Giám đốc Đại học Thái Nguyên chỉ ra những nút thắt cần tháo gỡ để khoa học cơ bản bứt phá

Giám đốc Đại học Thái Nguyên chỉ ra những nút thắt cần tháo gỡ để khoa học cơ bản bứt phá

08/06/2026 06:24
ĐÀO HIỀN

GDVN - Để hiện thực hóa mục tiêu hình thành các lĩnh vực khoa học có năng lực cạnh tranh quốc tế vào năm 2045, vẫn còn nhiều rào cản về cơ chế, đầu tư và phát triển đội ngũ cần được giải quyết.

Trong bối cảnh cạnh tranh về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, khoa học cơ bản đang được đặt trở lại vị trí nền tảng trong chiến lược phát triển đất nước.

Tại buổi làm việc mới đây của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ công tác nghiên cứu khoa học cơ bản cả về nhận thức, thể chế, cơ chế đầu tư và tổ chức thực hiện. Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ cho thấy tầm nhìn dài hạn đối với khoa học cơ bản mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tạo dựng nền tảng tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm nâng cao năng lực tự chủ và vị thế của Việt Nam trong thế kỷ XXI.

3.jpg

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam về vai trò của khoa học cơ bản, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng - Giám đốc Đại học Thái Nguyên cho biết bản thân đặc biệt tâm đắc với quan điểm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khi đặt khoa học cơ bản vào vị trí nền tảng tri thức quốc gia.

Theo thầy Hùng, đây không phải lần đầu vai trò của khoa học cơ bản được nhấn mạnh. Tuy nhiên, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt vấn đề này trong bối cảnh Việt Nam hướng tới tự chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế quốc gia trong thế kỷ XXI đã làm nổi bật hơn tính chiến lược cũng như yêu cầu cấp thiết của việc đầu tư cho khoa học cơ bản.

Là một đại học vùng trọng điểm với hơn 200 giáo sư, phó giáo sư và trên 1.000 tiến sĩ hoạt động ở nhiều lĩnh vực từ kỹ thuật - công nghệ, nông lâm nghiệp, y học, giáo dục đến khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Thái Nguyên hiện xác định khoa học cơ bản là một trong những trụ cột phát triển quan trọng.

Theo thầy Hùng, đơn vị đang phát huy thế mạnh nghiên cứu khoa học cơ bản thông qua hai trung tâm học thuật nòng cốt. Trong đó, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên tập trung nghiên cứu các lĩnh vực khoa học tự nhiên như Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học và Khoa học môi trường. Còn Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên vừa thực hiện nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, vừa đảm nhiệm sứ mệnh đào tạo đội ngũ nhà giáo - những người trực tiếp lan tỏa và chuyển giao tri thức nền tảng tới các thế hệ học sinh.

"Hai hướng đi này bổ trợ chặt chẽ cho nhau, một bên tạo ra tri thức mới, một bên chuyển hóa tri thức thành năng lực con người. Đó cũng là cách để khoa học cơ bản thực sự trở thành nền tảng cho phát triển bền vững", thầy Hùng cho hay.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng, một trong những rào cản đối với sự phát triển của khoa học cơ bản hiện nay là xã hội vẫn chưa nhìn nhận đầy đủ vai trò nền tảng của lĩnh vực này. Thực tế, các ngành đang được ưu tiên đầu tư như trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, công nghệ sinh học hay y sinh học đều được xây dựng trên cơ sở những thành tựu của Toán học, Vật lý, Hóa học và Sinh học. Không có nền tảng khoa học cơ bản vững chắc, mục tiêu làm chủ công nghệ và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia về khoa học - công nghệ sẽ khó trở thành hiện thực.

Bên cạnh khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn cũng cần được nhìn nhận đầy đủ về vai trò và giá trị chiến lược. Đây không chỉ là lĩnh vực nghiên cứu về con người, văn hóa hay lịch sử, mà còn góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình hoạch định chính sách, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, giải quyết các vấn đề xã hội, đồng thời hỗ trợ định hướng phát triển bền vững của đất nước.

