Tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày 25/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải xác định rõ mục tiêu phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản trong giai đoạn mới, bảo đảm vừa tháo gỡ các điểm nghẽn trước mắt, vừa xây dựng nền tảng tri thức lâu dài phục vụ phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu này là: "Tái định vị 2 Viện Hàn lâm và tăng cường liên kết hệ sinh thái khoa học. Hai Viện Hàn lâm cần trở thành các thiết chế tri thức chiến lược của Trung ương, của quốc gia; đồng thời phải kết nối chặt chẽ với đại học nghiên cứu, doanh nghiệp, bộ, ngành, địa phương và cơ quan hoạch định chính sách để hình thành hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản có chiều sâu, có tích lũy và có khả năng phục vụ quyết sách lớn của đất nước".
Điểm "nghẽn" trong đào tạo nghiên cứu sinh tại viện hàn lâm
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái - Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (gọi tắt là Viện Hàn lâm) chia sẻ, trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực chủ yếu cho phát triển đất nước, việc kiện toàn vị thế của Viện Hàn lâm không chỉ là sự thay đổi về mặt tổ chức, mà còn đặt ra yêu cầu, sứ mệnh và trách nhiệm mới trong giai đoạn tiếp theo.
"Theo tôi, việc định hướng Viện Hàn lâm trở thành một thiết chế tri thức chiến lược của Đảng và Nhà nước là một yêu cầu quan trọng. Bên cạnh nhiệm vụ thực hiện nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Viện Hàn lâm cần phải trở thành trung tâm tư duy chiến lược, cung cấp các luận cứ khoa học cho quá trình hoạch định chính sách, đồng thời dẫn dắt xu hướng công nghệ mới, góp phần nâng cao năng lực tự chủ khoa học, công nghệ của đất nước.
Trong giai đoạn tới, Viện Hàn lâm cần thay đổi cách tiếp cận nghiên cứu, trong đó phải tập trung vào những vấn đề đất nước đang cần, tham gia giải quyết các bài toán lớn của quốc gia như an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, tự chủ công nghệ và phát triển kinh tế xanh. Đây là những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, tính tự chủ và sự phát triển bền vững của đất nước trong những năm tới", ông Thái nhấn mạnh.
Chia sẻ về công tác đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái cho biết, hiện Viện Hàn lâm đang triển khai đào tạo thông qua hai đơn vị là Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội ở trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; Học viện Khoa học và Công nghệ ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ.
Điểm đặc thù của mô hình đào tạo tại Viện Hàn lâm là đào tạo gắn trực tiếp với hệ thống các viện nghiên cứu chuyên ngành, phòng thí nghiệm trọng điểm và nhóm nghiên cứu mạnh. Viện có mạng lưới các viện nghiên cứu chuyên ngành cùng nhiều trung tâm nghiên cứu trong lĩnh vực Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Khoa học vật liệu, Khoa học trái đất, Công nghệ thông tin, Công nghệ sinh học… Đây được xem là nền tảng quan trọng để đào tạo nghiên cứu sinh theo hướng chuyên sâu, gắn với thực tiễn nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, dù có lợi thế lớn về đội ngũ chuyên gia và điều kiện nghiên cứu, công tác đào tạo nghiên cứu sinh của Viện Hàn lâm vẫn đối mặt với bài toán thiếu nguồn tuyển nghiên cứu sinh chất lượng cao. Hệ thống phòng thí nghiệm, đội ngũ giáo sư, nhà khoa học và năng lực hướng dẫn của Viện rất lớn, song số lượng nghiên cứu sinh tuyển mới chưa tương xứng với năng lực đào tạo thực tế.
Lý giải về thực trạng này, ông Thái chỉ ra một số nguyên nhân như sau:
Thứ nhất, ngành Khoa học cơ bản chưa đủ sức hút với người trẻ trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi nhanh chóng. Việc theo học tiến sĩ kéo dài nhiều năm, áp lực nghiên cứu, yêu cầu công bố quốc tế ngày càng cao, trong khi cơ hội việc làm, thu nhập sau tốt nghiệp chưa hấp dẫn bằng các lĩnh vực kinh tế, công nghệ ứng dụng hay doanh nghiệp tư nhân.
Thứ hai, nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm bắt buộc phải có công bố quốc tế thuộc danh mục SCIE mới đủ điều kiện bảo vệ luận án. Yêu cầu này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nhưng cũng tạo thêm áp lực với người học, đặc biệt ở các ngành Khoa học cơ bản và lĩnh vực đặc thù như Hải dương học, Địa chất, Khoa học vũ trụ - những ngành khó tuyển sinh do cộng đồng học thuật nhỏ và thời gian đào tạo kéo dài.
