Trường đào tạo khối ngành Nông - Lâm nghiệp nỗ lực đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm

23/03/2026 06:23
Khánh Hòa

GDVN - Nhiều trường đào tạo khối ngành Nông - Lâm nghiệp đang đẩy mạnh nghiên cứu gắn với thực tiễn, hợp tác doanh nghiệp để thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm.

Nhiều kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp được đánh giá có giá trị khoa học và tiềm năng ứng dụng cao, song không ít đề tài vẫn dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc thử nghiệm nhỏ. Thực tế này cho thấy, khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng trong sản xuất còn khá lớn.

Trước yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu và gia tăng nguồn thu từ hoạt động khoa học công nghệ, các cơ sở đào tạo khối ngành Nông - Lâm nghiệp đứng trước bài toán làm sao để đưa những kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm, tiến tới ứng dụng và thương mại hóa trên thị trường.

Chuyển từ nghiên cứu hàn lâm sang nghiên cứu ứng dụng gắn với nhu cầu thị trường và địa phương

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Trần Đình Lý - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, hiện nay, các trường đại học đào tạo khối ngành Nông - Lâm nghiệp đang đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ mô hình nghiên cứu hàn lâm sang nghiên cứu gắn với nhu cầu của sản xuất và thị trường. Đây cũng là định hướng mà Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đang tập trung triển khai trong chiến lược phát triển giai đoạn tới.

Trước hết, nhà trường chú trọng xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, tập trung vào lĩnh vực có lợi thế như công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sau thu hoạch, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các nhóm nghiên cứu không chỉ hướng đến công bố khoa học mà đặt mục tiêu tạo ra các công nghệ, quy trình cũng như giải pháp phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Song song với đó, nhà trường đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp và địa phương, xem đây là kênh quan trọng để hình thành đề tài nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Khi doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu, kết quả nghiên cứu sẽ có khả năng ứng dụng và chuyển giao cao hơn.

Ngoài ra, nhà trường phát triển mạnh hoạt động dịch vụ khoa học và chuyển giao công nghệ, bao gồm tư vấn kỹ thuật, đào tạo, chuyển giao quy trình sản xuất cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Những hoạt động này vừa góp phần nâng cao giá trị của nghiên cứu khoa học, vừa tạo nguồn thu bền vững cho nhà trường.

"Nghiên cứu nông nghiệp không thể chỉ dừng ở phòng thí nghiệm. Giá trị thật của khoa học là khi công nghệ đi ra cánh đồng, đi vào doanh nghiệp và tạo ra giá trị cho thị trường", Tiến sĩ Trần Đình Lý nhấn mạnh.

thay-ly.jpg
Tiến sĩ Trần Đình Lý - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh website nhà trường.

Theo thầy Lý, để kết quả nghiên cứu có thể thương mại hóa, điều quan trọng nhất là nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường và thực tiễn sản xuất. Khi đề tài nghiên cứu gắn với bài toán cụ thể của ngành hàng hoặc doanh nghiệp, khả năng ứng dụng sẽ cao hơn.

Bên cạnh đó, cần có lộ trình phát triển công nghệ rõ ràng. Sau giai đoạn nghiên cứu ban đầu, cần tiếp tục thử nghiệm ở quy mô pilot, hoàn thiện quy trình công nghệ, chuẩn hóa chất lượng sản phẩm và đánh giá hiệu quả kinh tế trước khi đưa vào sản xuất đại trà.

Một yếu tố quan trọng khác là vai trò của doanh nghiệp trong quá trình thương mại hóa. Các cơ sở giáo dục đại học có thế mạnh về nghiên cứu, công nghệ, nhưng để sản phẩm thành công trên thị trường cần có năng lực tổ chức sản xuất, phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu.

Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quang - Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) cho biết, nhà trường xác định việc nâng cao năng lực nghiên cứu gắn với đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm khoa học, góp phần gia tăng phát triển kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết. Hiện tại, để tăng tỷ trọng nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, nhà trường đã và đang triển khai một số giải pháp trọng tâm, như:

Thứ nhất, đẩy mạnh sang nghiên cứu ứng dụng gắn với nhu cầu thị trường và địa phương. Theo đó, nhà trường tập trung phát triển hướng nghiên cứu có tính ứng dụng cao ở một số lĩnh vực có thế mạnh như nông nghiệp công nghệ cao, chăn nuôi - thú y, công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm, phát triển nông - lâm nghiệp bền vững, từ đó tạo ra sản phẩm khoa học có khả năng thương mại hóa và chuyển giao cao.

