Trong bối cảnh số lượng công bố khoa học quốc tế của Việt Nam liên tục gia tăng trong những năm gần đây, phát biểu của Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn về việc không thể chỉ “đếm” bài báo đang thu hút sự quan tâm của giới học thuật và dư luận.
Vừa qua, tại cuộc làm việc với các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình hình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, Quyền Bộ trưởng nhấn mạnh không thể chỉ dừng lại ở việc đếm số lượng bài báo hay so sánh tăng trưởng lượng công bố hàng năm.
Theo Quyền Bộ trưởng, khoa học công nghệ phải đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế thông qua những sản phẩm nghiên cứu có thể chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn; những đề tài, nhiệm vụ khoa học giải quyết vấn đề cấp bách của đất nước; đội ngũ nhân lực chất lượng cao mà các trường đại học đào tạo phải đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Những đóng góp đó cần được chứng minh bằng kết quả cụ thể. [1]
Phát biểu này được đặt trong bối cảnh thời gian gần đây, nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước liên quan đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo liên tiếp được ban hành. Trong đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xem là dấu mốc quan trọng, định hướng rõ ràng cho hệ thống nghiên cứu khoa học trong giai đoạn mới.
Nghị quyết xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của quốc gia, là điều kiện tiên quyết để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới.
85% bài báo WoS/Scopus của Việt Nam đến từ các trường đại học
Thực tế cho thấy, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang giữ vai trò trung tâm trong hoạt động nghiên cứu khoa học.
Theo số liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học đóng góp khoảng 85% tổng số công bố khoa học của Việt Nam trong danh mục WoS/Scopus. Đây là minh chứng cho việc các cơ sở giáo dục đại học không chỉ là nơi đào tạo mà còn là lực lượng chủ lực trong mạng lưới khoa học công nghệ quốc gia.
Kết quả thống kê công bố quốc tế trong những năm gần đây cho thấy Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc, và đà tăng này tiếp tục được duy trì trong năm 2025.
Theo thống kê từ bảng xếp hạng SARAP, năm 2025, Việt Nam có tổng cộng 14.880 bài báo nghiên cứu thuộc cơ sở dữ liệu Web of Science, tăng khoảng 18,63% so với năm trước và chiếm xấp xỉ 0,53% sản lượng bài báo toàn cầu. Trong tổng số này, hai viện nghiên cứu quốc gia chủ lực đóng góp 1.460 bài, tương đương 9,81%, trong khi phần lớn còn lại đến từ các cơ sở giáo dục đại học. [2]
SARAP Ranking 2025:
| Hạng | Tên cơ sở giáo dục đại học | WoS | Tỷ trọng |
| 1 | Đại học Quốc gia TP.HCM | 1.965 | 13,21% |
| 2 | Đại học Quốc gia Hà Nội | 1.196 | 8,04% |
| 3 | Đại học Duy Tân | 910 | 6,12% |
| 4 | Đại học Bách khoa Hà Nội | 836 | 5,62% |
| 5 | Trường Đại học Tôn Đức Thắng | 573 | 3,85% |
| 6 | Đại học Cần Thơ | 565 | 3,80% |
| 7 | Trường Đại học Y Dược TP.HCM | 526 | 3,53% |
| 8 | Trường Đại học Y Hà Nội | 499 | 3,35% |
| 9 | Đại học Phenikaa | 497 | 3,34% |
| 10 | Đại học Huế | 487 | 3,27% |
| 11 | Đại học Kinh tế TP.HCM | 483 | 3,25% |
| 12 | Trường Đại học Nguyễn Tất Thành | 462 | 3,10% |
| 13 | Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM | 445 | 2,99% |
| 14 | Trường Đại học Văn Lang | 424 | 2,85% |
| 15 | Đại học Đà Nẵng | 418 | 2,81% |
| 16 | Trường Đại Học Công nghệ Kỹ Thuật TP. HCM | 390 | 2,62% |
| 17 | Đại học Thái Nguyên | 370 | 2,49% |
| 18 | Đại học Kinh tế Quốc dân | 308 | 2,07% |
| 19 | Trường Đại học FPT | 298 | 2,00% |
| 20 | Trường Đại học VinUni | 284 | 1,91% |
| 21 | Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn | 271 | 1,82% |
| 22 | Đại học Công nghiệp Hà Nội | 270 | 1,81% |
| 23 | Trường Đại học Công nghệ TP.HCM | 247 | 1,66% |
| 24 | Học viện Nông nghiệp Việt Nam | 221 | 1,49% |
| 25 | Trường Đại học Thủy lợi | 210 | 1,41% |
| 26 | Trường Đại học Mở TP.HCM | 209 | 1,40% |
| 27 | Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM | 199 | 1,34% |
| 28 | Trường Đại học Công thương TP.HCM | 187 | 1,26% |
| 29 | Trường Đại học Y Dược Cần Thơ | 164 | 1,10% |
| 30 | Trường Đại học Giao thông Vận tải | 161 | 1,08% |
| 31 | Trường Đại học Sư phạm Hà Nội | 142 | 0,95% |
| 31 | Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông | 142 | 0,95% |