Đặc biệt, đối với khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, nơi có sự đa dạng về dân tộc, văn hóa và điều kiện phát triển - khoa học xã hội và nhân văn càng có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu các vấn đề liên quan đến cộng đồng, sinh kế, bảo tồn văn hóa và phát triển vùng.

blue-minimalist-greeting-presentation-1.jpg

Trong bối cảnh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác nghiên cứu khoa học cơ bản từ thể chế, cơ chế đầu tư đến tổ chức thực hiện, việc nhận diện những rào cản đang cản trở sự phát triển của lĩnh vực này trở nên đặc biệt quan trọng.

Chia sẻ về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng cho rằng những khó khăn lớn nhất của hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản hiện nay không nằm ở việc thiếu người tài hay thiếu ý tưởng nghiên cứu, mà chủ yếu xuất phát từ cơ chế và điều kiện làm việc của đội ngũ nhà khoa học.

Theo đó, tại các trường đại học, đặc biệt là các cơ sở giáo dục đại học vùng, giảng viên thường phải đảm nhiệm đồng thời nhiều nhiệm vụ như giảng dạy, hướng dẫn sinh viên, thực hiện công tác quản lý, hành chính và đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, công bố quốc tế. Trong khi đó, nghiên cứu khoa học cơ bản là lĩnh vực đòi hỏi thời gian dài, sự kiên trì và khả năng tập trung chuyên sâu. Áp lực công việc hiện nay khiến nhiều nhà khoa học khó có điều kiện dành toàn bộ tâm sức cho nghiên cứu.

Một điểm nghẽn khác là nguồn lực tài chính dành cho khoa học cơ bản còn hạn chế. Do đặc thù có chu kỳ sinh lợi dài và khó tạo ra kết quả thương mại trong ngắn hạn, lĩnh vực này chưa thu hút được nhiều nguồn vốn từ doanh nghiệp. Hoạt động nghiên cứu hiện vẫn phụ thuộc chủ yếu vào các chương trình tài trợ từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (Nafosted) và các đề tài cấp bộ. Tuy nhiên, số lượng đề tài còn hạn chế, trong khi thủ tục triển khai, thanh quyết toán và quản lý vẫn còn nhiều yêu cầu hành chính, ảnh hưởng đến hiệu quả nghiên cứu.

Đồng thời, bài toán thu hút và giữ chân nhân tài cũng là thách thức lớn đối với các cơ sở giáo dục đại học. Nhiều nghiên cứu sinh, nhà khoa học trẻ được đào tạo ở nước ngoài thường có xu hướng lựa chọn làm việc tại các trung tâm lớn hoặc khu vực tư nhân thay vì trở về các địa phương, vùng trung du và miền núi. Trong khi đó, thu nhập từ hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản hiện chưa đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp công nghệ hoặc khu vực tư nhân.

blue-minimalist-greeting-presentation-2.jpg

Dù còn nhiều khó khăn, song Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng cho biết hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Thái Nguyên đang ghi nhận những tín hiệu tích cực. Trong hai năm qua, nhà trường triển khai 90 đề tài cấp nhà nước, 359 đề tài cấp bộ và cấp tỉnh, cùng 129 đề tài cấp đại học. Kết quả nghiên cứu được thể hiện qua 2.166 bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục WoS/Scopus, 1.468 bài báo quốc tế khác và 5.914 bài báo trong nước. Số lượng công bố quốc tế tăng trung bình khoảng 10% mỗi năm.

Trong năm học 2024-2025, Trường Đại học Khoa học được vinh danh là đơn vị dẫn đầu về công bố quốc tế thuộc danh mục WoS, trong khi Trường Đại học Sư phạm được ghi nhận có nhiều thành tích nổi bật trong nghiên cứu khoa học của sinh viên và giảng viên trẻ. Theo thầy Hùng, mặc dù hai đơn vị theo đuổi những hướng phát triển khác nhau - một bên tập trung vào nghiên cứu chuyên sâu, hội nhập quốc tế, một bên chú trọng phát hiện và bồi dưỡng lực lượng nghiên cứu trẻ - nhưng đều giữ vai trò quan trọng và bổ trợ cho nhau trong hệ sinh thái nghiên cứu của Đại học Thái Nguyên.

