Theo khoản 5a, Điều 35, Nghị định số 124/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2018/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục, dự án đầu tư thành lập phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam phải có vốn đầu tư tối thiểu là 500 tỷ đồng (không bao gồm các chi phí sử dụng đất). Đến thời điểm thẩm định cho phép thành lập phân hiệu trường đại học, giá trị đầu tư phải thực hiện được trên 250 tỷ đồng.
Tuy nhiên, theo Điều 25 về liên kết thành lập phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam của dự thảo Nghị định quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục được công bố vào tháng 9/2026 không còn quy định cụ thể về vốn đầu tư này; chỉ nêu thực hiện theo điểm a khoản 4 Điều 3 của dự thảo.
Cụ thể dự thảo nêu: “Điều kiện đầu tư; trình tự, thủ tục đầu tư, thành lập, cho phép hoạt động, đình chỉ hoạt động, giải thể đối với cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài và phân hiệu của cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, Nghị định quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động của cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục thường xuyên và cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và Nghị định quy định điều kiện đầu tư và hoạt động trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và kiểm định chất lượng giáo dục”.
Theo chuyên gia, lãnh đạo tại một số cơ sở giáo dục đại học, khi bỏ điều kiện kinh doanh như vậy, cần phải bảo đảm những tiêu chuẩn, tiêu chí đầu tư một cách tường minh; đồng thời bảo đảm công bằng với những cơ sở giáo dục đại học trong nước.
Cần kiểm soát hoạt động đào tạo bằng công khai và kiểm định định kỳ
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Thái Doãn Thanh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ, việc bỏ điều kiện kinh doanh không đồng nghĩa phân hiệu của cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam được miễn điều kiện thành lập, điều kiện hoạt động giáo dục hoặc nghĩa vụ tuân thủ pháp luật Việt Nam. Do đó, cơ quan soạn thảo văn bản dự thảo nên có bảng đối chiếu từng điều kiện hiện hành với quy định dự kiến giữ lại, sửa đổi hoặc bãi bỏ. Nếu không làm rõ, người đọc có thể hiểu nhầm rằng nhà đầu tư được tuyển sinh ngay khi đăng ký hiện diện.
Theo thầy Thanh, cơ chế kiểm soát chất lượng đối với những phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam phải bắt đầu từ trường mẹ. Trước khi cho phép phân hiệu hoạt động, chúng ta cần xác minh trường mẹ được thành lập hợp pháp, đang được phép đào tạo và cấp văn bằng tương ứng tại nước sở tại; chương trình dự kiến triển khai có tư cách pháp lý rõ ràng; cơ chế kiểm định hoặc bảo đảm chất lượng đang có hiệu lực. Trường mẹ phải ký cam kết chịu trách nhiệm cuối cùng về chuẩn đầu ra, học thuật, hồ sơ học tập, văn bằng và phương án hoàn tất khóa học nếu phân hiệu ngừng tuyển sinh. Không nên chấp nhận mô hình chỉ cho mượn tên thương hiệu nhưng phần lớn hoạt động học thuật do một bên khác quyết định.
Bên cạnh đó, phải thực hiện đánh giá tại địa điểm đào tạo ở Việt Nam, theo từng ngành và quy mô tuyển sinh: giảng viên cơ hữu và thỉnh giảng; năng lực ngoại ngữ phục vụ giảng dạy, học tập; phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, thư viện số; hệ thống đánh giá và bảo vệ dữ liệu người học. Một chương trình về thực phẩm, kỹ thuật hay sức khỏe đòi hỏi điều kiện thực hành khác hẳn chương trình chủ yếu học trên lớp. Quy mô tuyển sinh phải gắn với nguồn lực đã được xác minh, không dựa vào cam kết chung chung. Với ngành thuộc diện quản lý chuyên ngành, phải thực hiện đầy đủ yêu cầu tương ứng trước khi tuyển sinh.