| 31 | Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội | 142 | 0,95% |
| 32 | Trường Đại học Xây dựng Hà Nội | 140 | 0,94% |
| 33 | Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch | 136 | 0,91% |
| 33 | Trường Đại học Vinh | 136 | 0,91% |
| 34 | Trường Đại học Sư phạm TP.HCM | 130 | 0,87% |
| 35 | Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM | 124 | 0,83% |
| 36 | Trường Đại học Thủ Dầu Một | 114 | 0,77% |
| 37 | Học viện Quân y | 113 | 0,76% |
| 38 | Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai | 109 | 0,73% |
| 38 | Trường Đại học Nha Trang | 109 | 0,73% |
| 39 | Trường Đại học Điện lực | 106 | 0,71% |
| 40 | Trường Đại học Sài Gòn | 102 | 0,69% |
| 41 | Trường Đại học Thương mại | 101 | 0,68% |
| 42 | Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải | 92 | 0,62% |
| 43 | Trường Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM | 89 | 0,60% |
| 44 | Trường Đại học Mỏ – Địa chất | 88 | 0,59% |
| 45 | Trường Đại học Ngoại thương | 84 | 0,56% |
| 45 | Trường Đại học Dược Hà Nội | 84 | 0,56% |
| 46 | Trường Đại học Hàng hải Việt Nam | 82 | 0,55% |
| 47 | Trường Đại học Tài chính – Marketing | 80 | 0,54% |
| 48 | Trường Đại học Nam Cần Thơ | 77 | 0,52% |
| 49 | Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên | 76 | 0,51% |
| 50 | Trường Đại học Đồng Tháp | 70 | 0,47% |
| 50 | Trường Đại học Y Dược Hải Phòng | 70 | 0,47% |
| 51 | Trường Đại học Hồng Đức | 69 | 0,46% |
| 52 | Trường Đại học Y tế Công cộng | 61 | 0,41% |
| 53 | Trường Đại học Quy Nhơn | 58 | 0,39% |
| 54 | Học viện Ngân hàng | 57 | 0,38% |
| 54 | Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội | 57 | 0,38% |
| 54 | Trường Đại học Tây Nguyên | 57 | 0,38% |
| 55 | Trường Đại học Việt Đức | 56 | 0,38% |
| 56 | Trường Đại học Y Dược Thái Bình | 54 | 0,36% |
| 57 | Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 | 53 | 0,36% |
| 57 | Trường Đại học Thăng Long | 53 | 0,36% |
| 58 | Trường Đại học Đà Lạt | 52 | 0,35% |
| 59 | Trường Đại học Lạc Hồng | 48 | 0,32% |
| 60 | Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long | 47 | 0,32% |
| 61 | Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội | 46 | 0,31% |
| 62 | Trường Đại học Luật TP.HCM | 40 | 0,27% |
| 62 | Trường Đại học Trà Vinh | 40 | 0,27% |
Xét theo từng đơn vị, các đại học lớn tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt về công bố quốc tế. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu với 1.965 bài báo, chiếm 13,21% tổng số công bố. Xếp sau là Đại học Quốc gia Hà Nội với 1.196 bài. Nhiều cơ sở giáo dục đại học khác cũng ghi nhận sản lượng công bố đáng kể như Đại học Duy Tân, Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Tôn Đức Thắng hay Đại học Cần Thơ.
Bên cạnh đó, khối ngành sức khỏe cũng có sự hiện diện rõ nét với các đơn vị như Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Y Hà Nội nằm trong nhóm dẫn đầu. Sự phân bố này cho thấy hoạt động nghiên cứu đã lan tỏa ở nhiều lĩnh vực, từ kỹ thuật, công nghệ đến y dược và khoa học xã hội.
Không chỉ gia tăng về số lượng công bố, nhiều cơ sở giáo dục đại học Việt Nam cũng từng bước cải thiện vị trí trên các bảng xếp hạng quốc tế. Một số công trình nghiên cứu đã được chuyển giao, thương mại hóa, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong xu thế hội nhập, bảng xếp hạng quốc tế đang trở thành “cuộc đua” về uy tín và thương hiệu của các trường đại học. Theo các chuyên gia, để cải thiện vị trí và gia tăng sức hút với người học, các cơ sở đào tạo buộc phải đầu tư mạnh cho nghiên cứu, đẩy mạnh công bố quốc tế.
Tuy nhiên, trong bối cảnh số lượng bài báo tăng nhanh, vấn đề đặt ra là làm thế nào để các công bố này thực sự tạo ra giá trị. Phát biểu của Quyền Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn được xem như một lời nhắc về việc chuyển trọng tâm từ “đếm số lượng” sang đánh giá hiệu quả và tác động của nghiên cứu.
Nhìn từ thực tiễn, sự gia tăng mạnh mẽ về công bố quốc tế là tín hiệu tích cực, phản ánh năng lực nghiên cứu của Việt Nam đang được cải thiện. Song, như yêu cầu từ cơ quan quản lý, giai đoạn tiếp theo đòi hỏi hệ thống khoa học công nghệ không chỉ dừng ở việc gia tăng sản lượng bài báo, mà cần hướng tới các sản phẩm nghiên cứu có giá trị ứng dụng, đóng góp trực tiếp cho sự phát triển của nền kinh tế và xã hội.
