Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. Dự thảo yêu cầu mỗi chương trình đào tạo trình độ đại học phải có tối thiểu 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì; trong đó, có 2 giảng viên được giao chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Việc này được kỳ vọng sẽ nâng cao chất lượng học thuật, song cũng đặt ra nhiều băn khoăn về áp lực nhân lực và tính khả thi khi triển khai.
Các trường gặp nhiều áp lực khi nâng tiêu chuẩn về số lượng giảng viên tiến sĩ
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Võ Văn Tuấn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Lang chia sẻ, việc nâng tiêu chuẩn đội ngũ giảng viên chủ trì là một bước đi đúng về mặt định hướng. Chất lượng của một chương trình đào tạo không chỉ nằm ở mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra, nội dung kiến thức hay phương pháp, hình thức đào tạo mà nằm ở chính những người thiết kế và vận hành chương trình đó. Vì vậy, việc nâng tiêu chuẩn sẽ giúp nâng chất lượng học thuật của chương trình đào tạo.
Đáng chú ý, dự thảo không chỉ yêu cầu có giảng viên chủ trì tại thời điểm mở chương trình, mà còn yêu cầu số lượng và chuyên môn của giảng viên chủ trì phải được duy trì liên tục trong suốt quá trình đào tạo. Điều này có ý nghĩa quan trọng khi chuyển từ quy định đủ điều kiện để "mở được" sang đủ năng lực "duy trì chất lượng lâu dài".
Tuy nhiên, việc nâng chuẩn có thể tạo áp lực lớn lên công tác tuyển dụng của các cơ sở giáo dục. Nguồn giảng viên có trình độ tiến sĩ tại Việt Nam hiện còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới, liên ngành hoặc lĩnh vực chưa đào tạo tiến sĩ trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên, các trường buộc phải cạnh tranh mạnh hơn để thu hút nhân sự, kéo theo chi phí gia tăng trong khi không phải cơ sở nào cũng có lợi thế tương đương.
Việc tuyển dụng giảng viên có trình độ đáp ứng đúng yêu cầu xây dựng và vận hành chương trình đào tạo vốn đã khó, song bài toán giữ chân đội ngũ này trong suốt quá trình đào tạo còn thách thức hơn. Khi quy định yêu cầu đội ngũ giảng viên chịu trách nhiệm chính phải được duy trì liên tục, các cơ sở đào tạo buộc phải tăng cường đầu tư vào chính sách đãi ngộ, môi trường học thuật và cơ hội phát triển nghề nghiệp nhằm bảo đảm sự ổn định và chất lượng lâu dài.
Ngoài ra, nếu một ngành có nhiều chương trình đào tạo khác nhau đội ngũ giảng viên chủ trì có thể bị nhân lên theo số chương trình, nhất là giảng viên chịu trách nhiệm chính. Điều này tạo ra áp lực phân bổ rất lớn do cùng một khoa, cùng một ngành nhưng khi mở nhiều chương trình rất dễ thiếu hụt đội ngũ đủ điều kiện pháp lý. Đây là điều khiến các trường dù có năng lực học thuật vẫn gặp khó trong việc đa dạng hóa chương trình.
Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quận - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo Trường Đại học Phạm Văn Đồng cho biết, với những quy định tại dự thảo Thông tư về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, nhà trường cơ bản thống nhất với mục tiêu và định hướng Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra.
Việc xây dựng và hoàn thiện các quy định theo hướng chuẩn hóa chương trình đào tạo, nâng cao yêu cầu với đội ngũ giảng viên là cần thiết trong bối cảnh giáo dục đại học đứng trước yêu cầu đổi mới và hội nhập. Những điều chỉnh này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời là cơ hội để các trường rà soát, cập nhật chương trình, phương pháp giảng dạy, nâng cao năng lực đội ngũ.
Tuy vậy, cần tính đến sự khác biệt về điều kiện giữa các cơ sở giáo dục. Đối với các trường đại học địa phương, việc đáp ứng ngay các tiêu chuẩn về số lượng đội ngũ và công bố khoa học có thể gặp nhiều khó khăn, nhất là khi nguồn lực còn hạn chế.
