Vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã có buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo để cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản.
Theo đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải xác định rõ mục tiêu phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản trong giai đoạn mới, bảo đảm vừa xử lý các điểm nghẽn trước mắt, vừa kiến tạo nền tảng tri thức lâu dài cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Tổng Bí thư cũng đã đề ra 9 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trên tinh thần chung là phải hành động quyết liệt hơn, đổi mới mạnh mẽ hơn và có tầm nhìn dài hạn hơn đối với nghiên cứu khoa học cơ bản.
Cơ chế, nhân lực và hạ tầng vẫn là những nút thắt của nghiên cứu khoa học cơ bản
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Hưng - Viện trưởng Viện nghiên cứu Khoa học cơ bản và Ứng dụng, Đại học Duy Tân cho biết, từ thực tiễn đào tạo và nghiên cứu, những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh đúng vai trò cốt lõi của khoa học cơ bản đối với năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của quốc gia.
Khoa học cơ bản không chỉ tạo ra tri thức mới mà còn là nền tảng hình thành tư duy khoa học, năng lực đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Trong một thời gian dài vừa qua, đâu đó vẫn coi khoa học cơ bản là lĩnh vực xa rời thực tiễn, khó mang lại giá trị kinh tế trước mắt, dù vai trò nền tảng của lĩnh vực này đã được nhiều nhà khoa học uy tín khẳng định.
Cách nhìn nhận đó khiến hoạt động đầu tư và nghiên cứu thiên về ứng dụng, chuyển giao công nghệ để tạo hiệu quả kinh tế ngắn hạn, trong khi chưa dành sự quan tâm tương xứng cho khoa học cơ bản.
Bên cạnh đó, theo Giáo sư Nguyễn Quang Hưng, các “điểm nghẽn” hiện nay đối với hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản tại các cơ sở giáo dục đại học nằm ở 3 vấn đề cốt lõi gồm: cơ chế, nguồn lực và hạ tầng.
Về cơ chế, việc tài trợ và đánh giá nghiên cứu vẫn còn thiên về các kết quả ngắn hạn, trong khi khoa học cơ bản đòi hỏi đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro và cần thời gian để tạo ra các đột phá. Nhiều nhóm nghiên cứu chưa có điều kiện xây dựng các chương trình nghiên cứu cơ bản kéo dài 5-10 năm với nguồn lực ổn định. Ngoài ra, cơ chế quản lý nhà khoa học trước nay chủ yếu dựa theo ngạch viên chức và thâm niên công tác, chưa phản ánh đúng năng lực và đóng góp khoa học của họ.
Về nguồn lực, nhân lực chất lượng cao hiện nay còn thiếu và chưa đồng đều. Việc thu hút sinh viên giỏi theo đuổi các ngành khoa học cơ bản ngày càng khó khăn do áp lực việc làm và thu nhập. Trong khi đó, số lượng nhà khoa học trẻ có khả năng dẫn dắt các hướng nghiên cứu mới còn hạn chế, đặc biệt ở những lĩnh vực nền tảng như Toán học, Vật lý, Hóa học và Khoa học sự sống.
Về hạ tầng nghiên cứu và khả năng tiếp cận các thiết bị hiện đại vẫn là một thách thức. Nhiều nghiên cứu tiên tiến hiện nay đòi hỏi hệ thống phòng thí nghiệm, trung tâm tính toán hiệu năng cao và các cơ sở dữ liệu lớn mà không phải trường đại học nào cũng có khả năng đầu tư hoặc khai thác hiệu quả.
“Một điểm nghẽn quan trọng khác là sự kết nối giữa nghiên cứu cơ bản với các chương trình phát triển công nghệ chiến lược của quốc gia còn chưa đủ mạnh. Khoa học cơ bản đôi khi vẫn được nhìn nhận như một hoạt động độc lập, trong khi thực tế đây chính là nguồn cung cấp tri thức, phương pháp và nhân lực cho các lĩnh vực như Bán dẫn, Trí tuệ nhân tạo, Công nghệ lượng tử, Vật liệu tiên tiến hay Năng lượng hạt nhân.
