Những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các cơ sở giáo dục đại học về điều kiện mở ngành, chuẩn chương trình và kiểm định chất lượng. Với đặc thù đòi hỏi thực hành, thực nghiệm và sự gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, khối ngành Nông - Lâm nghiệp đã và đang bảo đảm chất lượng đào tạo và duy trì tuyển sinh ra sao.
Để độc giả hình dung rõ hơn bức tranh đào tạo của khối ngành Nông - Lâm nghiệp hiện nay, phóng viên đã tiến hành thống kê về tổng thu hoạt động, đầu tư cơ sở vật chất, quy mô đào tạo của một số trường đang đào tạo khối ngành này.
Chênh lệch về đầu tư ngân sách
Cùng đào tạo trong nhóm ngành Nông - Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế), Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên), Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang và Trường Đại học Lâm nghiệp là những cơ sở giáo dục có thế mạnh về đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên rừng, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội.
Theo báo cáo ba công khai năm học 2022-2023 và báo cáo thường niên năm 2024, tổng thu hoạt động của các trường, cụ thể như sau:
Năm 2022, Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế), tổng thu hoạt động đạt 82,15 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ từ ngân sách là 26,8 tỷ đồng; thu từ học phí đạt 49,73 tỷ đồng; thu từ khoa học và công nghệ đạt 0,13 tỷ đồng.
Năm 2023, tổng thu hoạt động của trường đạt 86,98 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ chi thường xuyên từ Nhà nước/nhà đầu tư là 27,9 tỷ đồng; thu từ học phí, lệ phí từ người học đạt 45,22 tỷ đồng; thu từ khoa học và công nghệ đạt 5,08 tỷ đồng.
Đến năm 2024, tổng thu hoạt động của trường đạt 111,12 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ chi thường xuyên từ Nhà nước/nhà đầu tư là 28,96 tỷ đồng; thu từ học phí, lệ phí từ người học đạt 58,15 tỷ đồng; thu từ khoa học và công nghệ đạt 9,34 tỷ đồng.
Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên), năm 2022 có tổng thu hoạt động là 74,17 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ từ ngân sách là 26,76 tỷ đồng; thu từ học phí đạt 39,22 tỷ đồng; thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đạt 5,18 tỷ đồng.
Năm 2023, tổng thu hoạt động của trường đạt 60,93 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ chi thường xuyên từ Nhà nước/nhà đầu tư là 19,3 tỷ đồng; thu từ học phí, lệ phí từ người học đạt 31,37 tỷ đồng; thu từ khoa học và công nghệ đạt 7,08 tỷ đồng.
Đến năm 2024, tổng thu hoạt động của trường đạt 82,02 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ chi thường xuyên từ Nhà nước/nhà đầu tư là 16,16 tỷ đồng; thu từ học phí, lệ phí từ người học đạt 58,62 tỷ đồng; thu từ nghiên cứu khoa học và công nghệ đạt 4,5 tỷ đồng.
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang, năm 2022 có tổng thu hoạt động là 44 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ từ ngân sách là 23 tỷ đồng; thu từ học phí đạt 15 tỷ đồng; thu từ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ đạt 3 tỷ đồng.
Năm 2023, tổng thu hoạt động của trường là 47 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ từ ngân sách là 23 tỷ đồng; thu từ học phí đạt 16 tỷ đồng; thu từ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ đạt 3 tỷ đồng.
Khi đến năm 2024, tổng thu hoạt động của trường đạt 54,56 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ chi thường xuyên từ Nhà nước/nhà đầu tư là 26,35 tỷ đồng; thu từ học phí, lệ phí từ người học đạt 19,68 tỷ đồng; thu từ khoa học công nghệ đạt 3,16 tỷ đồng.
Còn Trường Đại học Lâm nghiệp, năm 2022, tổng thu hoạt động của trường là 153,837 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ từ ngân sách là 84,16 tỷ đồng; thu từ học phí đạt 50 tỷ đồng; thu từ nghiên cứu khoa học công nghệ và chuyển giao công nghệ đạt 13,786 tỷ đồng.
Năm 2023, tổng thu hoạt động của trường đạt 173,40 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ chi thường xuyên từ Nhà nước/nhà đầu tư là 94 tỷ đồng; thu từ học phí, lệ phí từ người học đạt 49 tỷ đồng; thu từ khoa học và công nghệ đạt 28,40 tỷ đồng.
Năm 2024, tổng thu hoạt động của trường đạt 204,16 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ chi thường xuyên từ Nhà nước/nhà đầu tư là 105 tỷ đồng; thu từ học phí, lệ phí từ người học đạt 65,46 tỷ đồng; thu từ khoa học và công nghệ đạt 28,40 tỷ đồng.
Như vậy, theo số liệu thống kê có thể thấy, Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế), Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) nguồn thu chủ yếu dựa vào học phí, lệ phí từ người học.
Trong khi đó, Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang và Trường Đại học Lâm nghiệp, nguồn thu chiếm tỷ trọng cao nhất đến từ hỗ trợ ngân sách. Nguồn thu từ học phí, lệ phí từ người học tăng dần qua các năm, nhưng không phải nguồn thu chiếm tỷ trọng chủ yếu.