Sau khi các phân hiệu này đi vào hoạt động, cần kiểm soát bằng công khai và kiểm định định kỳ. Phân hiệu phải công bố các điều kiện bằng tiếng Việt để dễ tiếp cận; bao gồm tư cách trường mẹ và phân hiệu, chương trình, nơi cấp bằng, giá trị và khả năng sử dụng văn bằng, điều kiện đầu vào, học phí toàn khóa và nguyên tắc điều chỉnh, tỷ lệ giảng viên, kết quả kiểm định, tỷ lệ tốt nghiệp, việc làm và cơ chế khiếu nại. Báo cáo thường niên và dữ liệu kiểm tra nên theo cùng một bộ chỉ số áp dụng cho cơ sở trong nước và nước ngoài, có xác minh độc lập, thanh tra theo rủi ro và chế tài tăng dần đến đình chỉ tuyển sinh hoặc chấm dứt hoạt động.
“Chúng ta phải làm sao để đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các phân hiệu của các cơ sở giáo dục đại học nước ngoài với các cơ sở giáo dục đại học trong nước. Công bằng, bình đẳng ở đây là cùng đạt các chuẩn cốt lõi về chất lượng, bảo vệ người học, minh bạch tài chính và nghĩa vụ công; không nhất thiết dùng một hồ sơ hay một mức vốn máy móc cho mọi mô hình bởi phân hiệu của trường mẹ ở nước ngoài có đặc thù pháp lý khác một trường đại học Việt Nam độc lập.
Cơ quan quản lý có thể chấp nhận hình thức minh chứng tương đương, nhưng không được tạo vùng miễn trừ về chất lượng hoặc ưu đãi thiếu căn cứ cho riêng một nhóm. Đặc biệt, người học cần được bảo đảm quyền tiếp tục học, chuyển tiếp tín chỉ, hoàn trả phần học phí chưa sử dụng và tiếp cận bảng điểm khi chương trình bị gián đoạn”, thầy Thanh nhấn mạnh.
Bỏ điều kiện kinh doanh không nên đồng nghĩa với việc hạ thấp yêu cầu về chất lượng
Cùng bàn về vấn đề trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang cho hay, việc bỏ điều kiện kinh doanh không nên đồng nghĩa với việc hạ thấp yêu cầu về chất lượng. Theo thầy Cang, cần chuyển trọng tâm quản lý sang kiểm định chất lượng, công khai thông tin và tăng cường thanh tra, giám sát; các cơ sở giáo dục đại học sẽ phải chịu trách nhiệm rõ ràng hơn về chất lượng đào tạo.
Theo đó, các phân hiệu của cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam cần công khai đầy đủ chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, chuẩn đầu ra, kết quả kiểm định và mức học phí; đồng thời phải chịu trách nhiệm nếu không thực hiện đúng những cam kết đã công bố. Việc minh bạch các thông tin này không chỉ giúp người học có cơ sở lựa chọn chương trình phù hợp mà còn tạo điều kiện để cơ quan quản lý, xã hội giám sát chất lượng đào tạo.
Dự kiến tăng cường quyền tự chủ, công khai của các bên hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong giáo dục
Thầy Cang cho rằng, cách tiếp cận này có thể góp phần tạo dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các cơ sở giáo dục, đồng thời vẫn bảo đảm quyền lợi và lợi ích chính đáng của người học. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành cũng đã đặt ra các yêu cầu về công khai thông tin chất lượng đào tạo và điều kiện bảo đảm chất lượng đối với các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài. Đây sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để tăng cường trách nhiệm giải trình và kiểm soát chất lượng trong quá trình hoạt động.
Trong khi đó, Tiến sĩ Đỗ Trọng Tuấn – Phó Hiệu trưởng thường trực Trường Đại học Đông Á cho rằng, cần phân biệt rõ giữa việc cho phép thành lập cơ sở giáo dục đại học và việc cho phép cơ sở đó tuyển sinh, tổ chức đào tạo.
