởng đơn vị nghiên cứu Sức khỏe Tâm thần Toàn cầu tại Đại học Y Charité, Đức. Ảnh: NVCC

Theo đó, trên thực tế, Đức đặt ra yêu cầu rất nghiêm ngặt về tiêu chuẩn cơ sở vật chất và hạ tầng lâm sàng đối với các trường đào tạo lĩnh vực y dược. Cụ thể, trường đại học phải có bệnh viện trực thuộc riêng hoặc ký hợp đồng với bệnh viện đối tác để triển khai đào tạo lâm sàng. Tuy nhiên, không phải bệnh viện nào cũng có thể đủ điều kiện trở thành bệnh viện đối tác - cơ sở thực hành lâm sàng, mà thường phải là bệnh viện đa khoa có quy mô tầm trung trở lên với đầy đủ chuyên khoa. Đồng thời, bệnh viện đó cũng phải có cam kết chặt chẽ trong việc tiếp nhận sinh viên thực tập, bố trí chương trình học lâm sàng và xác định rõ trách nhiệm của bác sĩ trong công tác đào tạo sinh viên.

Tại Đức, 100% các trường đại học công lập đào tạo y dược đều có bệnh viện thực hành riêng. Chỉ một số ít trường tư thục lựa chọn hình thức hợp tác với bệnh viện đối tác nhằm bảo đảm hoạt động đào tạo lâm sàng.

Theo quan sát của Giáo sư Minh Tâm, Đức gần như không tồn tại việc một trường đang đào tạo khối ngành khác như kỹ thuật, công nghệ, … lại mở đào tạo khối ngành sức khỏe. Nguyên nhân là do việc tổ chức đào tạo y dược đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn, đặc biệt về cơ sở vật chất và hạ tầng lâm sàng. Dù pháp luật của quốc gia này không cấm, nhưng trên thực tế việc triển khai là rất khó. Một trường tư muốn đào tạo Y phải có nguồn vốn đầu tư rất lớn mới có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về hạ tầng và cơ sở vật chất. Nếu chỉ dựa vào nguồn thu học phí từ sinh viên sẽ khó bảo đảm.

Nhìn chung, đào tạo khối ngành sức khỏe tại Đức được đánh giá là rất khó, phải đáp ứng nhiều yêu cầu chặt chẽ về chương trình đào tạo, hệ thống thi cử, quản lý chất lượng, nghiên cứu khoa học cũng như hệ thống đào tạo lâm sàng. Các cơ sở đào tạo phải bảo đảm đội ngũ giảng viên cơ hữu với số lượng lớn hơn giảng viên thỉnh giảng, có tỷ lệ giáo sư, tiến sĩ nhất định cho từng khoa; đồng thời phải có phòng nghiên cứu khoa học, hệ thống tài trợ nghiên cứu và phòng thí nghiệm đạt chuẩn, …

Đặc biệt, sinh viên ngành Y tại Đức phải vượt qua 3 kỳ thi quốc gia mới đủ điều kiện tốt nghiệp, áp dụng cho cả trường công và trường tư. Các kỳ thi này do Sở Y tế của 16 bang tại Đức tổ chức. Kỳ thi thứ nhất là cận lâm sàng dành cho sinh viên sau khi học xong kiến thức 2 năm đầu; kỳ thi thứ hai diễn ra trước khi sinh viên bước vào giai đoạn thực hành lâm sàng và được đánh giá rất khó; kỳ thi thứ ba là kỳ thi lâm sàng hoàn toàn, tập trung vào nội khoa, ngoại khoa, người học sẽ bốc thăm thêm một chuyên khoa và tự chọn một chuyên khoa để thi. Điều này cho thấy ngay từ giai đoạn đầu, sinh viên khối ngành sức khỏe phải có năng lực học tập rất cao mới có thể theo học.

Hiện nay, tại Đức có 3 ngành bắt buộc phải trải qua kỳ thi quốc gia gồm Luật, Y và Dược. Theo Giáo sư Minh Tâm, cơ chế này giúp bảo đảm chất lượng đầu ra trước khi người học tham gia thị trường lao động. Đây là một cách thức để kiểm tra và đảm bảo chất lượng cho đội ngũ nhân lực y tế mà Việt Nam có thể tham khảo.