Công bố quốc tế được cho là thước đo quan trọng để đánh giá năng lực của các nhà nghiên cứu và quyết định xếp hạng đại học thông qua WoS, Scopus...
Công bố quốc tế: Từ khuyến khích đến tiêu chuẩn "cứng" tại các đại học
Thời gian qua, nhằm thúc đẩy công bố quốc tế, nhiều cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam đã triển khai các chính sách khuyến khích theo hướng gia tăng đãi ngộ và đầu tư nguồn lực. Các biện pháp phổ biến gồm thưởng tiền mặt trực tiếp cho bài báo thuộc hệ thống WoS/Scopus, giảm định mức giờ giảng, tăng kinh phí nghiên cứu và nâng cấp cơ sở vật chất. Bên cạnh đó, không ít trường ưu tiên tuyển dụng, xét thăng tiến và bổ nhiệm chức danh khoa học dựa trên năng lực công bố.
Đơn cử, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tài trợ nghiên cứu và thưởng công bố quốc tế, với mức hỗ trợ căn cứ vào chất lượng tạp chí theo các cơ sở dữ liệu Web of Science (SSCI, SCIE, AHCI), Scopus và ABDC, đồng thời phân nhóm theo hệ số ảnh hưởng của từng lĩnh vực. Theo đó, mỗi công trình có thể được tài trợ từ 20 đến 220 triệu đồng, mức thưởng dao động từ 10 đến 110 triệu đồng.
Tại Trường Đại học Nha Trang, chính sách thưởng công bố cũng được triển khai theo phân hạng tạp chí. Cụ thể, bài báo đăng trên tạp chí thuộc danh mục SCIE, SSCI, A&HCI và nằm trong nhóm Q1 được thưởng 40 triệu đồng; nhóm Q2 hoặc tạp chí ESCI thuộc Q1 được thưởng 30 triệu đồng; nhóm Q3 hoặc ESCI thuộc Q2 được thưởng 20 triệu đồng; các trường hợp còn lại thuộc hệ thống SCIE, SSCI, A&HCI, ESCI, Scopus được thưởng 10 triệu đồng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam cũng áp dụng mức thưởng từ 15 đến 60 triệu đồng đối với các bài báo thuộc danh mục WoS/Scopus.
Hồi đầu tháng 3/2026, Đại học Bách khoa Hà Nội thông tuyển dụng 35 ứng viên trẻ tuổi, tài năng để đào tạo đạt trình độ tiến sĩ và trở thành giảng viên của trường.
Trong đó, Nhà trường ưu tiên tốt nghiệp đại học loại xuất sắc từ các trường đại học uy tín trong và ngoài nước; là tác giả chính của công bố trong danh mục WoS/Scopus; có khả năng nghiên cứu, kinh nghiệm và năng lực thực tế gắn với chuyên môn.
Theo thông báo hồi tháng 2/2026, Học viện Ngoại giao tuyển 30 giảng viên. Học viện này cũng ưu tiên ứng viên tiến sĩ hoặc có nghiên cứu đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS/Scopus.
Công bố quốc tế cũng là một trong những tiêu chuẩn trong xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư. Theo Quyết định số 37/2018/QĐ-TTg, ứng viên giáo sư phải là tác giả chính của tối thiểu 5 công trình khoa học sau khi đạt chuẩn phó giáo sư; trường hợp không đủ có thể thay thế bằng 3 công trình khoa học kèm 2 chương sách hoặc 2 sách chuyên khảo do nhà xuất bản uy tín quốc tế phát hành. Đối với chức danh phó giáo sư, yêu cầu tối thiểu là 3 công trình khoa học sau khi bảo vệ tiến sĩ; trường hợp không đủ có thể thay bằng 2 công trình khoa học kèm 1 chương sách hoặc 1 sách chuyên khảo.
Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT về Chuẩn cơ sở giáo dục đại học cũng đặt ra tiêu chí bắt buộc đối với công bố khoa học. Theo đó, Chuẩn cơ sở giáo dục đại học quy định số lượng công bố khoa học và công nghệ tính bình quân trên một giảng viên toàn thời gian không thấp hơn 0,3 bài/năm. Đối với các cơ sở đào tạo tiến sĩ (trừ ngành đặc thù), mức này không thấp hơn 0,6 bài/năm, trong đó số bài thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus (có tính trọng số theo lĩnh vực) không thấp hơn 0,3 bài/năm. Quy định này được xem là thước đo quan trọng để đánh giá năng lực nghiên cứu, mức độ tự chủ và uy tín học thuật quốc tế của các cơ sở giáo dục đại học.
Tài liệu tham khảo:
[1]: https://giaoduc.net.vn/phat-huy-vai-tro-nong-cot-cua-cac-co-so-giao-duc-dai-hoc-trong-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-post258379.gd
[2]: https://giaoduc.net.vn/xep-hang-bai-bao-nghien-cuu-cua-cac-co-so-giao-duc-dai-hoc-viet-nam-nam-2025-post257763.gd