Thứ ba, sự khác biệt giữa mô hình viện nghiên cứu và yêu cầu pháp lý của cơ sở giáo dục đại học. Phần lớn nhà khoa học của Viện Hàn lâm là cán bộ biên chế thuộc các viện nghiên cứu chuyên ngành, trong khi quy định đào tạo yêu cầu số lượng giảng viên cơ hữu trực tiếp của cơ sở đào tạo. Sự khác biệt này trở thành điểm nghẽn đối với hoạt động đào tạo sau đại học trong viện nghiên cứu.
Ông Thái cũng cho rằng, số lượng người học lựa chọn theo đuổi ngành Khoa học cơ bản, đặc biệt ở bậc sau đại học ngày càng ít. Trước hết, do xã hội thường nhìn thấy thành công của công nghệ nhưng ít nhận ra nền tảng khoa học phía sau. Những lĩnh vực như chip bán dẫn, mạng xã hội hay vaccine mRNA (công nghệ y tế) đều được xây dựng từ hàng chục năm nghiên cứu Toán học, Vật liệu, Sinh học… Do khoa học cơ bản thường "ẩn mình" sau các thành tựu công nghệ nên dễ bị nhìn nhận là xa thực tiễn, khó tạo ra giá trị kinh tế - xã hội trực tiếp.
Một nguyên nhân khác nằm ở cách đào tạo còn nặng về kiến thức, thi cử, thiếu tính khám phá và trải nghiệm thực tiễn. Nhiều học sinh đến với Toán học, Vật lý, Sinh học hay Hóa học từ niềm yêu thích tìm hiểu tự nhiên và khám phá thế giới, song quá trình học tập dần biến thành luyện đề, học thuộc và chạy theo điểm số, khiến cảm hứng sáng tạo, đam mê nghiên cứu bị mai một.
Tiếp đó, chính sách khuyến khích dành cho sinh viên ngành Khoa học cơ bản còn hạn chế, chưa tạo được sức hút so với các ngành khác. Điều này khiến nhiều em có năng lực học tập tốt có xu hướng lựa chọn các ngành có cơ hội việc làm và thu nhập rõ ràng hơn thay vì theo đuổi khoa học cơ bản.
Cuối cùng là cách xã hội nhìn nhận các nhà khoa học. Ở nhiều quốc gia phát triển, các giáo sư, viện sĩ, chuyên gia khoa học cơ bản có vị thế xã hội rất cao. Trong khi đó, tại Việt Nam, nhà khoa học nhiều khi vẫn bị xem là những người "khác biệt" và ít xuất hiện trước công chúng. Việc thiếu các hình mẫu truyền cảm hứng khiến người trẻ khó hình dung giá trị và ý nghĩa của con đường nghiên cứu khoa học.
Thúc đẩy mô hình nghiên cứu gắn với bài toán lớn của quốc gia
Để khoa học cơ bản thực sự trở thành nền tảng cho đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái cho rằng, cần thay đổi cách tiếp cận đối với khoa học cơ bản, không chỉ xem đây là hoạt động học thuật thuần túy, mà phải nhìn nhận là nền tảng tri thức chiến lược của quốc gia.
Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thể hiện rõ tư duy này khi nhấn mạnh khoa học cơ bản là cơ sở hình thành công nghệ lõi, nâng cao năng lực tự chủ quốc gia và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt. Đây là định hướng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam trong giai đoạn mới.
Gần đây, Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026 của Chính phủ quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược là một bước đi kịp thời và đúng hướng. Điểm đáng chú ý là lần đầu tiên khoa học cơ bản được đặt trong cùng hệ chính sách với các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn. Điều này càng khẳng định, muốn phát triển công nghệ chiến lược trước hết phải có nền tảng khoa học cơ bản đủ mạnh.
Tuy vậy, học bổng mới chỉ là bước khởi đầu. Muốn thu hút và giữ chân người trẻ theo đuổi khoa học cơ bản cần hình thành hệ sinh thái phát triển nhân lực khoa học hoàn chỉnh, trong đó có các cơ chế đặc thù về học bổng, kinh phí nghiên cứu, tiền lương, đãi ngộ và môi trường làm việc.
Cùng với đó cần tạo dựng vị thế xã hội, môi trường học thuật và cơ hội phát triển nghề nghiệp cho đội ngũ nghiên cứu trẻ. Nhà khoa học cần được bảo đảm điều kiện để có thể toàn tâm theo đuổi nghiên cứu, được tham gia các chương trình hợp tác quốc tế lớn, tiếp cận hạ tầng nghiên cứu tiên tiến và có cơ chế đánh giá theo chất lượng, đóng góp thực chất thay vì nặng về thủ tục hành chính.