Theo thầy Tuấn, việc được thành lập mới chỉ là bước đầu. Để có thể tuyển sinh một ngành đào tạo cụ thể, cơ sở giáo dục đại học phải đầu tư và đáp ứng đầy đủ các điều kiện liên quan như cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và các yêu cầu bảo đảm chất lượng khác. Đây là những điều kiện không đơn giản, thậm chí đòi hỏi yêu cầu cao hơn đáng kể so với điều kiện để một cơ sở được thành lập.
Từ góc độ này, việc nới điều kiện thành lập có thể tạo thêm cơ hội để các cơ sở giáo dục đại học nước ngoài mạnh dạn đầu tư, mở phân hiệu tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Đỗ Trọng Tuấn, điều quan trọng không chỉ nằm ở việc cơ sở có được thành lập hay không mà còn ở khả năng kiểm soát chất lượng đào tạo đối với từng ngành, từng chương trình cụ thể.
Nếu quy trình tuyển sinh và đào tạo tiếp tục được đặt trong khuôn khổ các điều kiện chuyên môn chặt chẽ, cơ quan quản lý có thể kiểm soát chất lượng theo từng ngành thay vì chỉ đánh giá ở cấp độ cơ sở. Qua đó, hoạt động kiểm tra, giám sát có thể đi vào thực chất hơn, tập trung vào chất lượng đầu ra và điều kiện đào tạo thực tế.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học nước ngoài, thầy Tuấn cho rằng, nếu đến từ những trường có uy tín, tốp đầu thế giới, sở hữu đội ngũ chuyên gia mạnh và mang theo các chuẩn đào tạo cao, việc hiện diện tại Việt Nam có thể tạo thêm giá trị cho giáo dục đại học nước ta. Ngược lại, nếu mục tiêu chủ yếu thiên về kinh doanh mà không đi kèm năng lực đào tạo tương xứng cũng là điều cần phải lưu tâm.
Tránh những diễn đạt “có uy tín”, “cơ sở vật chất hiện đại” mà không chỉ rõ cách đánh giá
Cũng theo Điều 25 dự thảo Nghị định quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục có nêu, đối tượng liên kết thành lập phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam ở bên nước ngoài là cơ sở giáo dục đại học nước ngoài có uy tín, được thành lập và hoạt động hợp pháp ở nước ngoài.
Thầy Thanh cho rằng, việc quy định một cách tường minh về những tiêu chuẩn, tiêu chí đầu tư của những cơ sở này tại Việt Nam là rất quan trọng.
Theo đó, cần thể hiện tiêu chí này theo hai tầng: ngưỡng bắt buộc trước khi thành lập hoặc cho phép hoạt động, và cam kết duy trì trong suốt quá trình đào tạo. Các ngưỡng đó phải đo được, có giấy tờ chứng minh và có cơ quan chịu trách nhiệm kiểm tra; tránh những diễn đạt như “có uy tín”, “cơ sở vật chất hiện đại” mà không chỉ rõ cách đánh giá.
Về chủ thể đầu tư, hồ sơ cần thể hiện tình trạng pháp lý, năng lực đào tạo và cấp bằng của trường mẹ, kết quả kiểm định, người có quyền ký cam kết, chủ sở hữu thực tế và mối quan hệ giữa trường mẹ, nhà đầu tư, đơn vị vận hành tại Việt Nam. Cần nêu rõ phân hiệu là đơn vị phụ thuộc hay có tư cách pháp nhân riêng theo cấu trúc được pháp luật cho phép; ai quyết định học thuật, ai ký hợp đồng với người học, ai chịu nghĩa vụ tài chính và ai là đầu mối giải quyết tranh chấp. Những thông tin này cần được cập nhật khi trường mẹ đổi chủ, mất kiểm định hoặc chuyển giao quyền vận hành.