Song song với nghiên cứu cơ bản, hoạt động chuyển giao công nghệ cũng được đẩy mạnh nhằm đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất và đời sống. Giai đoạn 2020-2025, Đại học Thái Nguyên đã thành lập 105 nhóm nghiên cứu, trong đó có các nhóm nghiên cứu mạnh, nhóm chuyên sâu và nhóm nghiên cứu sản phẩm chiến lược quốc gia; xây dựng 4 trung tâm khởi nghiệp, 3 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; triển khai nhiều chương trình hợp tác nghiên cứu trong nước và quốc tế. Nhà trường cũng ký kết 104 hợp đồng chuyển giao công nghệ, tư vấn kỹ thuật và dịch vụ khoa học với các địa phương, doanh nghiệp, tổ chức, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

Tuy nhiên, Giám đốc Đại học Thái Nguyên cho rằng, những kết quả hiện nay mới là nền tảng ban đầu. Để hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh thực sự có thương hiệu quốc tế, có năng lực dẫn dắt và tạo ra những đột phá về tri thức, cần có chiến lược đầu tư dài hạn, tập trung và có trọng điểm. Thay vì phân bổ nguồn lực dàn trải, cần ưu tiên cho các lĩnh vực có lợi thế của vùng như vật liệu tiên tiến, môi trường và sinh thái vùng cao, khoa học nông nghiệp, y sinh học và khoa học xã hội liên quan đến cộng đồng các dân tộc thiểu số.

Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP quy định chính sách học bổng đối với người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng, dù chính sách còn rất mới, nhưng đã phát đi tín hiệu tích cực tới người học và phụ huynh. Nhiều ngành khoa học cơ bản vốn gặp khó khăn trong tuyển sinh nay có thêm sức hút để thí sinh cân nhắc lựa chọn.

Dưới góc độ quản lý một đại học vùng, thầy Hùng đánh giá đây là một bước tiến quan trọng về chính sách. Việc Nhà nước hỗ trợ học bổng cho các ngành trọng điểm không chỉ góp phần khuyến khích người học theo đuổi các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ mang tính chiến lược, mà còn tạo nền tảng cho hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.

Tuy nhiên, học bổng mới chỉ giải quyết được một phần bài toán. Trên thực tế, điều người học quan tâm không chỉ là học phí hay chi phí sinh hoạt trong vài năm đại học, mà còn là triển vọng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Những câu hỏi như học khoa học cơ bản ra trường làm gì, thu nhập có bảo đảm hay không, cơ hội phát triển nghề nghiệp như thế nào vẫn là những băn khoăn lớn đối với nhiều thí sinh và gia đình.

Vì vậy, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, thầy Hùng cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế hỗ trợ đồng bộ. Trước hết là chính sách đầu ra, trong đó Nhà nước và các đơn vị sử dụng lao động cần có cơ chế ưu tiên tuyển dụng, tạo việc làm hấp dẫn cho cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ thuộc các ngành khoa học cơ bản.

Bên cạnh đó, cần mở rộng các chương trình học bổng và hỗ trợ đào tạo sau đại học gắn với các đề tài nghiên cứu, bởi hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản thực chất thường được phát triển mạnh từ trình độ tiến sĩ trở lên. Đồng thời, cần đầu tư xây dựng môi trường nghiên cứu thuận lợi với hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, các nhóm nghiên cứu mạnh, cơ hội công bố quốc tế và cơ chế ghi nhận xứng đáng đối với những đóng góp khoa học.

“Nếu không có những điều kiện này, chính sách học bổng chỉ có thể hỗ trợ người học trong giai đoạn đầu, nhưng khó tạo động lực để họ gắn bó lâu dài với con đường nghiên cứu khoa học cơ bản”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng cho hay.

5.jpg

Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đến năm 2045 hình thành một số lĩnh vực khoa học cơ bản có năng lực cạnh tranh quốc tế, từng bước xây dựng các trường phái khoa học Việt Nam, nâng cao năng lực tự chủ ở một số công nghệ chiến lược, đồng thời phát triển nền khoa học xã hội và nhân văn đủ năng lực cung cấp luận cứ cho quản trị quốc gia hiện đại đã cho thấy tầm nhìn dài hạn đối với sự phát triển khoa học và công nghệ của đất nước.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng, đây là mục tiêu có ý nghĩa chiến lược, thể hiện khát vọng nâng tầm năng lực khoa học quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư cho ba nhóm lĩnh vực chiến lược.