Chẳng hạn, Trường Đại học Phạm Văn Đồng là cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh nên còn gặp không ít khó khăn trong quá trình xây dựng đội ngũ và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học. Trong đó, việc thu hút giảng viên có trình độ tiến sĩ vẫn là thách thức lớn, do trường địa phương khó cạnh tranh về thu nhập, môi trường nghiên cứu cũng như cơ hội phát triển nghề nghiệp so với các trường lớn tại đô thị.
Bên cạnh đó, áp lực thực hiện cơ chế tự chủ ngày càng tăng đặt ra yêu cầu cao hơn về cân đối nguồn thu chi. Kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học còn khá hạn hẹp khiến khó đáp ứng yêu cầu triển khai các đề tài có chất lượng hoặc tham gia dự án quy mô lớn.
Về công bố khoa học, hạn chế về nguồn lực, thời gian, môi trường nghiên cứu cũng ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực của giảng viên. Việc thực hiện công bố quốc tế vốn đòi hỏi đầu tư dài hạn, nguồn lực tài chính, năng lực nghiên cứu chuyên sâu, khả năng hợp tác với các nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước… trở thành thách thức đối với cơ sở giáo dục địa phương. Mặc dù nhận thức rõ vai trò của nghiên cứu khoa học trong nâng cao chất lượng đào tạo, nhưng việc đáp ứng yêu cầu về công bố quốc tế là bài toán không dễ giải trong thời gian ngắn.
Đồng quan điểm, Thạc sĩ Trịnh Hữu Chung - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định cho rằng, đây là bước đi mạnh mẽ của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực tiễn và không gây ra "cú sốc" hệ thống cần cái nhìn đa chiều, hài hòa hơn giữa lý tưởng và thực tiễn.
Theo thầy Chung, để đào tạo một tiến sĩ, lộ trình nhanh nhất là khoảng 3 năm nhưng thực tế thường kéo dài từ 5 - 6 năm do đặc thù vừa làm vừa học, nhất là với những thạc sĩ trẻ đang là lực lượng giảng dạy nòng cốt.
Việc yêu cầu tăng lên 7 tiến sĩ, đồng thời siết chặt hệ số giảng viên trình độ thạc sĩ (có hệ số 0,75) theo Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh cao đẳng ngành giáo dục mầm non sẽ vô hình trung tạo ra một cuộc "chạy đua bằng cấp".
Thực tế, các đại học lớn cũng đang "trầy trật" trong việc tìm kiếm nguồn tuyển tiến sĩ cho những ngành mới hoặc ngành đặc thù. Hiện nay, ở Việt Nam để tìm được tiến sĩ đúng chuyên ngành Báo chí - Truyền thông, Quan hệ công chúng, Trí tuệ nhân tạo (AI), Logistics hoặc một số ngành liên quan đến ngôn ngữ rất khó khăn.
Vì vậy, nếu áp dụng một chuẩn "cứng" chung cho tất cả các ngành, nhà trường sẽ rơi vào thế khó hoặc không thể mở ngành mới theo nhu cầu xã hội, thậm chí phải cạnh tranh khốc liệt để "giành giật" giảng viên, dẫn đến chi phí vận hành tăng cao.
Đặc biệt là vấn đề về tài chính, khi buộc phải trả lương cao để thu hút tiến sĩ trong bối cảnh các trường tự chủ chủ yếu dựa vào học phí, gánh nặng tài chính có thể sẽ đổ dồn lên vai người học.
Cần điều chỉnh tiêu chí công bố quốc tế phù hợp với đặc thù từng ngành đào tạo
Dự thảo cũng đặt ra yêu cầu cao về năng lực nghiên cứu đối với đội ngũ giảng viên chủ trì chương trình đào tạo. Theo đó, giảng viên phải đáp ứng các yêu cầu về công bố khoa học, như có bài báo thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sở hữu các sản phẩm học thuật như sách chuyên khảo, sáng chế.