Bên cạnh đó, yêu cầu nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học trong các trường đào tạo y dược cũng rất quan trọng. Giảng viên y khoa phải đáp ứng đồng thời ba nhiệm vụ gồm nghiên cứu khoa học, giảng dạy và điều trị bệnh nhân.

Đối chiếu với thực tiễn Việt Nam, Giáo sư Minh Tâm cho rằng, việc các trường đại học không chuyên đào tạo lĩnh vực sức khỏe là vấn đề đáng lo ngại. Bởi, ngành Y có tính đặc thù cao, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người. Nếu đào tạo tràn lan nhưng chưa bảo đảm điều kiện về đội ngũ giảng viên, cơ sở thực hành và hạ tầng lâm sàng sẽ tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng chất lượng nhân lực y tế và đặc biệt là chất lượng sức khỏe của bệnh nhân. Theo đó, dù là trường công hay tư, việc đào tạo vẫn cần tuân thủ quy hoạch phát triển nhân lực y tế quốc gia, tránh xảy ra tình trạng đào tạo tràn lan.

Các cơ sở giáo dục tại Nga chỉ được phép đào tạo khi đã thành lập một trường chuyên biệt trực thuộc về Y dược

Theo chia sẻ của Bác sĩ Nguyễn Đình Bảo – Tiến sĩ chuyên ngành Tạo hình - Thẩm mỹ tại Đại học Nghiên cứu Y khoa Quốc gia Nga, thực trạng đào tạo lĩnh vực y tế tại Nga được kiểm soát rất chặt chẽ, thể hiện rõ qua số lượng cơ sở giáo dục được phép mở ngành đào tạo khối ngành sức khỏe tương đối hạn chế.

Theo đó, các cơ sở giáo dục đại học tại Nga chỉ được phép đào tạo lĩnh vực y dược khi đã thành lập một trường chuyên biệt trực thuộc về y dược. Việc chỉ mở khoa đào tạo riêng lẻ trong một trường đại học đa ngành thường không đủ điều kiện để được cấp phép đào tạo.

Để được phép triển khai đào tạo, cơ sở giáo dục phải bảo đảm đầy đủ hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, đồng thời đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên, trong đó có tỷ lệ nhất định giáo sư và giảng viên trình độ cao. Bên cạnh đó, các trường đào tạo y tại Nga đều phải có hệ thống bệnh viện thực hành với đầy đủ các chuyên khoa như nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa… nhằm phục vụ đào tạo thực hành lâm sàng.

588589478-25228552843465311-8599414077381215421-n.jpg
Bác sĩ Nguyễn Đình Bảo – Tiến sĩ chuyên ngành Tạo hình - Thẩm mỹ tại Đại học Nghiên cứu Y khoa Quốc gia Nga. Ảnh: NVCC

Đặc biệt, hệ thống đào tạo còn yêu cầu cơ sở phục vụ giảng dạy giải phẫu trên cơ thể thật, giúp người học nắm chắc kiến thức giải phẫu, nâng cao năng lực lâm sàng. Bác sĩ Bảo cho rằng, việc được tiếp cận đầy đủ môi trường thực hành với hệ thống chuyên khoa đa dạng giúp sinh viên tích lũy kiến thức và kỹ năng thực tế, từ đó bảo đảm năng lực hành nghề sau khi tốt nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho người dân.

Cũng theo Bác sĩ Bảo, việc xây dựng một trường đào tạo chuyên sâu về y dược đòi hỏi nền tảng từ một trường đại học có quy mô lớn, đủ uy tín và đủ năng lực để đầu tư hệ thống đào tạo chuyên biệt.

