Theo số liệu do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố tại Hội nghị giáo dục đại học năm 2026, năm học 2025-2026 nhiều lĩnh vực tuyển sinh được dưới 500 nghiên cứu sinh như: công nghệ kỹ thuật, nghệ thuật, dịch vụ vận tải, sản xuất và chế biến, toán và thống kê, nông - lâm nghiệp và thủy sản, kiến trúc xây dựng…
Trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc thù về đào tạo và nghiên cứu đặt ra không ít thách thức đối với công tác tuyển sinh trình độ tiến sĩ. Thực tế tại các cơ sở giáo dục cho thấy, hạn chế về đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo và chính sách đãi ngộ đang ảnh hưởng đến khả năng thu hút người học, đồng thời đặt ra yêu cầu cần có giải pháp phù hợp để phát triển đội ngũ nhân lực trình độ cao.
Nhiều rào cản trong tuyển sinh tiến sĩ lĩnh vực nghệ thuật
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Trần Đinh Lăng - Trưởng khoa, Khoa Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học (Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh) chia sẻ, tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh số lượng nghiên cứu sinh tuyển được mỗi năm khá khiêm tốn. Chẳng hạn, trong đợt tuyển sinh ngày 16/10/2026, Nhạc viện chỉ tuyển được 4 nghiên cứu sinh; những năm trước cũng chỉ tuyển được từ 1-2 người học, thậm chí có những năm không tuyển được nghiên cứu sinh nào.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc thù của lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, nhất là ngành Âm nhạc. Trong đó, khó khăn lớn nhất là sự thiếu hụt đội ngũ giáo sư, phó giáo sư có đủ điều kiện hướng dẫn nghiên cứu sinh. Hiện nay, số lượng giáo sư, phó giáo sư trong lĩnh vực âm nhạc còn hạn chế. Theo quy định về điều kiện hướng dẫn nghiên cứu sinh, người hướng dẫn phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định về chức danh học thuật, công bố khoa học và các công trình chuyên môn. Đồng thời, mỗi thầy cô chỉ được hướng dẫn tối đa 3 nghiên cứu sinh trong cùng một thời điểm. Vì vậy, dù người học có nguyện vọng học, công tác tuyển sinh vẫn gặp khó khăn do đội ngũ giảng viên đủ điều kiện hướng dẫn đã hết chỉ tiêu. Tình trạng này không chỉ diễn ra tại Nhạc viện mà còn là khó khăn chung ở nhiều cơ sở đào tạo nghệ thuật khác.
Một nguyên nhân khác xuất phát từ đặc thù ngành đào tạo tiến sĩ. Hiện nay, Âm nhạc học là ngành đào tạo tiến sĩ chủ yếu trong lĩnh vực nghệ thuật. Trong khi đó, đội ngũ giảng viên tại các cơ sở giáo dục phần lớn được đào tạo và hoạt động trong các chuyên ngành biểu diễn như: thanh nhạc, piano, nhạc cụ phương Tây hay nhạc cụ dân tộc. Đối với nhiều nghệ sĩ, giảng viên chuyên về biểu diễn, việc nghiên cứu lý luận, công trình khoa học và triển khai các nghiên cứu chuyên sâu không phải là thế mạnh được hình thành trong quá trình đào tạo chuyên môn ban đầu. Do đó, việc chuyển sang nghiên cứu sinh ngành Âm nhạc học đặt ra không ít thách thức, dẫn tới hạn chế số lượng người theo học ở bậc đào tạo này.
Bên cạnh khó khăn trong tuyển sinh, quá trình theo học và hoàn thành chương trình đào tạo cũng đặt ra nhiều thách thức đối với người học. Nghiên cứu ở bậc tiến sĩ đòi hỏi năng lực chuyên môn và khả năng nghiên cứu chuyên sâu, nhất là trong lĩnh vực nghệ thuật, nơi người học cần kết hợp tư duy học thuật với năng lực sáng tạo và kinh nghiệm thực tiễn. Quá trình này đòi hỏi nhiều thời gian, công sức cũng như sự đầu tư nghiêm túc.
Thực tế tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, không phải tất cả nghiên cứu sinh trúng tuyển đều hoàn thành chương trình đào tạo. Có những khóa tuyển được khoảng 5-6 người, nhưng số người hoàn thành chương trình chỉ chiếm khoảng một nửa.
Cùng bàn về vấn đề này Tiến sĩ Hoàng Hậu - chuyên viên bộ phận Quản lý sau đại học, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cho rằng, tuyển sinh nghiên cứu sinh nghệ thuật còn thấp do một số nguyên nhân cốt lõi như sau:
Thứ nhất, các ngành nghệ thuật, đặc biệt là Âm nhạc luôn đề cao sự song hành giữa việc tiếp thu kiến thức - luyện tập thực hành kĩ năng - tham gia biểu diễn thực tế. Đối với bậc đại học, sinh viên đã có thể tham gia những buổi diễn chuyên môn của khoa, trường; những buổi diễn văn nghệ phong trào của địa phương hoặc những buổi diễn quy mô nhỏ/vừa tự tổ chức… Đến khi học tiếp lên thạc sĩ, người học thường đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm từ quá trình giảng dạy, biểu diễn và hoạt động chuyên môn trong thực tiễn. Đây là một trong những rào cản khiến người học "ngại" khi phải thay đổi từ "làm nghề" sang "tập trung nghiên cứu chuyên sâu về lý luận".