Đáng chú ý, năm 2024, Trường Đại học Lâm nghiệp nhận được hỗ trợ từ nguồn ngân sách là 105 tỷ đồng, cao gấp gần 4 lần so với Trường Đại học Nông lâm (Đại học Huế) và cao hơn gấp khoảng 6,5 lần so với Trường Đại học Nông lâm (Đại học Thái Nguyên).
Chi cơ sở vật chất và dịch vụ có xu hướng tăng
Về mức chi cơ sở vật chất và dịch vụ, năm 2023, Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế) có tổng chi là 27,72 tỷ đồng. Đến năm 2024, tổng chi cơ sở vật chất và dịch vụ của trường là 41,57 tỷ đồng.
Năm 2024, nhà trường có 2 hạng mục đầu tư là nâng cấp tòa nhà trụ sở chính và nâng cấp phòng thí nghiệm tại tòa nhà trụ sở chính tại số 102 Phùng Hưng, phường Phú Xuân, thành phố Huế, với tổng kinh phí 7,8 tỷ đồng.
Tại Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên), theo thông báo về công khai tài chính năm 2022, nhà trường chi đầu tư xây dựng, sửa chữa trang thiết bị 1,66 tỷ đồng; chi mua sắm trang thiết bị 1,13 tỷ đồng.
Năm 2023, nhà trường có tổng chi cơ sở vật chất và dịch vụ là 7,26 tỷ đồng. Trường chi đầu tư xây dựng, sửa chữa trang thiết bị 1,754 tỷ đồng; chi mua sắm trang thiết bị 664 triệu đồng.
Năm 2024, tổng chi cơ sở vật chất và dịch vụ của trường là 12,37 tỷ đồng. Nhà trường chi đầu tư xây dựng, sửa chữa trang thiết bị 741 triệu đồng; chi mua sắm trang thiết bị 53 triệu đồng. Cũng trong năm 2024, nhà trường có 6 hạng mục cơ sở vật chất được đầu tư với tổng kinh phí 3,909 tỷ đồng.
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang, chi cơ sở vật chất và dịch vụ năm 2024 là 14,18 tỷ đồng.
Trước đó, năm 2023, chi đầu tư của trường là 3 tỷ đồng, trong đó, mua sắm tài sản, trang thiết bị là 900 triệu đồng; bảo dưỡng sửa chữa tài sản công là 2,1 tỷ đồng.
Trường Đại học Lâm nghiệp năm 2023 có tổng chi cơ sở vật chất là 73,2 tỷ đồng. Năm 2024, tổng chi cơ sở vật chất và dịch vụ của trường là 91,40 tỷ đồng.
Theo báo cáo thường niên năm 2025, Trường Đại học Lâm nghiệp có 2 hạng mục cơ sở vật chất được đầu tư đang triển khai là Dự án xây dựng giảng đường G4, G6 và hạ tầng kỹ thuật, cấp thoát nước; Dự án xây dựng ký túc xá cho sinh viên Campuchia, Lào tại khuôn viên cơ sở chính (Hà Nội) nhưng không nêu mức kinh phí cụ thể.
Nguồn ngân sách hỗ trợ và mức chi cơ sở vật chất và dịch vụ giữa các trường đang đào tạo khối ngành Nông - Lâm nghiệp cũng có sự chênh lệch đáng kể. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến việc mở rộng quy mô đào tạo.
Theo đó, Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế), năm học 2022-2023 có tổng quy mô đào tạo là 3.815 người, gồm 3.549 sinh viên hệ đại học chính quy, 231 thạc sĩ, 35 tiến sĩ.
Năm 2023, phóng viên không tìm thấy thông tin công khai về quy mô đào tạo của trường.
Năm 2024, tổng quy mô đào tạo của trường đạt 3.147 người, gồm 2.976 sinh viên hệ đại học chính quy, 116 thạc sĩ, 55 tiến sĩ.
Như vậy, quy mô đào tạo của trường có nhiều biến động. Năm 2024, quy mô đào tạo của trường giảm so với năm học 2022-2023 là 839 người. Trong đó, hệ đại học chính quy giảm 573 người (từ 3.549 xuống 2.976); thạc sĩ giảm 115 người (từ 231 xuống 116); tiến sĩ có sự tăng nhẹ từ 35 lên 55 nghiên cứu sinh (tăng 20 người).
Tại Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên), năm học 2022-2023, tổng quy mô đào tạo của trường là 1.874 người, gồm 1.333 sinh viên hệ đại học chính quy; 499 thạc sĩ; 42 tiến sĩ.
Năm học 2023-2024, tổng quy mô đào tạo của trường là 1.585 người, gồm 1.283 sinh viên hệ đại học chính quy; 266 thạc sĩ và 36 tiến sĩ.
Năm 2024, tổng quy mô đào tạo của trường là 2.008 người, gồm 1.690 sinh viên hệ đại học chính quy, 286 thạc sĩ và 32 tiến sĩ.