Về vấn đề này Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Lang cho rằng, nếu được triển khai đúng cách, quy định này có thể tạo ra tác động tích cực cả trong đào tạo và nghiên cứu.
Trước hết, nó giúp nâng chuẩn học thuật của người dạy. Một giảng viên có công bố quốc tế thường có khả năng tiếp cận tri thức mới, nắm được phương pháp nghiên cứu hiện đại, tư duy học thuật toàn cầu. Khi đội ngũ này tham gia xây dựng chương trình, nội dung đào tạo sẽ phù hợp và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội.
Tiếp đó, giúp gắn kết đào tạo với nghiên cứu. Một đại học đúng nghĩa không chỉ truyền đạt kiến thức có sẵn mà phải tạo ra tri thức mới. Khi giảng viên chủ trì phải nghiên cứu, sinh viên sẽ được hưởng lợi từ môi trường học tập mang tính khám phá và sáng tạo cao hơn.
Không chỉ vậy, quy định này góp phần nâng cao vị thế, danh tiếng của cơ sở đào tạo trong hệ thống giáo dục trong nước cũng như quốc tế.
"Việc gắn yêu cầu công bố quốc tế với trách nhiệm chủ trì chương trình đào tạo được sẽ giúp nhà trường lựa chọn đúng người xây dựng và tổ chức chương trình. Tuy vậy, quy định này cũng đặt ra không ít thách thức do không phải lĩnh vực nào cũng có điều kiện công bố quốc tế như nhau. Với các ngành định hướng ứng dụng, sáng tạo như truyền thông, thiết kế, nghệ thuật… nhiều giá trị học thuật khó đo lường đầy đủ chỉ bằng các bài báo quốc tế.
Khi áp dụng chung một tiêu chí cho tất cả ngành/chương trình đào tạo có thể dẫn đến việc đánh giá chưa đầy đủ năng lực của giảng viên, thậm chí làm giảm vai trò của người giàu kinh nghiệm thực tiễn nhưng không có thế mạnh về công bố khoa học. Vì vậy, việc áp dụng cần được cân nhắc theo hướng linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực đào tạo", thầy Tuấn bày tỏ.
Để quy định này đi vào thực tiễn và triển khai hiệu quả hơn, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Lang đề xuất như sau:
Thứ nhất, cần phân tầng hệ thống giáo dục đại học. Không nên áp một chuẩn giống nhau cho tất cả các loại hình trường. Trong đó, cơ sở giáo dục có định hướng nghiên cứu và cơ sở giáo dục có định hướng ứng dụng cần có cách tiếp cận khác nhau.
Thứ hai, cần linh hoạt theo đặc thù ngành. Với các ngành ứng dụng có thể công nhận thêm sản phẩm học thuật khác như dự án, sản phẩm sáng tạo, chuyển giao công nghệ, đóng góp nghề nghiệp.
Thứ ba, về yêu cầu cơ sở đào tạo phải đạt chuẩn cơ sở giáo dục đại học trước khi quyết định triển khai xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo cần được cân nhắc kỹ lưỡng hơn. Quy định này về nguyên tắc là hợp lý, tuy nhiên, nếu gắn quá chặt giữa "chuẩn cơ sở" và "mọi hoạt động phát triển chương trình" có thể vô tình làm chậm lại năng lực đổi mới học thuật của nhà trường.
Thực tế, có những cơ sở chưa đáp ứng đầy đủ một số tiêu chí ở cấp tổ chức nhưng vẫn đủ năng lực chuyên môn để xây dựng một chương trình đào tạo mới chất lượng. Vì vậy, cần cân nhắc cách thức áp dụng theo hướng linh hoạt, tránh hạn chế quyền phát triển học thuật chỉ vì một số tiêu chí tổ chức chưa hoàn thiện.
Từ thực tiễn hoạt động, Trưởng phòng, Phòng Đào tạo Trường Đại học Phạm Văn Đồng cũng đề xuất, cần có sự điều chỉnh phù hợp về yêu cầu đội ngũ giảng viên theo hướng linh hoạt hơn, bảo đảm vừa nâng cao chất lượng đào tạo vừa phù hợp với điều kiện thực tế của các cơ sở giáo dục đại học.