Thứ hai, số lượng các ngành/chuyên ngành đào tạo tiến sĩ hiện còn tương đối hạn chế, chưa bao phủ hết các lĩnh vực thực hành biểu diễn chuyên sâu cũng như xu hướng âm nhạc hiện đại.
Thứ ba, yêu cầu về ngoại ngữ và công bố bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành uy tín là rào cản lớn đối với nhiều nghệ sĩ chuyên về biểu diễn.
Thứ tư, bằng tiến sĩ trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung và Âm nhạc nói riêng thường có giá trị cao trong môi trường học thuật, như giảng dạy, nghiên cứu. Tuy nhiên, tấm bằng này chưa thực sự tạo ra thay đổi rõ rệt về thu nhập hay cơ hội thăng tiến đối với những người chủ yếu hoạt động biểu diễn hoặc làm nghề trong thực tiễn, khiến động lực tiếp tục học lên tiến sĩ của một bộ phận người học chưa cao.
Lấy thực tế về việc đào tạo nghiên cứu sinh tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, cô Hậu cho biết, những năm gần đây, chỉ tiêu tuyển sinh nghiên cứu sinh của nhà trường duy trì ở mức khiêm tốn do chỉ có 01 mã ngành tiến sĩ được triển khai là Âm nhạc học. Việc chưa mở mã ngành tiến sĩ thực hành/biểu diễn (Doctor of Musical Arts - DMA) là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc khó thu hút các nghệ sĩ biểu diễn tài năng theo học.
Nguy cơ thiếu hụt đội ngũ chuyên gia kế cận
Dưới góc nhìn của người học, Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng, hiện là nghiên cứu sinh ngành Âm nhạc học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam chia sẻ, nghiên cứu sinh trong lĩnh vực nghệ thuật như âm nhạc, sân khấu, múa, mỹ thuật... phải đối mặt với những khó khăn mang tính đặc thù rất riêng. Trong đó, sự giao thoa khó khăn giữa "kỹ năng thực hành biểu diễn" và "tư duy lý luận khoa học" là một trở ngại khá lớn. Hầu hết nghiên cứu sinh nghệ thuật xuất phát điểm là nghệ sĩ biểu diễn hoặc giảng viên thực hành. Việc chuyển từ ngôn ngữ biểu diễn (cảm xúc, hình tượng, kỹ thuật sân khấu) sang ngôn ngữ nghiên cứu khoa học (phương pháp luận, tính logic, hệ thống lý luận âm nhạc học, quy chuẩn trích dẫn) là một rào cản rất lớn.
Ngoài ra, các công trình lý luận, giáo trình sư phạm hiện đại trên thế giới, đặc biệt là các phong cách mới như hát nhạc kịch Broadway, mô hình sư phạm thanh nhạc quốc tế... chưa được dịch và hệ thống hóa bài bản bằng tiếng Việt. Trong khi đó, các nguồn tư liệu thực tiễn trong nước thường được lưu truyền theo hình thức truyền nghề, thiếu dữ liệu số hóa hoặc ghi chép chuẩn quy chuẩn.
Không chỉ vậy, khó khăn đến từ gánh nặng về chi phí và thời gian dàn dựng thực nghiệm. Nghiên cứu nghệ thuật không chỉ ngồi trong thư viện mà phải tiến hành khảo sát, tổ chức biểu diễn, thu âm, làm tổng phổ, thực nghiệm sư phạm trên người học... Điều này đòi hỏi nguồn kinh phí tài chính không nhỏ và quỹ thời gian rất lớn, trong khi người học vẫn phải đảm bảo công tác giảng dạy, biểu diễn thường nhật.
Yêu cầu khắt khe về tính dung hòa giữa truyền thống và hiện đại cũng là khó khăn nghiên cứu sinh phải đối mặt. Khi đề xuất một hướng đi mới người học phải chứng minh được tính khoa học và sự tương thích với ngôn ngữ tiếng Việt trước Hội đồng chuyên môn vốn rất chặt chẽ về chuẩn mực hàn lâm.
Mặc dù đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và chất xám, nhưng chế độ tiền lương, đãi ngộ hiện nay dành cho học vị tiến sĩ tại khối trường công lập còn khiêm tốn so với những gì nghiên cứu sinh phải đầu tư trong 4-5 năm học tập. Thực tế, nhiều tiến sĩ nghệ thuật có thu nhập tốt chủ yếu nhờ hoạt động biểu diễn, dàn dựng chương trình hoặc giảng dạy bên ngoài, thay vì dựa vào tiền lương và các chế độ đãi ngộ gắn với học vị tiến sĩ.
Trong khi đó, Tiến sĩ Đinh Lăng cho rằng, nếu tình trạng tuyển sinh tiến sĩ ở mức thấp kéo dài, lĩnh vực nghệ thuật sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn về nhân lực trình độ cao.
