Giai đoạn 2024-2026, số bài báo khoa học của giáo dục đại học Việt Nam tăng mạnh

04/10/2026 06:24
Tường San
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Với những kết quả đạt được, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn những khoảng cách đáng kể về năng lực nghiên cứu và điều kiện cơ sở vật chất. Đây là những vấn đề cần được nhìn nhận để có chính sách phù hợp với từng nhóm cơ sở.

Năm học 2025–2026, giáo dục đại học Việt Nam đã ghi nhận những bước tiến đáng khích lệ về quy mô, số lượng công bố quốc tế cũng như sự hiện diện trên các bảng xếp hạng uy tín trên thế giới.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, dữ liệu thống kê mới nhất từ Báo cáo kết quả giáo dục đại học 2025-2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng phản ánh rõ nét sự phân hóa và khoảng cách đáng kể giữa các cơ sở giáo dục đại học. Từ năng lực nghiên cứu khoa học, mức độ quốc tế hóa cho đến điều kiện hạ tầng cơ sở vật chất, hệ thống vẫn đang đối mặt với những "nút thắt" đòi hỏi giải pháp mang tính chiến lược và căn cơ hơn.

Công bố khoa học tăng nhưng còn khoảng cách lớn giữa các cơ sở đào tạo

Theo báo cáo, hoạt động nghiên cứu khoa học của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang có xu hướng tăng về số lượng công bố.

Cụ thể, số bài báo tăng 17,6%, từ 22.249 bài (năm 2024) lên 26.157 bài (năm 2025). Trong 9 tháng năm 2026, toàn hệ thống ghi nhận 23.717 bài và ước tính cả năm đạt khoảng 31.600 bài. Như vậy, dự kiến xu hướng này còn tiếp tục tăng mạnh.

Thông tin dữ liệu từ báo cáo cũng cho thấy, các cơ sở giáo dục đại học đóng góp trên 83% tổng số công bố.

Tuy nhiên, số liệu cũng cho thấy sự chênh lệch về năng suất nghiên cứu giữa các cơ sở giáo dục đại học.

Trong 189 cơ sở được thống kê, có tới 72 cơ sở, tương đương 38,1%, có năng suất dưới 0,3 bài WoS hoặc Scopus trên một giảng viên toàn thời gian, lực lượng này chủ yếu tập trung ở nhóm các trường không đào tạo tiến sĩ. Trái lại, ở dải năng suất cao từ 5 bài/giảng viên trở lên, 100% số này đều thuộc về khối các trường có đào tạo tiến sĩ.

Đáng chú ý, dù tỷ lệ công bố quốc tế toàn hệ thống đạt mức ấn tượng là 82,8%, chỉ số trung vị thực tế ở cấp cơ sở lại chỉ dừng ở mức 62,0%, đồng thời ghi nhận 34 cơ sở không đáp ứng được Tiêu chí 6.2 về định mức công bố trên giảng viên. Thực trạng này phản ánh rõ nét sự tập trung tài nguyên học thuật vào một số trường top đầu và đặt ra yêu cầu cấp thiết về các chính sách hỗ trợ phân loại nhằm thu hẹp khoảng cách nội tại.

Như vậy, bài toán đặt ra không chỉ là tăng số lượng công bố mà còn nâng cao chất lượng nghiên cứu và thu hẹp khoảng cách giữa các cơ sở.

Thứ hạng quốc tế tăng nhưng điều kiện đầu tư còn hạn chế

Báo cáo cũng chỉ rõ, năm học 2025-2026, vị thế của các trường đại học Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế tiếp tục có sự cải thiện.

Theo đó, số cơ sở giáo dục đại học Việt Nam có mặt trong bảng xếp hạng QS châu Á tăng từ 15 (năm 2024) lên 17 ở năm 2025 và 25 ở năm 2026. Với QS thế giới, số cơ sở cũng tăng từ 5 cơ sở (năm 2024) lên 10 cơ sở (năm 2026); số cơ sở trong bảng xếp hạng THE thế giới tăng từ 6 cơ sở (năm 2024) lên 11 cơ sở (năm 2026).

Ở xếp hạng theo lĩnh vực, số cơ sở có ngành được xếp hạng cũng tăng từ 9 cơ sở (năm 2025) lên 13 (năm 2026). Tuy nhiên, số ngành có đại diện lại giảm từ 25 cơ sở (năm 2025) xuống 23 cơ sở (năm 2026) và số cơ sở có ngành nằm trong nhóm 100 thế giới giảm từ 3 cơ sở (năm 2025) xuống 2 cơ sở (năm 2026).

Những kết quả trên cho thấy mức độ hiện diện quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam đang được mở rộng. Tuy nhiên, kết quả giữa các cơ sở chưa đồng đều, đặc biệt ở những nhóm thứ hạng cao. Báo cáo đồng thời cũng chỉ ra vấn đề đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng để giáo dục đại học trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu xuất sắc của khu vực và thế giới.

Cơ sở vật chất vẫn là bài toán cần giải quyết

Bên cạnh đội ngũ và nghiên cứu, điều kiện cơ sở vật chất năm học vừa qua tiếp tục cho thấy sự khác biệt giữa các cơ sở giáo dục đại học.

Theo báo cáo, trong 186 cơ sở có dữ liệu về diện tích sàn trên người học, có 4 cơ sở ở mức dưới 2,8 m²; 47 cơ sở ở mức 2,8-5 m² và 69 cơ sở đạt 5-10 m². Về diện tích đất trên người học, 56 trong 185 cơ sở ở mức dưới 10 m² và 52 cơ sở ở mức 10-25 m². Như vậy, có 108 cơ sở, tương đương 58,4%, vẫn dưới ngưỡng 25 m² diện tích đất/người học (áp dụng từ năm 2030).

Những số liệu này cho thấy yêu cầu nâng chuẩn cơ sở vật chất vẫn là vấn đề cần được giải quyết song song với quá trình mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo.

Có thể thấy, cùng với những kết quả đạt được, hệ thống giáo dục đại học vẫn còn những khoảng cách đáng kể về năng lực nghiên cứu và điều kiện cơ sở vật chất. Đây là những vấn đề cần được nhìn nhận trên cơ sở dữ liệu để có chính sách phù hợp với từng nhóm cơ sở.

Tường San