Ngoài ra, cần tăng cường đầu tư theo hướng dài hạn, ổn định và tập trung. Muốn có những phát minh và công nghệ nền tảng cần chấp nhận đầu tư lâu dài cho các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm hiện đại, cơ sở dữ liệu lớn và hạ tầng tính toán hiệu năng cao.
Không chỉ vậy, cần thúc đẩy mạnh mẽ liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế, từ đó hình thành nhóm nghiên cứu liên ngành, phòng thí nghiệm dùng chung và trung tâm đổi mới sáng tạo gắn với bài toán phát triển quốc gia.
Đối với Viện Hàn lâm, kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là định hướng chiến lược quan trọng để đổi mới nhận thức về vai trò của khoa học cơ bản trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ đối với các viện nghiên cứu quốc gia.
Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhấn mạnh, để thực hiện tinh thần chỉ đạo này, cần chuyển từ tư duy "nghiên cứu theo ngành" sang "nghiên cứu xây dựng nền tảng chiến lược cho phát triển đất nước"; từ mô hình viện nghiên cứu truyền thống sang mô hình trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ chiến lược quốc gia.
Trước hết, mỗi nhà khoa học của Viện Hàn lâm cần nhận thức rõ vai trò của khoa học cơ bản trong giai đoạn mới, coi đây là nền tảng cho công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và năng lực dự báo quốc gia, qua đó tạo nền tảng cho tự chủ công nghệ trong tương lai.
Hiện Viện Hàn lâm đang định hướng hình thành 9 trung tâm nghiên cứu sản xuất liên ngành lớn gắn với các bài toán chiến lược của quốc gia. Việc này nhằm chuyển từ mô hình nghiên cứu phân tán theo từng đề tài nhỏ sang mô hình nghiên cứu theo nhiệm vụ quốc gia và phát triển sản phẩm chiến lược mang thương hiệu Việt Nam. Đây sẽ là môi trường để học viên, nghiên cứu sinh tham gia các dự án lớn, nuôi dưỡng đam mê nghiên cứu và khát vọng đóng góp cho khoa học.
Cùng với đổi mới định hướng nghiên cứu, Viện Hàn lâm xác định phát triển nguồn nhân lực khoa học trẻ là giải pháp trọng tâm trong giai đoạn tới. Viện Hàn lâm đang triển khai nhiều chính sách trên cơ sở tận dụng các cơ chế của Nhà nước như Nghị định 249/2025/NĐ-CP; Nghị định 267/2025/NĐ-CP và Thông tư 43/2025/TT-BKHCN.
Viện Hàn lâm cũng xác định cần phát triển mạnh hạ tầng nghiên cứu và dữ liệu dùng chung mang tính chiến lược quốc gia. Với lợi thế đa ngành, Viện Hàn lâm đang hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu chiến lược về biển, môi trường, đa dạng sinh học, vật liệu, khoa học trái đất và các nền tảng dữ liệu phục vụ AI và mô hình hóa. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu liên ngành và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn tới.
Đặc biệt, cần thúc đẩy liên kết viện - trường - doanh nghiệp - địa phương và hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Hiện, Viện Hàn lâm đang thúc đẩy mô hình phòng thí nghiệm dùng chung, trung tâm nghiên cứu liên kết và các nhóm nghiên cứu hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp nhằm đưa các kết quả nghiên cứu cơ bản tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển công nghệ và giải quyết những bài toán lớn của đất nước.
Đồng thời, Viện Hàn lâm tiếp tục mở rộng hợp tác với các viện hàn lâm, trường đại học và tổ chức khoa học lớn trên thế giới thông qua mạng lưới nghiên cứu quốc tế, dự án khoa học lớn, chương trình hợp tác đa phương. Đây không chỉ là cơ hội tiếp cận tri thức tiên tiến, mà còn góp phần nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế.
"Theo tôi, một trong những yêu cầu quan trọng trong chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là nâng cao vai trò tư vấn chiến lược của khoa học cơ bản đối với phát triển đất nước. Với vai trò là cơ quan nghiên cứu hàng đầu Việt Nam, Viện Hàn lâm sẽ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu dự báo về xu hướng công nghệ mới như công nghệ lượng tử, công nghệ y sinh, chuyển đổi năng lượng, an ninh dữ liệu... để cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định chính sách phát triển dài hạn.
Chúng tôi mong muốn triển khai đồng bộ các giải pháp về đổi mới nhận thức, phát triển nhân lực khoa học trẻ, xây dựng hạ tầng nghiên cứu dùng chung, thúc đẩy liên kết đổi mới sáng tạo, tăng cường hội nhập quốc tế và phát huy vai trò tư vấn chiến lược, để từng bước trở thành hạt nhân khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; đồng thời đóng vai trò trung tâm kết nối tri thức để chuyển hóa khoa học cơ bản thành động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới", Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam bày tỏ.