Trường đại học trong nước hay phân hiệu trường nước ngoài ở VN đều phải chung “sân chơi chất lượng”

02/10/2026 06:20
Tường San

GDVN -Theo chuyên gia, trường đại học trong nước hay phân hiệu trường nước ngoài đều phải chịu một “sân chơi chất lượng” nghiêm túc và minh bạch. Trường nào không đạt chuẩn phải bị chấn chỉnh, hạn chế tuyển sinh hoặc đình chỉ, không phân biệt nguồn gốc đầu tư.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo Nghị định quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục để lấy ý kiến.

Đối với giáo dục đại học, dự thảo quy định ba hình thức liên kết gồm: liên kết đào tạo để cấp văn bằng, chứng chỉ; liên kết thành lập viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm trọng điểm; và phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam.

Đáng chú ý, so với quy định hiện hành, dự thảo Nghị định quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục đã bỏ quy định về ngưỡng vốn đầu tư tối thiểu đối với phân hiệu cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam. Thay vào đó, dự thảo chỉ nêu “Điều kiện đầu tư; trình tự, thủ tục đầu tư, thành lập, cho phép hoạt động, đình chỉ hoạt động, giải thể đối với cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài và phân hiệu của cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, Nghị định quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động của cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục thường xuyên và cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và Nghị định quy định điều kiện đầu tư và hoạt động trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và kiểm định chất lượng giáo dục”.

Cần làm rõ bộ tiêu chí đầu tư theo hướng định lượng và kiểm chứng được

Bàn về điểm mới trên, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Quốc Luyến – nguyên Giám đốc điều hành Trường Đại học Tân Tạo thông tin, Nghị định 124/2024/NĐ-CP quy định dự án thành lập phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam phải có vốn đầu tư tối thiểu 500 tỷ đồng, chưa bao gồm chi phí sử dụng đất; tại thời điểm thẩm định, giá trị đầu tư thực hiện phải trên 250 tỷ đồng. Thầy Luyến đánh giá, đây là ngưỡng khá cao, có thể làm giảm sức hấp dẫn của Việt Nam đối với nhiều trường đại học có uy tín, có thế mạnh chuyên môn và mô hình đào tạo hiện đại nhưng không nhất thiết triển khai theo cách đầu tư cơ sở vật chất quy mô lớn ngay từ đầu.

Trong bối cảnh giáo dục số, đào tạo kết hợp, phòng thí nghiệm dùng chung, hợp tác doanh nghiệp và mô hình đại học tinh gọn phát triển mạnh, điều Việt Nam cần hướng tới là thu hút các trường có danh tiếng, có năng lực đào tạo và nghiên cứu thật sự, có cam kết lâu dài, đồng thời tạo điều kiện để người học Việt Nam tiếp cận chương trình quốc tế với chi phí hợp lý hơn so với du học toàn phần.

Chính vì vậy, đối với việc dự kiến bỏ quy định về ngưỡng vốn đầu tư, theo thầy Luyến, cần hiểu đúng rằng bỏ hoặc giảm điều kiện về một ngưỡng vốn đầu tư cứng không đồng nghĩa với bỏ quản lý chất lượng. Nhà nước hoàn toàn có thể thay đổi trọng tâm quản lý: từ kiểm soát chủ yếu bằng “đầu vào tài chính” sang kiểm soát bằng “đầu ra chất lượng”, năng lực vận hành và trách nhiệm giải trình.

557377418-1231279842371142-3089954059755227021-n.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Theo thầy Luyến, vốn đầu tư rất quan trọng, song không phải là tiêu chí duy nhất, vậy nên, để đảm bảo được chất lượng khi bỏ quy định cứng về ngưỡng vốn đầu tư, cần xây dựng ít nhất năm nhóm cơ chế.