Liên hệ với thực tiễn tại Việt Nam, Bác sĩ Nguyễn Đình Bảo cho rằng, đối với một số cơ sở giáo dục đại học đa ngành, tư thục, nếu chưa bảo đảm đầy đủ hạ tầng cơ sở vật chất và điều kiện đào tạo chuyên sâu để thành lập một trường y đúng nghĩa, việc mở rộng đào tạo nhân lực y tế có thể vượt quá năng lực thực tế. Trong trường hợp này, cần có cơ chế rà soát, kiểm tra chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo và chất lượng đầu ra của nhân lực y tế.

Theo đó, mục tiêu cốt lõi của đào tạo lĩnh vực y dược vẫn phải là đào tạo ra đội ngũ bác sĩ, nhân viên y tế có năng lực chuyên môn vững vàng, đáp ứng đầy đủ quy trình chuyên môn và bảo đảm an toàn cho người bệnh trong quá trình khám, điều trị.

Bên cạnh đó, theo quan điểm của Bác sĩ Bảo, các trường đại học tư thục nếu tham gia đào tạo lĩnh vực Y dược nên tập trung chuyên sâu vào lĩnh vực này. Việc phát triển đào tạo nhiều ngành trong khi nguồn lực còn hạn chế có thể dẫn đến khó khăn trong việc bảo đảm đội ngũ giảng viên chất lượng cao. Nếu cơ sở đào tạo cùng lúc triển khai quá nhiều ngành học, nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, đặc biệt trong lĩnh vực đặc thù như y dược, là điều cần được tính toán thận trọng.

Trường muốn đào tạo những ngành học gắn chặt với thực tiễn lâm sàng thì phải có bệnh viện thực hành riêng

Theo chia sẻ của chị Phạm Minh Nguyệt – nghiên cứu sinh tại Okayama University - Graduate School of Medicine, Dentistry and Pharmaceutical Sciences (Trường Cao học Y Dược Nha, Đại học Okayama, Nhật Bản), tại khu vực chị đang học tập và nghiên cứu, hoạt động đào tạo y tế được triển khai ở cả trường công lập và tư thục, đồng thời thường đặt trong các đại học quy mô lớn. Ví dụ như cơ sở chị Nguyệt đang theo học là Trường Cao học Y dược Nha thuộc Đại học Okayama. Thông thường, các bệnh viện y khoa trực thuộc đại học tại Nhật Bản cũng là những bệnh viện có quy mô lớn, giữ vai trò tuyến đầu, được trang bị công nghệ, máy móc và hệ thống trang thiết bị hiện đại.

Từ thực tiễn quốc tế và quan điểm cá nhân, chị Nguyệt cho rằng, việc một cơ sở giáo dục đại học chỉ thành lập khoa Y, khoa Dược thay vì xây dựng một trường chuyên biệt có thể chưa bảo đảm đầy đủ yêu cầu đào tạo chuyên sâu.

Không những vậy, một thực tế đáng quan tâm hiện nay là tại một số cơ sở đào tạo có mở đào tạo khối ngành y dược nhưng chưa có bệnh viện thực hành trực thuộc, nhà trường phải đưa sinh viên đến thực hành lâm sàng tại các bệnh viện bên ngoài.

Trong trường hợp thiếu cơ chế quản lý chặt chẽ, nhất là khi số lượng sinh viên lớn, công tác quản lý và giám sát chất lượng đào tạo có thể gặp nhiều hạn chế do đây không phải là cơ sở thực hành riêng của nhà trường. Trong khi đó, việc tổ chức cho sinh viên thực hành lâm sàng cần được kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo. Tại Nhật Bản, mỗi sinh viên khi tham gia thực hành lâm sàng có thể được nhiều giảng viên và bác sĩ hướng dẫn, qua đó tăng cường hiệu quả quản lý và giám sát chất lượng đào tạo.

“Dù là trường công hay trường tư, khi muốn đào tạo khối ngành sức khỏe, đặc biệt với các ngành đòi hỏi năng lực lâm sàng cao, gắn chặt với thực tiễn điều trị như Y khoa hay Điều dưỡng, cần có quy định bắt buộc hình thành bệnh viện thực hành để bảo đảm chất lượng đào tạo. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế quản lý cơ sở thực hành và chương trình đào tạo lâm sàng chặt chẽ”, chị Nguyệt nhấn mạnh.

Tường San