Quy mô đào tạo của Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) cũng có nhiều biến động. Năm học 2023-2024, quy mô đào tạo của trường giảm so với năm học 2022-2023, tuy nhiên đến năm 2024, quy mô của trường đã tăng trở lại. Trong 3 năm, từ năm 2022-2024, số lượng sinh viên hệ đại học chính quy tăng từ 1.333 lên 1.690 (tăng 357 sinh viên). Trong khi đó, số học viên thạc sĩ giảm từ 499 xuống 286 (giảm 213 học viên); tiến sĩ giảm từ 42 xuống 32 (giảm 10 nghiên cứu sinh).
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang, năm học 2022-2023, tổng quy mô đào tạo của trường là 1.057 người, đều sinh viên hệ đại học chính quy.
Năm học 2023-2024, tổng quy mô đào tạo của trường là 896 người, gồm 717 sinh viên hệ đại học chính quy, 179 thạc sĩ.
Năm 2024, tổng quy mô đào tạo của trường là 1.529 người, gồm 1.321 sinh viên, 208 thạc sĩ.
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang có sự biến động khá rõ qua các năm. Năm học 2023-2024, quy mô đào tạo của trường giảm so với năm học 2022-2023, từ 1.057 xuống còn 896 (giảm 161 người). Năm học này, nhà trường bắt đầu đào tạo chương trình thạc sĩ. Đến năm 2024, quy mô đào tạo của trường có sự tăng trở lại, với tổng quy mô là 1.529 người.
Trường Đại học Lâm nghiệp, năm học 2022-2023, tổng quy mô đào tạo của trường là 8.746 người, gồm 7.362 sinh viên hệ đại học chính quy; 1.343 thạc sĩ; 41 tiến sĩ.
Năm học 2023-2024, tổng quy mô đào tạo của trường là 7.927 người, gồm 6.719 sinh viên hệ đại học chính quy; 1.158 thạc sĩ và 50 tiến sĩ.
Năm 2024, tổng quy mô đào tạo của trường là 6.142 người, gồm 4.863 sinh viên hệ đại học chính quy; 1.223 thạc sĩ và 56 tiến sĩ.
Trường Đại học Lâm nghiệp có quy mô đào tạo giảm mạnh qua các năm, từ 8.746 xuống còn 6.142 (giảm 2.604 người). Trong đó, hệ đại học chính quy giảm từ 7.362 xuống còn 4.863 (giảm 2.499 sinh viên); thạc sĩ giảm từ 1.343 xuống còn 1.223 (giảm 120 học viên); tiến sĩ tăng nhẹ từ 41 lên 56 (tăng 15 tiến sĩ).
Sự chênh lệch về cơ sở vật chất giữa các trường đào tạo khối ngành Nông - Lâm nghiệp
Bên cạnh mức hỗ trợ từ Nhà nước và quy mô đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất và quỹ đất cũng là yếu tố quan trọng phản ánh năng lực đào tạo, nghiên cứu của các trường đào tạo khối ngành Nông - Lâm nghiệp.
Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế) có tổng diện tích đất phục vụ đào tạo là 727.899,1 m2; diện tích sàn là 34.906,0 m2. Nhà trường có trụ sở chính tại số 102 Phùng Hưng, phường Phú Xuân, thành phố Huế và có 4 cơ sở đào tạo, thí nghiệm, thực hành, nghiên cứu trên địa bàn thành phố Huế.
Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) có tổng diện tích đất phục vụ đào tạo là 2.325.866 m2; diện tích sàn là 44.499 m2. Trong đó, trụ sở chính tại Thái Nguyên, 1 cơ sở tại tỉnh Tuyên Quang, 1 cơ sở tại tỉnh Cao Bằng.
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang có tổng diện tích phục vụ đào tạo là 588.790 m2; diện tích sàn là 59.949 m2. Nhà trường có trụ sở chính tại Tổ dân phố Nông - Lâm, phường Bích Động, Thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, không có cơ sở, phân hiệu nào khác.
Trường Đại học Lâm nghiệp có tổng diện tích phục vụ đào tạo là 10.868.425 m2; diện tích sàn là 104.056 m2. Trụ sở chính đặt tại xã Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Ngoài ra, trường còn 1 phân hiệu tại tỉnh Đồng Nai; 1 khu thực nghiệm tại tỉnh Đồng Nai và 1 phân hiệu tại tỉnh Gia Lai.
Qua số liệu về diện tích và cơ sở đào tạo trên cho thấy, sự khác biệt về cơ sở vật chất giữa các trường đang đào tạo khối ngành Nông - Lâm nghiệp. Trong đó, Trường Đại học Lâm nghiệp có diện tích đất và diện tích sàn xây dựng lớn nhất, cùng nhiều phân hiệu và khu thực nghiệm.
Trong khi đó, Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang chỉ tập trung đào tạo tại trụ sở chính, không có cơ sở khác.
Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) và Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Huế) có nhiều cơ sở, phân bổ trên các tỉnh/thành để phục vụ đào tạo, nghiên cứu và thực hành.