Sắp xếp lại CSGDĐH giúp khắc phục tình trạng nguồn lực đầu tư dàn trải và thiếu chiều sâu

16/01/2026 06:22
Diệu Dương
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Tiến tới giảm số lượng cơ sở đào tạo đơn ngành giúp khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, cạnh tranh thiếu lành mạnh và phân tán nguồn lực đầu tư.

Một trong những tiêu chí xác định cơ sở thuộc diện phải sắp xếp, tổ chức lại về ngành, lĩnh vực đào tạo theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo là: "Các cơ sở đào tạo đa lĩnh vực nhưng quy mô đào tạo, thành tích nghiên cứu ở từng lĩnh vực rất nhỏ (trừ các khối quốc phòng - an ninh, sức khỏe, nghệ thuật) sẽ được xem xét sắp xếp; tiến tới giảm số lượng cơ sở đào tạo đơn ngành".

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia giáo dục và cơ sở đào tạo, việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập không đơn thuần là bài toán tinh gọn, giảm đầu mối tổ chức bộ máy hay nâng cao hiệu quả quản lý, sâu xa hơn còn ở mục tiêu tái cấu trúc hệ thống theo hướng tập trung nguồn lực đầu tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển hiện đại hóa, nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường nghiên cứu khoa học công nghệ để phục vụ kinh tế - xã hội của đất nước.

Sắp xếp, tổ chức lại hệ thống giáo dục đại học công lập được xem như một cuộc đại phẫu

Trong bối cảnh triển khai những chiến lược đột phá về phát triển giáo dục và đào tạo hiện nay, nhằm nâng cao sức cạnh tranh và vị thế của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận – nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ cho rằng, việc sắp xếp, tổ chức lại hệ thống giáo dục đại học công lập được xem như một cuộc đại phẫu mang tính tất yếu, đảm bảo phù hợp với Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 452/QĐ-TTg năm 2025.

Hướng tới mục tiêu sau khi sắp xếp, tổ chức lại tổng thể, các cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực có thể nâng cao hiệu quả đào tạo và nghiên cứu, bảo đảm chất lượng, sở hữu nguồn lực đủ mạnh và quy mô tuyển sinh phù hợp, việc căn cứ vào tiêu chí xem xét các cơ sở giáo dục đa ngành nhưng có quy mô đào tạo và thành tích nghiên cứu ở từng lĩnh vực còn hạn chế là rất cần thiết. Tiêu chí này góp phần khắc phục tình trạng một số trường đại học trong thời gian qua liên tục mở rộng danh mục ngành đào tạo trong khi nguồn lực, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên chưa tương xứng, dẫn đến dàn trải và thiếu chiều sâu.

tuyen-sinh-thac-si-tien-si-tai-truong-dai-hoc-cong-thuong-thanh-pho-ho-chi-minh-co-hoi-nang-cao-trinh-do-hoc-van-va-nghien-cuu-khoa-hoc-1.jpg
Ảnh minh hoạ: HUIT.

Đồng thời, việc tiến tới giảm số lượng cơ sở đào tạo đơn ngành cũng góp phần khắc phục tình trạng còn tồn tại một số trường đại học có quy mô nhỏ, phân tán, manh mún, khó tạo dựng được thương hiệu, uy tín học thuật, hợp tác liên kết bền vững với các doanh nghiệp, viện nghiên cứu trong nước và quốc tế. Qua đó, điều này không chỉ giúp giảm chi phí quản lý hành chính, mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, tập trung đầu tư trọng tâm, trọng điểm, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục phát triển theo hướng chất lượng và bền vững hơn.

Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục đại học sau khi sắp xếp, tổ chức lại cần bảo đảm hoạt động tốt hơn, thông suốt, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người học, viên chức, các đối tượng khác có liên quan. Quá trình thực hiện cần minh bạch, có cơ chế giải trình rõ ràng, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà trường, đội ngũ giảng viên, người học và địa phương, cũng như có lộ trình phù hợp, từng bước thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh. Điều này đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về thể chế, cơ chế vận hành, nhân sự và chiến lược phát triển, nhằm hạn chế tối đa sự xáo trộn.

Xét về mô hình tổ chức hệ thống, theo Giáo sư Đặng Ứng Vận, cơ sở giáo dục đại học đa lĩnh vực là hình thái phổ biến và đã được chứng minh hiệu quả tại nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc,... Các cơ sở này thường có quy mô đủ lớn, cấu trúc tổ chức tinh gọn, chiến lược phát triển đồng bộ, thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đào tạo liên ngành, nghiên cứu liên lĩnh vực và chuyển giao tri thức.

