Theo Quyết định số 1314/QĐ-BGDĐT ngày 13/5/2025 Chuẩn chương trình đào tạo về vi mạch bán dẫn ở trình độ đại học và thạc sĩ, có 38 mã ngành ở bậc đại học và 37 mã ngành ở bậc thạc sĩ được xác định có khả năng tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn.
Thực tế, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã chủ động mở ngành đào tạo về vi mạch bán dẫn. Bám sát khung Chuẩn mới được ban hành, hầu hết các trường đang khẩn trương xây dựng, hoàn thiện chương trình đào tạo, hướng tới đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa và nhu cầu thực tiễn của ngành công nghiệp bán dẫn.
Khẩn trương hoàn thiện chương trình, siết chuẩn đầu ra
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Quỳnh - Trưởng khoa Khoa học Vật liệu tiên tiến và Công nghệ Nano, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho biết, ở bậc đại học, nhà trường hiện có các chương trình đào tạo liên quan chặt chẽ đến lĩnh vực vi mạch bán dẫn như: Công nghệ vi mạch bán dẫn (Semiconductor and ICs Technology – SIC), tiền thân là ngành Vật lý kỹ thuật và điện tử; Khoa học vật liệu tiên tiến và Công nghệ nano; Công nghệ thông tin và Truyền thông; Khoa học dữ liệu; An toàn Thông tin; Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử; Kỹ thuật Điện và Năng lượng tái tạo.
Trong đó, Công nghệ vi mạch bán dẫn (SIC) là chương trình đào tạo tập trung trực tiếp vào lĩnh vực thiết kế, chế tạo, đóng gói và kiểm thử vi mạch bán dẫn.
“Chương trình SIC đã tuyển sinh khóa đầu tiên trong năm học 2024–2025 và năm tiếp theo 2025-2026 với tỉ lệ sinh viên nhập học thực tế đạt 100%.
Qua theo dõi 2 khóa tuyển sinh đầu tiên, tỷ lệ nhập học của ngành tương đối khả quan so với mặt bằng chung của các ngành công nghệ khác tại nhà trường. Điều này phản ánh sự quan tâm ngày càng lớn của học sinh và phụ huynh đối với lĩnh vực bán dẫn trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy chiến lược phát triển công nghiệp chip và điện tử công nghệ cao”, thầy Quỳnh cho biết.
Đặc biệt, số lượng sinh viên ngành Công nghệ vi mạch bán dẫn bỏ học từ năm nhất không đáng kể. Bởi, nhà trường đã và đang triển khai hiệu quả hệ thống đội ngũ cố vấn học tập. Hơn nữa, sinh viên được tham gia các hội thảo chuyên ngành, hoạt động nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và giao lưu với chuyên gia doanh nghiệp tại các sự kiện ngày hội việc làm tổ chức thường niên ngay từ năm đầu để tăng động lực học tập và định hướng nghề nghiệp sớm.
Về thực hiện Chuẩn chương trình đào tạo vi mạch bán dẫn, USTH đã rà soát toàn diện chương trình Công nghệ vi mạch bán dẫn theo các tiêu chí về chuẩn đầu ra, cấu trúc kiến thức, năng lực thực hành, ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp và mức độ gắn kết với doanh nghiệp. Kết quả cho thấy chương trình cơ bản đáp ứng các nhóm năng lực cốt lõi theo yêu cầu.
Cụ thể, chương trình bảo đảm nền tảng khoa học và kỹ thuật với các học phần về toán ứng dụng, vật lý bán dẫn, điện tử tương tự và số, khoa học vật liệu, vi điện tử, lập trình, hệ thống nhúng và xử lý tín hiệu. Ở khối kiến thức chuyên sâu, sinh viên được đào tạo về thiết kế và phát triển vi mạch thông qua các học phần như thiết kế IC số, FPGA, hệ thống nhúng, vi xử lý, MEMS và cảm biến, cùng các công cụ mô phỏng, thiết kế EDA, đáp ứng yêu cầu về thiết kế, kiểm thử và tối ưu hệ thống.