Ngoài ra, cơ chế tài chính chưa thực sự phù hợp với đặc thù của nghiên cứu khoa học. Trong thời gian dài, việc cấp kinh phí và đánh giá đề tài chủ yếu dựa trên các dự toán chi tiết về ngày công, vật tư, hóa chất cho từng hạng mục công việc. Trong khi đó, nghiên cứu khoa học cơ bản là hành trình tìm kiếm những tri thức chưa từng được biết đến nên không thể dự báo chính xác lộ trình, khối lượng công việc hay thời gian thực hiện ngay từ đầu. Cách quản lý mang tính định lượng cứng nhắc này phần nào làm giảm động lực theo đuổi những hướng nghiên cứu mới, có tính đột phá và rủi ro cao.
Cuối cùng, thách thức lớn nhất hiện không nằm ở cơ sở vật chất hay trang thiết bị mà ở việc phát hiện, bồi dưỡng và giữ chân nhân tài khoa học. Bởi lẽ, một phòng thí nghiệm có thể được đầu tư trong thời gian ngắn nhưng để đào tạo và phát triển một nhà khoa học xuất sắc hoặc xây dựng một nhóm nghiên cứu mạnh cần cả một quá trình lâu dài. Do đó, đầu tư cho con người cần được xác định là trọng tâm và là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển khoa học cơ bản của Việt Nam”, Giáo sư Nguyễn Quang Hưng cho hay.
Đánh giá vai trò của khoa học cơ bản đối với năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ và sự phát triển bền vững của Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ cho rằng đây chính là nền tảng để tạo ra công nghệ nguồn - yếu tố cốt lõi quyết định vị thế của một quốc gia trong nền kinh tế tri thức.
Một nền kinh tế muốn tạo ra giá trị gia tăng cao và những bước phát triển đột phá không thể chỉ dựa vào việc tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài. Trên thực tế, các quốc gia nắm giữ công nghệ thường chỉ chuyển giao những công nghệ đã được thương mại hóa, trong khi tiếp tục duy trì các công nghệ tiên tiến hơn như một lợi thế cạnh tranh chiến lược.
“Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Việt Nam phải từng bước làm chủ công nghệ nguồn và phát triển các quy trình công nghệ của riêng mình. Nếu chỉ phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, chúng ta sẽ rất khó giải quyết bài toán phát triển dài hạn
Mặc dù nghiên cứu ứng dụng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các nhu cầu thực tiễn trước mắt, song chính khoa học cơ bản mới là nơi sản sinh ra những tri thức nền tảng, mở đường cho các phát minh và công nghệ mang tính đột phá. Việt Nam hoàn toàn có thể tiếp thu, cải tiến và làm chủ các công nghệ tiên tiến của thế giới để phục vụ nhu cầu phát triển trong nước.
Tuy nhiên, đó chủ yếu là quá trình thích ứng và nâng cấp công nghệ hiện có. Về lâu dài, năng lực cạnh tranh quốc gia chỉ có thể được củng cố bền vững khi Việt Nam xây dựng được nền tảng khoa học cơ bản vững mạnh, đủ khả năng tạo ra những công nghệ, sản phẩm và tri thức mang dấu ấn riêng”, Giáo sư Đặng Ứng Vận cho hay.
Muốn phát triển nhân tài khoa học cơ bản phải giải được bài toán đầu ra và đãi ngộ
Bên cạnh đó, tại buổi làm việc với Thường trực Ban Chỉ đạo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đề cập đến mục tiêu: Xây dựng Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản. Chương trình cần bao quát từ phát hiện sớm, đào tạo tinh hoa, học bổng tiến sĩ, sau tiến sĩ, trưởng nhóm trẻ đến chuyên gia đầu ngành và trí thức Việt Nam toàn cầu; có cơ chế giao nhiệm vụ lớn, trao quyền tự chủ, hỗ trợ kinh phí khởi động và thu hút chuyên gia quốc tế, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài.
Theo Giáo sư Đặng Ứng Vận, Việt Nam đã có nhiều hoạt động tìm kiếm, đào tạo học sinh năng khiếu trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, hiệu quả vẫn chưa đạt như kỳ vọng do thiếu một cơ chế phát triển đồng bộ và xuyên suốt. Tài năng khoa học có thể được nhận diện thông qua nhiều kênh khác nhau như các kỳ thi học sinh giỏi, các cuộc thi nghiên cứu khoa học,...
Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ nằm ở việc phát hiện nhân tài mà còn ở cách tổ chức, phát triển bao quát nguồn nhân lực đó trong một hệ thống thống nhất. Giáo sư Đặng Ứng Vận cho rằng quá trình đào tạo cần được thiết kế như một "dây chuyền công nghệ", từ khâu phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo cho đến khi hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và tạo ra sản phẩm khoa học, công nghệ có giá trị kinh tế - xã hội.
Nhìn lại thực tiễn, song song với việc tìm kiếm nhân tài, Việt Nam đã cử nhiều học sinh, sinh viên xuất sắc đi đào tạo ở nước ngoài nhưng phần lớn quá trình nghiên cứu lại phụ thuộc vào định hướng của các giáo sư hướng dẫn tại nước sở tại. Vì vậy, khi trở về nước, các nhà khoa học trẻ thường phát triển theo những hướng nghiên cứu riêng lẻ, thiếu sự kết nối để hình thành các chương trình nghiên cứu lớn mang tính chiến lược quốc gia.
“Điều khó nhất hiện nay là làm thế nào để tập hợp được lực lượng khoa học theo những mục tiêu chung, từ đó hình thành các dự án quy mô lớn và tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh quốc tế. Trong một số lĩnh vực trọng điểm, Việt Nam cần những nhà khoa học đầu ngành đóng vai trò “tổng công trình sư”, vừa đề xuất các ý tưởng khoa học - công nghệ lớn, vừa có cơ chế và thẩm quyền để tập hợp nhân lực, tổ chức đào tạo, triển khai nghiên cứu và dẫn dắt toàn bộ quá trình thực hiện đến khi hoàn thành mục tiêu đề ra.
Ngoài ra, không nên tách biệt khoa học cơ bản khỏi các hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ mà cần xây dựng được hệ thống tiêu chí đánh giá phù hợp để định hướng sự phát triển của khoa học cơ bản.
Nếu vẫn chỉ lấy số lượng công bố quốc tế làm thước đo chủ yếu thì rất dễ dẫn đến tình trạng nghiên cứu đi theo mục tiêu công bố, trong khi chưa giải quyết được những vấn đề lớn của đất nước”, Giáo sư Đặng Ứng Vận nêu quan điểm.
Để giữ chân và phát triển đội ngũ nghiên cứu lâu dài, cần xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ từ đào tạo, tuyển dụng đến đãi ngộ. Quan trọng nhất là phải bảo đảm người học sau khi tốt nghiệp có việc làm ổn định, thu nhập tương xứng với công sức đào tạo và đủ sức cạnh tranh với các ngành nghề khác trong xã hội.
Đồng quan điểm trên, Giáo sư Nguyễn Quang Hưng cho rằng để Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản thực sự hiệu quả, cần tiếp cận theo tư duy phát triển hệ sinh thái nhân tài liên tục, từ phát hiện sớm, đào tạo, bồi dưỡng đến sử dụng và đãi ngộ nhân tài trong suốt sự nghiệp nghiên cứu.
Trước hết, cần xây dựng cơ chế phát hiện và nuôi dưỡng tài năng từ bậc phổ thông, thông qua các trường chuyên, các chương trình nghiên cứu dành cho học sinh, các cuộc thi khoa học và mạng lưới cố vấn là các nhà khoa học uy tín trong và ngoài nước.
Thứ hai, cần có quỹ học bổng Quốc gia đủ mạnh, ổn định, dành cho sinh viên xuất sắc, nghiên cứu sinh và nghiên cứu sau tiến sĩ trong các lĩnh vực khoa học cơ bản. Quan trọng hơn, cần một lộ trình nghề nghiệp rõ ràng, bao gồm vị trí việc làm, điều kiện nghiên cứu, cơ hội phát triển học thuật và cơ chế đánh giá minh bạch dựa trên năng lực.
Thứ ba, đối với đội ngũ nhà khoa học trẻ, cần trao quyền sớm cho họ thông qua các chương trình tài trợ độc lập, hỗ trợ thành lập nhóm nghiên cứu riêng, tiếp cận cơ sở vật chất hiện đại và tham gia các mạng lưới hợp tác quốc tế.