Thứ nhất là các ngành khoa học cơ bản mà Việt Nam có lợi thế và nền tảng phát triển tốt như Toán học, Vật lý lý thuyết, khoa học vật liệu, sinh học phân tử và khoa học môi trường.

Thứ hai là các lĩnh vực nền tảng cho chiến lược chuyển đổi số quốc gia như khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và an toàn thông tin, nhưng cần được đầu tư theo chiều sâu nghiên cứu cơ bản thay vì chỉ tập trung vào ứng dụng.

Thứ ba là khoa học xã hội và nhân văn gắn với phát triển bền vững, gồm quản trị công, chính sách dân tộc, văn hóa và bản sắc cộng đồng - những lĩnh vực giữ vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách và phát triển đất nước.

4.jpg

Đề cập đến vai trò của các đại học vùng, thầy Hùng cho rằng đây là lực lượng quan trọng nhưng chưa được định vị đúng mức trong hệ thống giáo dục đại học. Theo thầy, thế mạnh của đại học vùng không phải cạnh tranh với các đại học quốc gia mà là khả năng huy động nguồn lực đa ngành để giải quyết các vấn đề phát triển của địa phương và vùng.

Tại Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học Khoa học tập trung nghiên cứu khoa học tự nhiên cơ bản, trong khi Trường Đại học Sư phạm đảm nhận nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên và lan tỏa tri thức nền tảng. Cùng với hệ thống 7 trường thành viên và các phân hiệu tại nhiều địa phương miền núi, Đại học Thái Nguyên có điều kiện đưa hoạt động đào tạo, nghiên cứu đến gần hơn với thực tiễn phát triển của vùng.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng, để đạt mục tiêu đến năm 2045 hình thành một số lĩnh vực khoa học cơ bản có năng lực cạnh tranh quốc tế, các đại học trọng điểm và đại học vùng cần được định vị rõ vai trò trong chiến lược phát triển khoa học quốc gia, theo hướng bổ trợ thay vì cạnh tranh.

Về phía Đại học Thái Nguyên, nhà trường sẽ tiếp tục tập trung xây dựng các nhóm nghiên cứu xuất sắc, phát triển đội ngũ tiến sĩ trẻ, đẩy mạnh công bố quốc tế và hình thành các trung tâm nghiên cứu liên ngành gắn với thế mạnh của vùng.

Trong thời gian tới, Đại học Thái Nguyên xác định phát triển đội ngũ khoa học theo hai hướng song song: giữ chân nhân lực chất lượng cao hiện có và chủ động thu hút các nhà khoa học từ bên ngoài.

Cụ thể, với đội ngũ hiện hữu sẽ giảm áp lực hành chính, tạo môi trường học thuật thuận lợi và tăng cường hỗ trợ nghiên cứu, công bố quốc tế. Đồng thời, nhà trường đang xây dựng các cơ chế linh hoạt để thu hút giáo sư thỉnh giảng, chuyên gia quốc tế và các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia các nhóm nghiên cứu.

Về hợp tác nghiên cứu, Đại học Thái Nguyên đang mở rộng kết nối với các cơ sở giáo dục đại học trong khu vực ASEAN, châu Âu và Đông Bắc Á, nhằm khai thác những vấn đề nghiên cứu gắn với đặc thù địa phương, đặc biệt trong các lĩnh vực như tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, nông nghiệp vùng cao và khoa học xã hội về cộng đồng dân tộc thiểu số.

Bên cạnh đó, nhà trường cũng chú trọng tăng cường trao đổi học thuật quốc tế, tạo điều kiện để sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh được tham gia học tập, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo tiên tiến trên thế giới. Đây được xem là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học trong tương lai.

Trong lĩnh vực chuyển đổi số, Đại học Thái Nguyên đang từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu nghiên cứu dùng chung, thư viện số và các nền tảng quản trị khoa học nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu, chia sẻ và khai thác dữ liệu.

"Chúng tôi không đặt mục tiêu chạy theo các bảng xếp hạng quốc tế bằng mọi giá mà hướng tới trở thành trung tâm tri thức có chiều sâu, có bản sắc của vùng Trung du và miền núi phía Bắc", thầy Hùng thông tin

ĐÀO HIỀN