Chương trình cũng tích hợp các nội dung về công nghệ chế tạo và đóng gói bán dẫn, gồm công nghệ chế tạo, lắng đọng màng mỏng, nanofabrication, vật liệu và linh kiện bán dẫn, đóng gói và kiểm thử. Sinh viên được thực hành tại phòng thí nghiệm, phòng sạch của nhà trường và các đơn vị thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đáng chú ý, khoảng 15 tín chỉ được dành cho thực tập, đồ án và nghiên cứu, với yêu cầu bắt buộc sinh viên thực tập tại viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm hoặc doanh nghiệp công nghệ.
Chương trình SIC được xây dựng theo chuẩn Bologna châu Âu với thời gian đào tạo 3 năm, tổng khối lượng 180 tín chỉ ECTS và đào tạo hoàn toàn bằng tiếng Anh. Điều này là lợi thế lớn trong việc đáp ứng yêu cầu về năng lực ngoại ngữ và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế mà Chuẩn nhấn mạnh.
Ngoài việc đáp ứng chuẩn quốc gia, nhà trường còn phát triển chương trình theo hướng quốc tế hóa và nghiên cứu mạnh. Sinh viên được tiếp cận sớm với nghiên cứu khoa học thông qua các nhóm nghiên cứu về vật liệu bán dẫn, MEMS, cảm biến, vi điện tử và công nghệ nano của trường và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Chương trình cũng có sự tham gia giảng dạy và hỗ trợ học thuật của nhiều giáo sư chuyên gia quốc tế đến từ các quốc gia có nền khoa học công nghệ tiên tiến về Công nghệ vi mạch bán dẫn như Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và một số nước châu Âu.
“Việc nhanh chóng hoàn thiện đề án cấp vốn đầu tư để triển khai dự án xây dựng “Phòng thí nghiệm phục vụ đào tạo ngành công nghệ vi mạch bán dẫn chất lượng quốc tế”, bao gồm các cụm thiết bị cho thiết kế IC, chế tạo – kiểm thử và đóng gói bán dẫn thể hiện sự chuẩn bị sẵn sàng của nhà trường trong đầu tư cơ sở vật chất, đáp ứng yêu cầu thực hành chuyên sâu theo chuẩn đào tạo mới của Bộ.
Nhìn chung, chuẩn chương trình đào tạo Công nghệ vi mạch bán dẫn vừa đáp ứng các yêu cầu cốt lõi của Chuẩn, vừa phù hợp với định hướng quốc tế, nghiên cứu và liên kết chặt với hệ sinh thái khoa học công nghệ quốc gia”, thầy Quỳnh bày tỏ.
Theo tìm hiểu, Đại học Huế đang đẩy mạnh đầu tư các ngành khoa học mũi nhọn và công nghệ cao như công nghệ thông tin, khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của nền kinh tế số.
Tiến sĩ Lê Văn Tường Lân - Trưởng ban Ban Đào tạo và Công tác sinh viên, Đại học Huế cho biết, trường hiện có nhiều ngành tham gia đào tạo nhân lực bán dẫn, tập trung tại Trường Đại học Sư phạm; Trường Đại học Khoa học và Khoa Kỹ thuật và Công nghệ, với các ngành như Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông, Kỹ thuật điện - điện tử, Vật lý kỹ thuật, Vật lý học,...
"Năm 2025, Đại học Huế tuyển gần 15.000 sinh viên, đạt hơn 98% chỉ tiêu; một số ngành như Khoa học dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo, Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa vượt 100% chỉ tiêu. Đáng chú ý, chương trình Công nghệ thiết kế vi mạch lần đầu tuyển sinh đã đạt 100% (60/60), điểm chuẩn 24,05 điểm, cao nhất khối ngành công nghệ tại Đại học Huế.
Hiện toàn Đại học Huế có hơn 4.000 sinh viên theo học 11 ngành đại học, 5 ngành thạc sĩ và 3 ngành tiến sĩ liên quan vi mạch bán dẫn", thầy Lân chia sẻ.
Sau khi Bộ ban hành chuẩn, Đại học Huế đã yêu cầu các đơn vị liên quan rà soát toàn bộ chương trình hiện có, đối chiếu với các tiêu chí về chuẩn đầu ra, khối lượng kiến thức cốt lõi và năng lực thực hành, thiết kế, vận hành hệ thống vi mạch để điều chỉnh phù hợp với khung quy định.