Tại Việt Nam, khái niệm cơ sở giáo dục đại học đa lĩnh vực xuất hiện từ những năm 1990, tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của mô hình tổ chức cũ, một số đơn vị này vẫn mang tính liên ngành cơ học, bộ máy quản lý còn nhiều tầng nấc, quy mô đào tạo và thành tích nghiên cứu ở từng lĩnh vực chưa đạt được như kỳ vọng. Mặt khác, những cơ sở đào tạo đơn ngành trên cùng một địa bàn có thể đối mặt với tình trạng chức năng chồng chéo, cạnh tranh thiếu lành mạnh, làm phân tán nguồn lực, hạn chế khả năng đầu tư mạnh mẽ, khiến hiệu quả hoạt động và năng lực phát triển dài hạn của hệ thống chưa được phát huy đầy đủ.

Vì vậy, việc tái cấu trúc, sắp xếp, tổ chức lại hệ thống giáo dục đại học hiện nay không căn cứ mức độ tự chủ tài chính là định hướng đúng đắn và hợp lý. Quá trình tiến hành triển khai cần dựa trên những tiêu chí khoa học, chặt chẽ, bảo đảm sự phù hợp về địa lý, lĩnh vực đào tạo, năng lực nghiên cứu – đào tạo, quy mô, hiệu quả hoạt động và gắn với chiến lược phát triển quốc gia. Chỉ khi đó, cơ sở giáo dục đại học đa lĩnh vực mới thực sự trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo có sức lan tỏa, bứt phá mạnh mẽ, đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Mô hình đào tạo đa ngành giúp nâng cao sức cạnh tranh của giáo dục đại học

Đánh giá việc sắp xếp, quy hoạch lại các cơ sở giáo dục đại học công lập dựa trên những tiêu chí, trong đó liên quan đến ngành và lĩnh vực đào tạo, Tiến sĩ Hồ Thanh Trí - Viện trưởng Viện Quốc tế, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, định hướng này phù hợp với thực tiễn trong những giai đoạn qua, hệ thống giáo dục tồn tại tình trạng mở trường đại học tràn lan, có quy mô nhỏ, ngành nghề trùng lặp, trong khi thiếu quy hoạch tổng thể và cơ chế điều phối thống nhất, dẫn đến hạn chế trong định hướng phát triển liên ngành cũng như chuyên môn hóa đào tạo. Sự gắn kết giữa một số trường đại học với doanh nghiệp và chính quyền địa phương còn lỏng lẻo, khiến vai trò của các cơ sở giáo dục trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội chưa được phát huy đầy đủ.

Ảnh minh hoạ: HUIT.

Ảnh minh hoạ: HUIT.

Do đó cần nhìn nhận và định vị các trường đại học như những trung tâm tri thức, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo của địa phương và khu vực. Hơn nữa, những yếu tố khách quan cũng tác động không nhỏ đến hệ thống mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học. Nước ta có địa hình kéo dài, phân hóa rõ rệt giữa các vùng kinh tế, trong khi hạ tầng giao thông chưa đồng đều, dẫn đến việc các trung tâm nghiên cứu, cơ sở đào tạo lớn chủ yếu tập trung tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều khu vực trung du, miền núi và đồng bằng sông Cửu Long gặp khó khăn trong thu hút giảng viên chất lượng cao và nguồn lực đầu tư, khiến nhiều cơ sở đào tạo có quy mô nhỏ, thiếu liên kết và khó mở rộng phạm vi hoạt động.

Ngoài ra, trong hai thập niên qua, áp lực dân số trẻ cùng với nhu cầu học đại học gia tăng đã thúc đẩy các địa phương mở thêm nhiều cơ sở đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt, trong khi chưa chú trọng đầy đủ đến tính bền vững dài hạn. Cùng với đó, sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động và tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ khiến không ít chương trình đào tạo chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn. Đối với các trường đại học có quy mô nhỏ, những hạn chế về nguồn lực càng làm gia tăng những thách thức trong việc nâng cao năng lực thích ứng, chuẩn hóa chuẩn đầu ra và đổi mới phương thức đào tạo. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về dự báo nhu cầu nhân lực giữa các ngành nghề, lĩnh vực và tính thống nhất trong thông tin đào tạo, nghiên cứu khoa học.

Từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, nhiều nước đã triển khai việc sắp xếp, hợp nhất, sáp nhập và tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học công lập nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị, tăng tính cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Đơn cử tại Trung Quốc, chính phủ triển khai các chương trình như Dự án 211 và Dự án 985, sáp nhập các trường nhỏ thành đại học đa ngành quy mô lớn, đồng thời phân tầng hệ thống rõ ràng giữa đại học nghiên cứu, đại học ứng dụng và cao đẳng cộng đồng. Nhờ đó, quốc gia này đã hình thành các trung tâm đào tạo, nghiên cứu hàng đầu thế giới như Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, Chiết Giang, giúp tăng sức cạnh tranh quốc tế và gắn kết đào tạo với phát triển vùng.