Trước hết, sự thiếu hụt đội ngũ tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển nguồn nhân lực quản lý và chuyên môn trong các cơ sở giáo dục, đơn vị nghệ thuật. Những vị trí như giám đốc, phó giám đốc, trưởng khoa hay các vị trí quản lý khác có thể gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhân sự đáp ứng yêu cầu về trình độ và năng lực chuyên môn.
Bên cạnh đó, tình trạng thiếu giảng viên trình độ cao còn tác động đến công tác đào tạo ở các bậc học thấp hơn. Khi số lượng giảng viên đủ điều kiện giảng dạy và hướng dẫn còn hạn chế, các cơ sở giáo dục khó mở rộng quy mô tuyển sinh, kể cả ở bậc thạc sĩ. Tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, có những năm số lượng thí sinh dự tuyển thạc sĩ khá đông, tỷ lệ cạnh tranh lên tới 1/4 hoặc 1/5, nhưng chỉ tiêu tuyển sinh bị giới hạn do phụ thuộc vào đội ngũ giảng viên đáp ứng các điều kiện chuyên môn.
Như vậy, sự thiếu hụt nhân lực học thuật trình độ cao không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đào tạo tiến sĩ mà còn tạo ra những hạn chế đối với toàn bộ hệ thống đào tạo nghệ thuật.
Đồng quan điểm, cô Hậu cho rằng, tình trạng tuyển sinh trình độ tiến sĩ ở mức thấp kéo dài có thể dẫn đến nhiều hệ lụy. Việc này làm gia tăng nguy cơ thiếu hụt lực lượng kế cận có trình độ cao để thay thế đội ngũ chuyên gia, giáo sư, phó giáo sư đầu ngành khi đến tuổi nghỉ hưu.
Với các nghiên cứu chuyên sâu về âm nhạc truyền thống, âm nhạc học dân tộc và âm nhạc hiện đại Việt Nam sẽ thiếu nhân lực triển khai, ảnh hưởng đến công tác bảo tồn cũng như phát triển nền âm nhạc dân tộc.
Tình trạng này còn ảnh hưởng đến việc xây dựng các sản phẩm học thuật và sư phạm chuyên sâu như chương trình đào tạo chuẩn hóa, giáo trình giảng dạy bậc cao và các công trình nghiên cứu về phương pháp luận. Về lâu dài, đây có thể trở thành rào cản đối với quá trình hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục âm nhạc trình độ cao tại Việt Nam.
Vì vậy, để tháo gỡ những khó khăn trong tuyển sinh nghiên cứu sinh trong lĩnh vực nghệ thuật cần đẩy mạnh xây dựng chương trình đào tạo tiến sĩ theo hướng kết hợp giữa lý thuyết và thực hành (mô hình DMA), mở mã ngành tiến sĩ biểu diễn ở các trường đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp. Đồng thời, công nhận các tác phẩm, chương trình biểu diễn xuất sắc có giá trị nghệ thuật cao tương đương với công trình nghiên cứu khoa học các cấp.
Song song với đó, cần thực hiện cơ chế đặt hàng đào tạo, cấp học bổng, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu/biểu diễn cho nghiên cứu sinh tài năng; có lộ trình xây dựng các tạp chí/kỷ yếu khoa học âm nhạc uy tín đạt chuẩn hội nhập.
Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế phát hiện, bồi dưỡng và tạo nguồn nghiên cứu sinh ngay từ khi người học đang theo chương trình thạc sĩ hoặc là giảng viên trẻ tại các cơ sở giáo dục trên toàn quốc.
Trong khi đó, Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng nêu quan điểm, để thu hút nhân tài và tháo gỡ khó khăn cho nghiên cứu sinh trong lĩnh vực nghệ thuật cần có những chính sách đột phá và thấu hiểu đặc thù ngành. Không nên áp đặt 100% tiêu chí nghiên cứu lý thuyết thuần túy của các ngành khoa học tự nhiên/xã hội lên ngành nghệ thuật biểu diễn.
Nhà nước và các cơ sở đào tạo cần có cơ chế cấp kinh phí hoặc hỗ trợ đề tài nghiên cứu cho nghiên cứu sinh để họ có nguồn lực dàn dựng tác phẩm, phát hành tổng phổ, tổ chức thực nghiệm sư phạm và xuất bản công trình. Đồng thời, đầu tư mua bản quyền các nguồn tài liệu, thư viện âm nhạc, tổng phổ và tạp chí chuyên ngành quốc tế giúp người học dễ dàng tiếp cận với tri thức nghệ thuật hiện đại của thế giới.
Sau khi tốt nghiệp, cần có chính sách trọng dụng, đãi ngộ đặc thù, cơ chế "đặt hàng" các dự án nghệ thuật quốc gia hoặc các chương trình đào tạo mũi nhọn cho đội ngũ tiến sĩ nghệ thuật, giúp họ phát huy tối đa năng lực chuyên môn và đóng góp thiết thực cho nền nghệ thuật nước nhà.