Về tài chính, nên yêu cầu phương án đầu tư theo tiến độ, nguồn vốn hợp pháp và được chứng minh, dòng tiền tối thiểu để duy trì giảng dạy cho các khóa đã tuyển, báo cáo kiểm toán và cơ chế bảo đảm nghĩa vụ đối với người học. Nếu dự thảo bỏ ngưỡng vốn cố định, cần thay bằng phép đánh giá chi phí thực tế theo diện tích, thiết bị, ngành đào tạo và quy mô cam kết. Ngược lại, nếu vẫn giữ một số ngưỡng vốn theo văn bản hiện hành, phải giải thích rõ ngưỡng áp dụng cho phân hiệu trường đại học nước ngoài có khác phân hiệu của trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài hay không. Không nên trộn lẫn hai mô hình này.
Về mặt bằng và thiết bị, cần có quyền sử dụng địa điểm ổn định, phù hợp thời gian đào tạo; giấy tờ về xây dựng, phòng cháy chữa cháy, môi trường và an toàn; phòng học, phòng thực hành, hệ thống công nghệ tương ứng với từng ngành. Thuê cơ sở vật chất có thể được chấp nhận nếu hợp đồng đủ dài và bảo đảm quyền sử dụng liên tục. Việc mở rộng tuyển sinh phải đi sau việc hoàn thành đầu tư, nhất là với phòng thí nghiệm và học phần thực hành.
Về học thuật, phải công khai chương trình, chuẩn đầu ra, điều kiện tuyển sinh, phương pháp đánh giá, thời lượng học tại Việt Nam và nước ngoài, danh mục giảng viên, cơ chế tham gia của trường mẹ vào bảo đảm chất lượng, cơ quan cấp bằng và phụ lục văn bằng. Nên quy định cách chứng minh tính tương đương giữa văn bằng cấp tại phân hiệu và văn bằng của trường mẹ, đồng thời giải thích rõ việc công nhận hoặc sử dụng văn bằng ở Việt Nam tuân theo thủ tục pháp luật tương ứng, không hứa hẹn tự động được công nhận trong mọi trường hợp.
Đặc biệt, hồ sơ bắt buộc phải có kế hoạch bảo vệ người học khi rủi ro xảy ra: quỹ hoặc bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ nếu phù hợp với thiết kế pháp luật; phương án hoàn thành khóa học hay chuyển trường; chuyển giao dữ liệu học tập; xử lý học phí, học bổng và hợp đồng lao động. Đây là chỉ báo về năng lực đầu tư bền vững có ý nghĩa hơn một con số vốn đăng ký đơn lẻ.
Về vấn đề này, thầy Cang cho hay, cần quy định rõ các tiêu chí đầu tư ngay từ đầu, đặc biệt là năng lực tài chính, chất lượng và uy tín của cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và chuẩn đầu ra. Các tiêu chí cũng cần có cách đánh giá cụ thể, minh bạch để tránh mỗi trường được áp dụng một cách khác nhau. Việc đơn giản hoá thủ tục có thể tạo thuận lợi cho đầu tư, nhưng các yêu cầu về chất lượng và trách nhiệm đối với người học vẫn cần được duy trì. Quy định hiện hành từng yêu cầu cơ sở mở phân hiệu phải được công nhận về chất lượng và có đủ năng lực tài chính.
Làm sao để tăng cường hợp tác quốc tế nhưng vẫn nâng cao quản lý chất lượng giáo dục có yếu tố nước ngoài?
Nhằm giúp cho việc hình thành các phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam được diễn ra thuận lợi, đem lại hiệu quả đào tạo thực chất, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra một số đề xuất.
Thứ nhất, cần một thủ tục liên thông, có hướng dẫn hồ sơ thống nhất bằng tiếng Việt và tiếng Anh, thời hạn xử lý công khai và cơ chế phối hợp giữa cơ quan giáo dục, đầu tư, địa phương và cơ quan quản lý ngành. Doanh nghiệp hoặc trường đại học không nên phải nộp đi nộp lại cùng một minh chứng pháp lý cho nhiều khâu. Có thể kiểm tra một lần đối với giấy tờ của trường mẹ, sau đó chỉ yêu cầu cập nhật khi thông tin thay đổi; việc thẩm định cơ sở thực hành vẫn phải tiến hành tại nơi đào tạo.