Thứ tư, tư duy quản lý các nhà khoa học nên thay đổi từ quản lý hành chính sang quản lý theo năng lực, kết quả và tác động khoa học. Có thể áp dụng cơ chế hợp đồng theo chu kỳ đánh giá thay vì hợp đồng dài hạn hay biên chế suốt đời. Đồng thời, nên xây dựng hệ đánh giá nhà khoa học một cách đa chiều và đãi ngộ theo thành tích nghiên cứu thay vì theo hệ số lương cơ bản, gắn trách nhiệm của nhà nghiên cứu với chiến lược phát triển của đơn vị.
Bên cạnh đó, để thu hút chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia các nhiệm vụ khoa học lớn của đất nước, cần xây dựng cơ chế thực sự cởi mở và linh hoạt. Các chuyên gia nên được tạo điều kiện để có thể tham gia dưới nhiều hình thức khác nhau như giáo sư thỉnh giảng, đồng chủ nhiệm đề tài, trưởng nhóm nghiên cứu hoặc cố vấn chiến lược cho các chương trình khoa học quốc gia.
Cuối cùng, Việt Nam cần tập trung hình thành một số trung tâm nghiên cứu xuất sắc đạt chuẩn quốc tế trong các lĩnh vực ưu tiên như Toán học, Vật lý, Khoa học vật liệu, Bán dẫn, Trí tuệ nhân tạo, Công nghệ lượng tử, Năng lượng hạt nhân. Đây sẽ là những yếu tố thu hút nhân tài trong nước và quốc tế, tạo ra môi trường đủ sức cạnh tranh với các trung tâm nghiên cứu hàng đầu trong khu vực.
Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy, đầu tư cho tài năng khoa học là khoản đầu tư có tỷ suất sinh lời cao nhất. Một nhà khoa học xuất sắc không chỉ tạo ra các công trình khoa học mà còn đào tạo nhiều thế hệ kế cận, hình thành các trường phái nghiên cứu và đóng góp trực tiếp vào năng lực tự chủ khoa học - công nghệ của quốc gia.
Ngoài ra, giải pháp xây dựng Quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia đa niên là hoàn toàn đúng đắn. Những đột phá khoa học lớn thường không xuất hiện trong chu kỳ tài trợ ngắn hạn mà cần được nuôi dưỡng bằng các chương trình nghiên cứu ổn định trong 5-10-15 năm, thậm chí lâu hơn. Đặc biệt đối với khoa học cơ bản, nhiều hướng nghiên cứu có giá trị chiến lược rất lớn nhưng chưa thể tạo ra kết quả ứng dụng hoặc công bố nổi bật trong thời gian ngắn.
Theo Giáo sư Nguyễn Quang Hưng, để Quỹ vừa bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, vừa tạo điều kiện cho các nghiên cứu dài hạn và chấp nhận rủi ro khoa học, cần xây dựng mô hình tài trợ theo nhiều tầng khác nhau.
Đặc biệt, đối với các hướng nghiên cứu chiến lược, cần ưu tiên các lĩnh vực có khả năng tạo nền tảng tri thức và năng lực công nghệ cho đất nước trong nhiều thập niên tới. Đồng thời, cơ chế đánh giá cần chuyển từ tư duy “quản lý đề tài” sang “đầu tư cho con người và ý tưởng”. Thay vì tập trung quá nhiều vào các thủ tục hành chính hoặc số lượng sản phẩm, cần đánh giá năng lực khoa học, chất lượng công bố, đóng góp học thuật, khả năng đào tạo thế hệ kế cận và tác động dài hạn của chương trình nghiên cứu.
“Tôi cho rằng một Quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia đa niên thành công không phải là quỹ tài trợ cho nhiều đề tài mà là quỹ có khả năng tạo ra những nhà khoa học xuất sắc, những nhóm nghiên cứu mạnh và những kết quả khoa học đủ sức định hình các công nghệ chiến lược của Việt Nam trong tương lai.
Nếu được thiết kế đúng, Quỹ sẽ không chỉ là công cụ cấp kinh phí nghiên cứu mà còn là thiết chế chiến lược để xây dựng năng lực tự chủ về tri thức, phát triển khoa học Việt Nam và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế”, Giáo sư Nguyễn Quang Hưng nhận định.