Trong quá trình triển khai, nhà trường đặt ra yêu cầu vừa tuân thủ chuẩn chung, vừa phát huy thế mạnh riêng của từng đơn vị đào tạo. Chương trình được thiết kế theo hướng tăng cường thực hành, tích hợp liên ngành và gắn với nhu cầu doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng các hướng chuyên sâu dựa trên năng lực giảng viên, điều kiện phòng thí nghiệm và định hướng phát triển của khu vực miền Trung.
Đáng chú ý, các học phần được xây dựng theo hướng ứng dụng cao, có tham vấn trực tiếp từ doanh nghiệp và đối chiếu với chuẩn đào tạo của các cơ sở mạnh về thiết kế vi mạch trong khu vực. Tỷ lệ tín chỉ dành cho thực hành, mô phỏng và thí nghiệm hiện đạt 30–35% và dự kiến nâng lên 40% theo định hướng của Bộ, nhằm hướng tới đào tạo nguồn nhân lực có thể làm việc ngay trong môi trường doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp.
Tăng cường kết nối doanh nghiệp trong đào tạo vi mạch bán dẫn
Hợp tác với doanh nghiệp được xác định là yếu tố quan trọng đào tạo nhân lực lĩnh vực vi mạch bán dẫn. Thầy Lân cho biết, các đơn vị thành viên Đại học Huế đã tăng cường kết nối với doanh nghiệp công nghệ, sản xuất điện tử, trung tâm nghiên cứu trong và ngoài nước để triển khai các hoạt động hợp tác thực chất, từ góp ý xây dựng chương trình, tổ chức seminar, khóa đào tạo ngắn hạn đến hỗ trợ thực tập, trải nghiệm tại doanh nghiệp. Đồng thời, chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn đồ án, nghiên cứu ứng dụng và phối hợp phát triển phòng thí nghiệm, giúp sinh viên sớm tiếp cận môi trường làm việc thực tế.
"Từ năm 2024, Đại học Huế thiết lập hợp tác với các doanh nghiệp bán dẫn như Marvell Technology và DreamBig Semiconductor, tổ chức thường xuyên các hội thảo, tọa đàm, chương trình đào tạo chuyên đề về thiết kế, kiểm thử IP vi mạch. Đặc biệt, mô hình đào tạo theo đặt hàng lần đầu được triển khai khi DreamBig Semiconductor tuyển chọn 30–40 sinh viên xuất sắc tham gia đào tạo thực tế ngay tại trường", thầy Lân chia sẻ.
Bên cạnh đó, mạng lưới đối tác gồm Samsung, Synopsys, Intel, FPT, Viettel, Mobifone, LG Innotek, Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc góp phần hỗ trợ xây dựng chương trình đào tạo liên quan đến bán dẫn, vật liệu thông minh, trí tuệ nhân tạo; đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên tham quan, thực tập, giao lưu học thuật và tiếp cận cơ hội việc làm trong ngành. Nhờ hệ thống hợp tác này, tỷ lệ sinh viên khối kỹ thuật, công nghệ của Đại học Huế có việc làm trong vòng 6 tháng sau tốt nghiệp luôn trên 90%.
Còn tại USTH, trong hai năm qua, nhà trường đẩy mạnh tìm kiếm đối tác quốc tế, học hỏi mô hình hợp tác trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp, đặc biệt tại Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc).
Nhà trường phối hợp với Hiệp hội Công nghệ Bán dẫn Hàn Quốc tổ chức hội thảo về thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và công nghiệp, đồng thời thúc đẩy hợp tác với các viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, các đối tác quốc tế trong lĩnh vực vi điện tử, MEMS, FPGA, vật liệu bán dẫn và hệ thống nhúng. Bên cạnh đó, nhà trường mở rộng hợp tác với doanh nghiệp như HANA Micron, Amkor, Wonik, PCEM… trong đào tạo, thực tập, chuyển giao công nghệ và kết nối chuyên gia.
Cần thêm học bổng, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ nghiên cứu gắn với cơ hội việc làm
Các chủ trương, chính sách của Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo về phát triển nguồn nhân lực bán dẫn đang tạo lực đẩy rõ rệt đối với các cơ sở đào tạo.
Đại học Huế đã chủ động triển khai các chính sách của Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực vi mạch bán dẫn thông qua đẩy mạnh truyền thông tuyển sinh, tư vấn hướng nghiệp và hỗ trợ người học tiếp cận các chương trình học bổng, hỗ trợ học tập theo quy định.