Thứ hai, đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp, hợp tác xã và các địa phương trong nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp. Kết quả cho thấy, mô hình liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân đã rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng, đồng thời tạo ra nguồn thu bền vững từ hợp đồng dịch vụ khoa học, tư vấn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.

Thứ ba, thành lập nhóm nghiên cứu mũi nhọn và nghiên cứu tiềm năng về một số lĩnh vực trọng tâm; khuyến khích các nhóm nghiên cứu phát triển quy trình kỹ thuật, giống cây trồng - vật nuôi, chế phẩm sinh học, sản phẩm nông nghiệp đặc trưng là kết quả từ quá trình nghiên cứu.

Nhà trường chú trọng xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm khoa học và công nghệ, hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng và kết nối thị trường nhằm nâng cao giá trị thương mại và tăng nguồn thu từ khoa học và công nghệ.

Thứ tư, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nhà trường đang từng bước hoàn thiện cơ chế khuyến khích các nghiên cứu có tính ứng dụng, khả năng thương mại hóa cao, hỗ trợ hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh. Đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu gắn với thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Thứ năm, mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Những năm gần đây, thông qua hợp tác với các tổ chức, trường đại học, viện nghiên cứu nước ngoài, nhà trường đã tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên, đồng thời mở rộng cơ hội đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

thay-hung.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quang - Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên). Ảnh website nhà trường.

Thầy Quang chia sẻ thêm, để đưa nghiên cứu vào thực tiễn, nhà trường đã chủ động phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh, sở, ngành liên quan để xác định những bài toán khoa học - công nghệ xuất phát từ nhu cầu của địa phương. Trong đó, nổi bật có đề tài "Nghiên cứu, xây dựng quy trình nuôi lợn lấy thịt từ thức ăn tự nhiên có bổ sung nguyên liệu chè xanh Thái Nguyên".

Các nhà khoa học của trường đã nghiên cứu và xây dựng thành công quy trình chăn nuôi lợn thịt sử dụng thức ăn tự nhiên có bổ sung bột trà xanh Thái Nguyên, góp phần tạo ra sản phẩm thịt lợn có chất lượng và giá trị khác biệt được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận nhãn hiệu "Thịt lợn trà xanh Tinh hoa Thái Nguyên" phục vụ cho quá trình thương mại hóa sản phẩm.

Nhà trường cũng đã triển khai mô hình liên kết ba bên giữa nhà trường - hợp tác xã - cơ sở chăn nuôi tại địa phương để tổ chức sản xuất thử nghiệm, hoàn thiện quy trình công nghệ và thương mại hóa sản phẩm "Thịt lợn trà xanh Tinh hoa Thái Nguyên", từ đó góp phần tăng tỷ trọng nguồn thu từ kết quả nghiên cứu.

Cần cơ chế hỗ trợ đồng bộ từ nghiên cứu đến thương mại hóa

Từ thực tiễn triển khai cho thấy, kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp đã từng bước được ứng dụng và chuyển giao, hình thành các sản phẩm có giá trị. Tuy nhiên, quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn.

Về vấn đề này, thầy Quang cho biết, thực tế tại Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) đã có một số đề tài nghiên cứu thành công đem lại hiệu quả cao, điển hình như đề tài "Nghiên cứu chọn tạo chủng giống và quy trình nuôi trồng loài Cordyceps militaris có hàm lượng cordycepin cao trên giá thể nhân tạo thể rắn" do các nhà khoa học của Viện khoa học sự sống thực hiện.

Khi nhận thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe từ nấm đông trùng hạ thảo là hết sức cần thiết, nhóm nghiên cứu đã tập trung vào việc nghiên cứu chọn tạo được chủng nấm Cordyceps militaris có hàm lượng Cordycepin cao - một hoạt chất sinh học quan trọng quyết định giá trị dược liệu của nấm đông trùng hạ thảo.

Sau đó, nhóm nghiên cứu tập trung nghiên cứu chuyên sâu, hoàn thiện quy trình sản xuất trên giá thể nhân tạo thể rắn được kiểm soát các yếu tố quan trọng như giá thể ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và dinh dưỡng để đảm bảo năng suất và hàm lượng hoạt chất ổn định. Đây là bước quan trọng để chuyển từ kết quả nghiên cứu sang thực tiễn sản xuất.

Không dừng lại ở đó, nhóm tiếp tục phát triển đa dạng sản phẩm từ nấm đông trùng hạ thảo phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe như dạng tươi, sấy khô, trà túi lọc, viên nang. Các sản phẩm đã được công bố tiêu chuẩn chất lượng và chuyển giao cho Công ty cổ phần Khoa học sự sống (tỉnh Thái Nguyên) để thương mại hóa. Chính sự liên kết với doanh nghiệp trong phát triển sản phẩm nấm đông trùng hạ thảo - kết quả của quá trình nghiên cứu bài bản của nhà trường đã góp phần gia tăng nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ.