Thứ hai, ban hành một khung tiêu chí chung cho các cơ sở đại học cung cấp dịch vụ đào tạo tại Việt Nam, kèm phụ lục minh chứng theo từng mô hình. Khung chung gồm năng lực chương trình, đội ngũ, cơ sở vật chất, kiểm định, công khai, tài chính và bảo vệ người học. Phụ lục dành cho phân hiệu nước ngoài cần làm rõ trách nhiệm của trường mẹ và giá trị văn bằng; phụ lục dành cho trường trong nước phản ánh tư cách pháp lý và cơ chế quản trị của họ. Mọi ngoại lệ hoặc ưu đãi về đất đai, thuế, học phí, tuyển sinh phải có cơ sở pháp lý, điều kiện áp dụng và được công khai.
Thứ ba, nên cho phép triển khai theo giai đoạn có điều kiện: phê duyệt đề án với mốc đầu tư, kiểm tra đủ điều kiện hoạt động trước khi tuyển sinh, rà soát sau các khóa đầu tiên, chỉ mở ngành hoặc tăng quy mô sau khi đạt chuẩn. Cách làm này giúp thu hút đối tác chất lượng mà vẫn khóa được rủi ro “đăng ký lớn, đầu tư nhỏ”. Cơ quan quản lý cần có quyền yêu cầu khắc phục trong thời hạn rõ ràng, tạm dừng tuyển sinh hoặc kích hoạt phương án bảo vệ người học khi trường mẹ mất năng lực hoặc phân hiệu vi phạm.
Thứ tư, khuyến khích liên kết thực chất với các trường đại học Việt Nam trong nghiên cứu, đồng hướng dẫn, chia sẻ phòng thí nghiệm, chuyển giao công nghệ và phát triển giảng viên. Từ góc nhìn của Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh, những hợp tác gắn với công nghệ thực phẩm, công nghiệp, thương mại và nhu cầu doanh nghiệp sẽ đem lại lợi ích rõ hơn cho người học nếu có mục tiêu và kết quả đo được. Tuy vậy, việc một phân hiệu chọn đối tác trong nước phải dựa trên năng lực và thỏa thuận tự nguyện, tránh tạo độc quyền hoặc biến hợp tác thành điều kiện hình thức.
Cuối cùng, cần một cổng thông tin tập trung công khai tình trạng pháp lý, ngành được phép đào tạo, nơi cấp bằng, kết quả kiểm định, chỉ tiêu và các quyết định xử lý vi phạm của từng phân hiệu. Khi người học, phụ huynh và nhà tuyển dụng cùng tiếp cận dữ liệu đáng tin cậy, cơ sở chất lượng tốt sẽ có cơ hội cạnh tranh bằng kết quả đào tạo, còn cơ quan quản lý có thêm tín hiệu để giám sát. Tinh thần của tôi là mở cửa có chọn lọc, quy trình rõ ràng và trách nhiệm theo suốt vòng đời của người học.
Thầy Cang cũng cho rằng, cần đơn giản hoá thủ tục hành chính nhưng không đơn giản hoá các yêu cầu về chất lượng. Nhà nước nên xây dựng một tiêu chí chung, công khai quy trình và thời gian thẩm định; đồng thời tăng cường kiểm tra sau khi phân hiệu đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, cần đảm bảo các phân hiệu nước ngoài tuân thủ những yêu cầu cơ bản về chất lượng đào tạo, quyền lợi của người học và trách nhiệm giải trình. Điều này cũng phù hợp với định hướng tăng cường hợp tác quốc tế nhưng đồng thời nâng cao quản lý chất lượng giáo dục có yếu tố nước ngoài.