Thứ nhất, thẩm định nghiêm túc năng lực và uy tín của cơ sở giáo dục mẹ. Cần xem xét vị thế học thuật, kinh nghiệm đào tạo quốc tế, kết quả kiểm định, năng lực nghiên cứu, quản trị đại học, uy tín của văn bằng và khả năng duy trì hoạt động dài hạn. Điều quan trọng là không nên chỉ dựa vào thứ hạng; cần đánh giá toàn diện, có phân nhóm theo ngành đào tạo và sứ mạng của từng cơ sở.

Thứ hai, áp dụng chuẩn chất lượng tương đương đối với chương trình đào tạo. Phân hiệu tại Việt Nam phải công khai chương trình, chuẩn đầu ra, khối lượng học tập, điều kiện tốt nghiệp, phương thức đánh giá, trình độ giảng viên, quy mô lớp học và các nguồn lực hỗ trợ người học. Chuẩn chất lượng của chương trình tại Việt Nam cần tương xứng với chương trình do trường mẹ cấp hoặc công nhận.

Thứ ba, kiểm định độc lập và hậu kiểm định kỳ. Cơ chế này cần được coi là trọng tâm. Sau khi được phép hoạt động, phân hiệu phải chịu đánh giá định kỳ bởi tổ chức kiểm định độc lập, công khai kết quả và có biện pháp khắc phục nếu không đáp ứng chuẩn. Hướng quản lý chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm cũng phù hợp với tinh thần cải cách thủ tục và mở rộng hợp tác đầu tư giáo dục mà dự thảo đang hướng tới.

Thứ tư, minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình với người học. Người học cần biết rõ văn bằng do ai cấp, chương trình có được công nhận tại cơ sở mẹ hay không, tỷ lệ giảng viên cơ hữu, học phí toàn khóa, chi phí phát sinh, chính sách hoàn phí, cơ hội chuyển tiếp, tỷ lệ sinh viên có việc làm và tình trạng kiểm định. Khi thông tin đầy đủ, người học và xã hội sẽ trở thành một kênh giám sát rất quan trọng.

Thứ năm, cơ chế bảo vệ quyền lợi người học và xử lý rủi ro. Phân hiệu cần có cam kết tài chính hoặc quỹ bảo đảm để bảo vệ sinh viên nếu chương trình bị đình chỉ, cơ sở ngừng hoạt động hoặc không bảo đảm chất lượng. Khi đó, cơ quan quản lý phải có phương án chuyển tiếp học tập, công nhận kết quả đã tích lũy hoặc hoàn trả các khoản học phí theo quy định.

“Trường đại học trong nước hay phân hiệu của trường đại học nước ngoài đều phải chịu một “sân chơi chất lượng” nghiêm túc và minh bạch. Cơ sở nào không đạt chuẩn phải bị chấn chỉnh, hạn chế tuyển sinh hoặc đình chỉ, không phân biệt nguồn gốc đầu tư”, thầy Luyến khẳng định.

Cũng theo thầy Luyến, không nên duy trì một con số vốn đầu tư tối thiểu mang tính cứng nhắc cho mọi trường hợp. Tuy nhiên, thay cho ngưỡng vốn cố định, quy định cần làm rõ bộ tiêu chí đầu tư theo hướng định lượng được, kiểm chứng được và gắn trực tiếp với chất lượng đào tạo.

Cụ thể, có thể thiết kế bộ tiêu chí theo các nhóm sau:

tieu-chi1.png

Về năng lực tài chính, nên thay cách tiếp cận “một mức vốn tối thiểu áp dụng chung” bằng yêu cầu về mức đầu tư phù hợp với quy mô tuyển sinh, ngành đào tạo, lộ trình phát triển và mức độ rủi ro của từng dự án.

Một điểm rất quan trọng là cần tách bạch giữa vốn đầu tư ban đầu và năng lực duy trì chất lượng trong toàn bộ vòng đời hoạt động. Nhiều cơ sở có thể đầu tư ban đầu tương đối lớn, nhưng nếu không có mô hình tài chính bền vững, không có đội ngũ học thuật ổn định và không có khả năng thu hút người học thì vẫn tiềm ẩn rủi ro. Vì vậy, hồ sơ phải có kế hoạch tài chính trung hạn, dự báo tuyển sinh thận trọng, cơ chế bảo đảm quyền lợi sinh viên và phương án xử lý nếu không đạt quy mô tối thiểu.