Bên cạnh đó, các đơn vị đào tạo xây dựng thêm nhiều cơ chế hỗ trợ riêng như học bổng khuyến khích học tập, hỗ trợ nghiên cứu khoa học sinh viên, đồng thời kết nối doanh nghiệp để cấp học bổng tài trợ, tạo điều kiện thực tập và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp.
Ngoài yếu tố tài chính, nhà trường chú trọng phát triển môi trường học tập, nghiên cứu hiện đại, hình thành các câu lạc bộ học thuật, nhóm nghiên cứu và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, qua đó tạo động lực để sinh viên theo đuổi lâu dài các lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là vi mạch bán dẫn.
“Phát triển nhân lực vi mạch bán dẫn có vai trò quan trọng trong chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời là nền tảng để Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Đại học Huế đang đầu tư mạnh cho hạ tầng đào tạo, nổi bật là Phòng thí nghiệm vi mạch bán dẫn trị giá hơn 110 tỷ đồng, với các khu thiết kế, đo kiểm, FPGA-SoC và nghiên cứu vật liệu; đồng thời dự kiến trang bị các công cụ EDA như Cadence, Synopsys, Vivado, ModelSim để tiệm cận môi trường doanh nghiệp.
Tuy nhiên, do yêu cầu nguồn lực lớn, Nhà nước cần tăng đầu tư trọng điểm, hỗ trợ phát triển đội ngũ và thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp. Cùng với đó, cần có thêm học bổng, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ nghiên cứu gắn với cơ hội việc làm và đẩy mạnh định hướng nghề nghiệp để thu hút thí sinh giỏi vào lĩnh vực này”, thầy Lân kiến nghị.
Còn theo thầy Quỳnh, nhà trường hiện tích cực cập nhật và triển khai các cơ chế hỗ trợ người học theo định hướng của Chương trình 1017/QĐ-TTg, đồng thời chủ động xây dựng thêm chính sách riêng nhằm thu hút sinh viên theo học các ngành công nghệ cao.
Đáng chú ý, đề án đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm phục vụ đào tạo vi mạch bán dẫn đã được phê duyệt, hướng tới xây dựng môi trường đào tạo tiệm cận thực tế sản xuất và nghiên cứu hiện đại. Tuy nhiên, việc bố trí và giải ngân kinh phí cần được triển khai nhanh, kịp thời hơn để các cơ sở đào tạo sớm hoàn thiện điều kiện vật chất, bảo đảm triển khai chương trình theo đúng yêu cầu đã công bố.
"Trong bối cảnh bán dẫn trở thành “hạ tầng cốt lõi” của kinh tế số, phục vụ các lĩnh vực như AI, HPC, 5G/6G, robot, y tế và quốc phòng, nhiều quốc gia đã đầu tư quy mô lớn và coi đây là ưu tiên hàng đầu, khiến cạnh tranh chuyển sang tầm năng lực quốc gia.
Với Việt Nam, đào tạo bán dẫn đòi hỏi đầu tư lớn, từ đội ngũ giảng viên đến hệ thống phòng sạch, thiết bị đo kiểm và phần mềm thiết kế vi mạch chuyên dụng”, thầy Quỳnh chia sẻ.
Do đó, cần các chính sách đủ mạnh và dài hạn, như tập trung đầu tư các trung tâm, phòng thí nghiệm dùng chung đạt chuẩn quốc tế; hỗ trợ các trường tiếp cận phần mềm thiết kế qua cơ chế cấp phép quốc gia hoặc hợp tác doanh nghiệp (như việc USTH tham gia chương trình Cadence University); xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia quốc tế.
Đồng thời, Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, kết nối đại học – doanh nghiệp và triển khai cơ chế “đặt hàng” đào tạo nhân lực gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp quốc gia.
Được biết, năm học 2026–2027, USTH dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh ngành Công nghệ vi mạch bán dẫn 125 sinh viên. Theo kế hoạch phát triển trung hạn, quy mô đào tạo sẽ tiếp tục được mở rộng từ 15–20% mỗi năm dựa trên phân tích đánh giá nhu cầu qua số liệu tuyển sinh năm trước, và tiến độ đầu tư mở rộng cơ sở vật chất của trường từ nguồn vốn Chính phủ.