Trong khi đó, Pháp tiến hành hợp nhất các trường đại học và viện nghiên cứu trong cùng khu vực nhằm nâng cao vị thế trên bảng xếp hạng quốc tế và tăng hiệu quả sử dụng ngân sách công. Vì vậy, bài học đặt ra cho Việt Nam là cần triển khai việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học theo hướng có chọn lọc, dựa trên đặc thù vùng và lĩnh vực đào tạo, nhằm hình thành các cơ sở đào tạo đa ngành có quy mô lớn, thành tích nghiên cứu tốt và mức độ tự chủ cao. Song song với đó, việc tăng cường liên kết học thuật, xây dựng và củng cố thương hiệu uy tín cho các cơ sở giáo dục đại học được xem là yếu tố then chốt, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của toàn hệ thống.

Đồng tình với ý kiến trên, đặt trong bối cảnh giáo dục toàn cầu đang đứng trước những biến đổi sâu sắc dưới tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Đắc Nguyên Ngã (Đại học San Francisco State, Hoa Kỳ), nhiều quốc gia trên thế giới yêu cầu các cơ sở đào tạo đại học phải có bộ máy tổ chức đủ linh hoạt và thích ứng cao nhằm theo kịp tốc độ phát triển của thời đại. Việc triển khai sắp xếp, tổ chức lại các trường đại học là bước đi phù hợp với xu thế chung, khi nhiều quốc gia phát triển như Hoa Kỳ và các nước châu Âu cũng đang thực hiện các chương trình tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học theo hướng tinh gọn và hiệu quả hơn.

98104031-789507758122157-6889751008826621952-n.jpg
Ảnh minh hoạ: HUIT.

Trước hết, điều này tạo ra sự cộng hưởng về nguồn lực, kết hợp được thế mạnh của nhiều trường đại học để hình thành các cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực có năng lực cạnh tranh cao hơn. Đồng thời, quá trình này còn góp phần giảm thiểu sự chồng chéo trong quản lý, tinh giản bộ máy quản trị, từ đó giảm chi phí vận hành và nâng cao hiệu quả hoạt động chung của toàn hệ thống. Tái cấu trúc giáo dục đại học không đơn thuần mang mục tiêu thu hẹp hệ thống, mà hướng tới việc nâng tầm chất lượng và tăng cường khả năng hội nhập quốc tế.

Song, điều quan trọng là phải đánh giá được đầy đủ thế mạnh, hạn chế của từng cơ sở đào tạo, từ đó lựa chọn phương án sắp xếp, kết hợp phù hợp với các ngành, lĩnh vực đào tạo để những lợi thế có thể bổ trợ cho nhau, tạo ra nhiều đột phá mới trong đào tạo và nghiên cứu. Định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc khuyến khích các cơ sở giáo dục chủ động sắp xếp, tổ chức lại các phân hiệu, địa điểm và cơ sở đào tạo theo hướng hạn chế tình trạng manh mún, phân tán được xem là giải pháp cần thiết nhằm giảm chi phí quản lý hành chính và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đặc biệt, việc hợp nhất các cơ sở giáo dục có ngành đào tạo mang tính bổ trợ cho nhau sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển theo hướng liên ngành, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ gắn với nhu cầu thực tiễn. Quá trình này không chỉ giúp giảm bớt các tầng nấc quản lý trung gian, mà còn gia tăng tính linh hoạt cho các trường đại học trong việc xây dựng chiến lược phát triển dài hạn. Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn trong quá trình sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học là vấn đề hòa nhập về văn hóa tổ chức. Mỗi trường đại học có lịch sử phát triển, môi trường học thuật và văn hoá làm việc riêng, do đó việc hợp nhất không thể thực hiện một cách cơ học, mà đòi hỏi thời gian, lộ trình phù hợp cùng sự đồng thuận từ đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và người học.

Nếu được triển khai bài bản và phù hợp, việc sắp xếp các cơ sở giáo dục đại học công lập tại Việt Nam sẽ mang lại nhiều lợi ích lâu dài.

Một là hình thành cơ sở đào tạo đa ngành có khả năng xây dựng các chương trình đào tạo liên ngành hiện đại. Sinh viên có điều kiện tiếp cận kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau, qua đó nâng cao năng lực làm việc liên ngành, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động hiện nay.

Hai là hệ thống giáo dục đại học cũng từng bước hình thành đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia liên ngành uy tín, chuyên nghiệp, trình độ cao, đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Diệu Dương