Trong khi đó, theo Tiến sĩ Lê Xuân Trường – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, việc bỏ ngưỡng vốn đầu tư cần đi kèm với các yêu cầu chặt chẽ về bảo đảm chất lượng.

Theo thầy Trường, trước hết, chương trình đào tạo triển khai tại phân hiệu phải được chính cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tổ chức và chịu trách nhiệm về chất lượng. Cùng với đó, cần bảo đảm chất lượng ở cấp cơ sở và chương trình thông qua hoạt động kiểm định của các tổ chức có uy tín. Uy tín, chất lượng của trường nước ngoài cũng cần được xem xét dựa trên các bảng xếp hạng đại học có uy tín trên thế giới và các tiêu chí đánh giá phù hợp.

Bên cạnh yêu cầu đối với cơ sở giáo dục nước ngoài, phân hiệu hoạt động tại Việt Nam cũng phải đáp ứng các quy định hiện hành về điều kiện bảo đảm chất lượng. Theo thầy Trường, hằng năm trước khi tuyển sinh, các cơ sở giáo dục đại học phải công khai các điều kiện bảo đảm chất lượng trong đề án tuyển sinh, trong đó có thông tin về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và các điều kiện liên quan để thí sinh, phụ huynh có cơ sở lựa chọn.

Do đó, các cơ sở giáo dục đại học hoạt động tại Việt Nam, bao gồm phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài, cần thực hiện đầy đủ yêu cầu này, qua đó bảo đảm trách nhiệm giải trình với người học và xã hội.

“Trên thực tế, một cơ sở giáo dục đại học nước ngoài muốn mở phân hiệu tại Việt Nam tất yếu phải có tiềm lực, hệ thống phòng thí nghiệm và phòng thực hành đáp ứng yêu cầu đào tạo. Quy định này sẽ góp phần khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học nước ngoài có uy tín mở phân hiệu tại Việt Nam, qua đó thúc đẩy giáo dục đại học phát triển, tạo thêm cạnh tranh và góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam.

Song, quá trình triển khai cần có những ràng buộc và phải được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định hiện hành của Việt Nam”, thầy Trường .

Cần được giám sát chặt chẽ hơn so với liên kết đào tạo thông thường

Cùng bàn về vấn đề trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Song - Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định cho rằng, ưu điểm cốt lõi của dự thảo là chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, công khai và hậu kiểm. Theo thầy, hướng đi này phù hợp với giáo dục đại học, nhưng chỉ hiệu quả khi các trường chủ động thẩm định đối tác và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Theo thầy Song, bỏ điều kiện kinh doanh không đồng nghĩa với hạ chuẩn chất lượng. Khi chuyển sang hậu kiểm, cơ sở giáo dục phải chịu trách nhiệm trong suốt quá trình hoạt động, từ bảo đảm tính hợp pháp, được kiểm định hoặc công nhận bởi cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại đến trách nhiệm đối với hoạt động liên kết.

Dự thảo cũng thiết lập cơ chế xử lý rủi ro và chế tài. Hợp đồng liên kết phải có phương án duy trì hoạt động nếu hợp tác chấm dứt trước hạn; người học được công khai học phí, quyền lợi và phương án xử lý khi chương trình bị điều chỉnh, tạm dừng hoặc chấm dứt. Trường hợp công khai thông tin không đầy đủ, báo cáo chậm hoặc có phản ánh có căn cứ, cơ sở có thể bị tăng cường giám sát, yêu cầu khắc phục, thậm chí xem xét đình chỉ tuyển sinh hoặc hoạt động.

465554226-955453049950410-6421325056902167666-n.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Trường Đại học Gia Định

Thầy Song cho rằng, cơ chế này phù hợp với yêu cầu tự chủ đại học, đồng thời tạo điều kiện thu hút tri thức, công nghệ và mô hình quản trị quốc tế, nhất là ở những ngành chiến lược mà các trường Việt Nam chưa có điều kiện đào tạo.