Về đội ngũ giảng viên, mỗi chương trình đào tạo có tối thiểu 6 giảng viên cơ hữu trình độ tiến sĩ, đúng hoặc gần chuyên ngành, trong đó có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình sẽ khả thi hơn.
Trong bối cảnh nguồn giảng viên trình độ tiến sĩ còn hạn chế, việc giảm yêu cầu về số lượng nhưng vẫn bảo đảm có giảng viên phụ trách chính sẽ giúp trường đáp ứng yêu cầu về chất lượng và có dư địa để từng bước xây dựng, phát triển đội ngũ trong tương lai. Việc này cũng tạo điều kiện để các trường linh hoạt hơn trong tổ chức chương trình, tránh gián đoạn hoạt động đào tạo đối với các ngành đang thiếu hụt nhân lực trình độ cao.
Về công bố khoa học, thay vì tập trung vào công bố quốc tế giảng viên chủ trì chương trình đào tạo cần có ít nhất 1 công bố khoa học, có thể là bài báo thuộc danh mục Hội đồng Giáo sư Nhà nước hoặc các sản phẩm học thuật như sách chuyên khảo, sáng chế, giải pháp hữu ích, hay thành tích chuyên môn được cơ quan có thẩm quyền công nhận. Việc đa dạng hóa hình thức ghi nhận sẽ phản ánh đầy đủ hơn năng lực chuyên môn và đóng góp học thuật của giảng viên trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Với những ngành ứng dụng, sản phẩm nghiên cứu không chỉ dừng lại ở bài báo mà thể hiện qua sáng chế, giải pháp kỹ thuật hoặc kết quả chuyển giao công nghệ.
Về lộ trình thực hiện, nên kéo dài thời gian hoàn thiện các chương trình đào tạo đang triển khai lên tối thiểu 60 tháng nhằm bảo đảm tính khả thi trong quá trình áp dụng các quy định mới.
Việc điều chỉnh chương trình đào tạo liên quan đến nhiều yếu tố, như xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên, cập nhật học liệu, đầu tư cơ sở vật chất, hoàn thiện các điều kiện bảo đảm chất lượng. Đây đều là những nội dung cần thời gian để triển khai đồng bộ, khó có thể thực hiện trong thời gian ngắn. Những chương trình đào tạo đang triển khai nếu bị thay đổi đột ngột có thể ảnh hưởng đến kế hoạch học tập của người học cũng như tiến độ đào tạo của nhà trường. Do đó, kéo dài lộ trình sẽ giúp các trường chủ động hơn trong việc điều chỉnh và duy trì sự ổn định trong tổ chức đào tạo.
Trong khi đó, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định nêu quan điểm, cơ quan quản lý cần xem xét yêu cầu về số lượng tiến sĩ và lộ trình áp dụng linh hoạt hơn. Trong đó, chú trọng một số ngành đặc thù cần có tiêu chuẩn riêng như các ngành về công nghệ mới hoặc ngành khó tuyển dụng tiến sĩ để không triệt tiêu cơ hội phát triển ngành học theo xu thế.
Mặt khác, cần tăng cường hậu kiểm. Thay vì chỉ nhìn vào con số giảng viên trên giấy tờ cần giám sát chặt chẽ đầu ra, năng lực công bố khoa học và chất lượng sinh viên tốt nghiệp.
Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế tài chính, giảm giờ giảng và có các giải thưởng vinh danh để giảng viên có động lực trong việc nâng cao trình độ, thay vì học để "đủ chỉ tiêu".
"Chủ trương nâng cao chất lượng đào tạo là tinh thần chung của các cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, một chính sách giáo dục bền vững cần được xây dựng trên nền tảng của sự hài hòa giữa chuẩn hóa và thực tiễn, giữa áp lực học thuật và đời sống xã hội của người thầy", thầy Chung nhấn mạnh.