Đến nay, một số kết quả nghiên cứu khác cũng được nhà trường tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất và thương mại hóa, như quy trình nhân giống nấm thượng hoàng, quy trình nuôi trồng nấm thượng hoàng trên mùn cưa cây keo được cấp bằng độc quyền sáng chế, hay giống gà NG15 được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận. Các sản phẩm này đang được liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã để phát triển và tạo nguồn thu.

truong-dai-hoc-nong-lam-thai-nguyen.jpg
Sinh viên Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) trong một buổi học thực tế. Ảnh website nhà trường.

Từ kinh nghiệm thực tế, thầy Quang đánh giá, việc đưa các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp ra thị trường vẫn gặp một số khó khăn nhất định. Trong đó, khoảng cách giữa nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và ứng dụng trong sản xuất thực tiễn còn khá lớn. Nhiều kết quả nghiên cứu mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc quy mô nhỏ.

Nguồn lực dành cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ và thương mại hóa còn hạn chế. Phần lớn đề tài khoa học tập trung vào nghiên cứu và công bố kết quả, trong khi kinh phí cho phát triển sản phẩm, chuẩn hóa quy trình, xây dựng mô hình trình diễn hay thử nghiệm thị trường vẫn còn thiếu.

Các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu và hệ thống phân phối đối với sản phẩm khoa học công nghệ ngày càng cao, đòi hỏi đơn vị nghiên cứu phải có thêm nguồn lực và kinh nghiệm trong quá trình đưa sản phẩm ra thị trường.

Theo thầy Quang, để các mô hình nghiên cứu, sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao có thể tạo ra giá trị kinh tế trên thị trường, cần có cơ chế hỗ trợ mang tính hệ thống và đồng bộ. Thực tế cho thấy, nhiều kết quả nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng rất tốt nhưng thiếu nguồn lực để mở rộng quy mô từ phòng thí nghiệm lên sản xuất thử nghiệm. Vì vậy, các chương trình khoa học công nghệ nên dành nguồn lực riêng cho giai đoạn "ươm tạo công nghệ"; giúp sản phẩm nghiên cứu được kiểm chứng về hiệu quả kinh tế - kỹ thuật trước khi thương mại hóa.

Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại cho sản phẩm khoa học và công nghệ. Đây là yếu tố quan trọng để sản phẩm có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trường.

Đặc biệt, việc khuyến khích hình thành doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học (spin-off), mô hình khởi nghiệp khoa học công nghệ trong nông nghiệp cần được quan tâm. Khi có cơ chế phù hợp để kết nối nghiên cứu với sản xuất và thị trường, mô hình nghiên cứu trong nông - lâm nghiệp sẽ có nhiều cơ hội chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế và đóng góp thiết thực cho phát triển nông nghiệp bền vững.

Đồng quan điểm, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng khó khăn khi đưa các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp ra thị trường nằm ở khoảng cách giữa nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và sản xuất ở quy mô thương mại. Nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị khoa học tốt nhưng để ứng dụng vào thực tiễn cần thêm thời gian, nguồn lực và các bước thử nghiệm ở quy mô lớn.

Hiện tại, cơ chế kết nối giữa nhà khoa học và doanh nghiệp vẫn chưa thật sự thông suốt. Không ít doanh nghiệp còn e ngại khi đầu tư vào công nghệ mới, trong khi các nhà khoa học đôi khi chưa quen với việc phát triển sản phẩm theo yêu cầu của thị trường.

Một nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh website nhà trường.

Một nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh website nhà trường.

Không chỉ vậy, lĩnh vực nông nghiệp thường chịu tác động của nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, biến động thị trường, tiêu chuẩn chất lượng và chuỗi cung ứng, khiến quá trình thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Vì vậy, cần có cơ chế hỗ trợ đồng bộ từ nghiên cứu đến thương mại hóa. Trước hết, Nhà nước cần có chương trình hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, đặc biệt là giai đoạn thử nghiệm, hoàn thiện quy trình và nhân rộng mô hình sản xuất.

Tiếp đó, cần thúc đẩy mô hình hợp tác giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nên tham gia từ sớm để cùng phát triển sản phẩm và thị trường, để tri thức được chuyển hóa thành sản phẩm và giá trị kinh tế.

Về phía các trường đại học, cần xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ và mô hình sản xuất thử nghiệm, tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu được kiểm chứng trong thực tiễn.

Khi có sự phối hợp hiệu quả giữa các bên, kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của nông sản và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.

Khánh Hòa