Đối với người học, việc mở rộng hợp tác có thể mang đến thêm lựa chọn về ngành nghề, trình độ và phương thức đào tạo ngay tại Việt Nam, thay vì phải ra nước ngoài học tập với chi phí cao. Cùng với đó, yêu cầu công khai thông tin giúp sinh viên có cơ sở đánh giá quyền lợi và rủi ro trước khi lựa chọn.

Theo dự thảo, thông tin phải được cập nhật trong thời hạn 10 ngày làm việc và công khai ngay khi có thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người học. Qua đó, sinh viên có thêm căn cứ để so sánh chương trình, lựa chọn và bảo vệ quyền lợi trong quá trình học tập.

Mặt khác, theo thầy Song, việc thành lập phân hiệu tại Việt Nam gần như tương đương với việc thành lập một trường đại học con, do đó cần được giám sát chặt chẽ hơn so với liên kết đào tạo thông thường.

Dự thảo không quy định trực tiếp ngưỡng vốn hay ngưỡng xếp hạng đối với phân hiệu mà dẫn chiếu sang pháp luật về đầu tư và các nghị định chuyên ngành. Cách tiếp cận này có thể hạn chế chồng chéo, nhưng cần hướng dẫn rõ để nhà đầu tư, nhà trường và cơ quan thẩm định thống nhất cách áp dụng.

Thầy Song cho rằng, với các trường đại học Việt Nam, uy tín của đối tác nước ngoài cần được thẩm định trên ba phương diện: tư cách pháp lý, chất lượng chương trình liên kết và năng lực triển khai thực tế. Hồ sơ pháp lý, báo cáo kiểm định cần được đối chiếu với các nguồn chính thức tại nước sở tại.

Xếp hạng đại học chỉ nên được xem là thông tin bổ sung, bởi mỗi bảng xếp hạng có tiêu chí riêng và thứ hạng của trường không phản ánh đầy đủ chất lượng từng chương trình. Một trường có thứ hạng cao vẫn có thể triển khai tại Việt Nam một chương trình mới, hạn chế về thực hành hoặc chưa được công nhận nghề nghiệp.

Vì vậy, cần thẩm định trực tiếp chương trình đào tạo, từ việc chương trình có được phép đào tạo tại nước sở tại, thời gian triển khai, đơn vị cấp bằng, giá trị văn bằng đến kiểm định và công nhận nghề nghiệp. Với các ngành như y, dược, kỹ thuật, luật và đào tạo giáo viên, yêu cầu này càng cần được làm rõ. Bên cạnh đó là chuẩn đầu vào, đầu ra, tỷ lệ tín chỉ do phía nước ngoài giảng dạy và điều kiện công nhận văn bằng tại Việt Nam.

“Tôi ủng hộ hướng mở cửa có chọn lọc của dự thảo. Song, để vừa thuận lợi vừa công bằng với các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, nên áp dụng cùng một thước đo về công khai, báo cáo và hậu kiểm đối với cơ sở trong nước và phân hiệu nước ngoài. Kết quả kiểm tra, kiểm định cần được công khai ở mức phù hợp để người học và xã hội giám sát”, thầy Song chia sẻ.

Theo thầy Song, hợp tác quốc tế cũng không nên chỉ dừng ở việc mở chương trình cấp bằng hay khai thác thương hiệu tuyển sinh. Các trường Việt Nam có thể liên kết thành lập viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo hoặc phòng thí nghiệm trọng điểm ngay trong khuôn viên trường. Qua đó, nhà trường có thể chia sẻ thiết bị, tiếp nhận phương pháp quản trị học thuật và nâng cao năng lực đội ngũ.

Để chủ động trong quá trình hợp tác, thầy Song đề xuất ba giải pháp gồm:

Xây dựng quy trình nội bộ về thẩm định, phê duyệt liên kết và phân định rõ trách nhiệm của hiệu trưởng, hội đồng trường, khoa chuyên môn, đơn vị bảo đảm chất lượng; Xây dựng bộ tiêu chí tối thiểu cho từng loại hình hợp tác, gồm pháp lý, kiểm định, chương trình, đội ngũ, nghiên cứu, cơ sở vật chất và bảo vệ quyền lợi người học và lưu đầy đủ biên bản thẩm định, thời điểm tra cứu, nguồn đối chiếu và ý kiến chuyên môn để làm căn cứ quyết định, đồng thời phục vụ giải trình khi hoạt động hợp tác được kiểm tra, hậu kiểm.

Còn theo Tiến sĩ Phạm Quốc Luyến, cần xác định rõ mục tiêu chính sách: Thứ nhất, Việt Nam không chỉ cần thu hút vốn đầu tư vào giáo dục, mà quan trọng hơn là thu hút đại học có chất lượng, thương hiệu, năng lực nghiên cứu, năng lực đổi mới sáng tạo và cam kết phát triển lâu dài tại Việt Nam. Vì vậy, chính sách ưu đãi và thủ tục hành chính cần hướng tới việc lựa chọn đúng đối tác, thay vì chỉ ưu tiên các dự án có quy mô vốn lớn.

Thứ hai, nên nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và châu Á đã thu hút thành công các cơ sở giáo dục đại học quốc tế. Điểm đáng học hỏi không đơn thuần là ưu đãi về đất đai hay thuế, mà là cách họ tạo ra một hệ sinh thái đủ hấp dẫn: thủ tục minh bạch, tiến độ xử lý hồ sơ rõ ràng, chính sách visa và lao động phù hợp cho giảng viên quốc tế, môi trường nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, sự kết nối giữa đại học với doanh nghiệp và nhu cầu nhân lực quốc gia.

Thứ ba, cần thiết kế cơ chế “một cửa” hoặc đầu mối điều phối rõ ràng cho các dự án đại học quốc tế. Hiện nay, nhà đầu tư giáo dục có thể phải làm việc với nhiều cơ quan về đầu tư, đất đai, xây dựng, giáo dục, lao động, xuất nhập cảnh và địa phương. Nếu thủ tục kéo dài hoặc thiếu nhất quán, các trường có uy tín sẽ cân nhắc lựa chọn quốc gia khác. Cải cách thủ tục cần đi đôi với bảo đảm nguyên tắc minh bạch, không hạ chuẩn chất lượng.

Thứ tư, cần có cơ chế ưu tiên có điều kiện cho các trường có chất lượng cao. Ví dụ, có thể rút gọn một số bước thủ tục đối với trường có kiểm định quốc tế đáng tin cậy, có kinh nghiệm vận hành cơ sở ở nước ngoài, có lĩnh vực đào tạo Việt Nam đang cần hoặc có cam kết đầu tư nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo giảng viên và cấp học bổng. Tuy nhiên, ưu tiên thủ tục không có nghĩa là miễn trừ kiểm định hay trách nhiệm giải trình.

Thứ năm, phải đặt lợi ích của người học ở vị trí trung tâm. Một mục tiêu rất thiết thực của việc thu hút đại học nước ngoài là giúp sinh viên có thể theo học chương trình quốc tế ngay tại Việt Nam với chi phí hợp lý hơn so với du học toàn phần. Do đó, cơ sở nước ngoài cần công khai học phí toàn khóa, các khoản thu bổ sung, điều kiện nhận học bổng, chính sách hỗ trợ tài chính, cơ hội chuyển tiếp và cơ chế bảo vệ người học.

Thứ sáu, cần khuyến khích các mô hình hợp tác có chiều sâu thay vì chỉ “nhập khẩu thương hiệu”. Phân hiệu đại học nước ngoài nên có trách nhiệm kết nối với đại học Việt Nam, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, địa phương và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Hợp tác có thể bao gồm đồng xây dựng chương trình, phát triển phòng thí nghiệm, trao đổi giảng viên, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, thực tập doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ.

Tường San