ĐHQG TPHCM chi cho người học sau đại học tối đa 560 triệu: Không đơn thuần là hỗ trợ về tài chính

13/06/2026 06:25
Khánh Hòa

GDVN - Theo đại diện một số trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia TP.HCM, chương trình hỗ trợ đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu và đổi mới sáng tạo sẽ tạo động lực thu hút nhân tài, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao.

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 504/QĐ-ĐHQG phê duyệt "Chương trình hỗ trợ đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030". Nội dung cụ thể như sau:

chuong-trin.jpg
Ảnh: website Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiền đề quan trọng để hình thành cộng đồng học giả trẻ có năng lực nghiên cứu mạnh

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Duy Phương - Trưởng phòng, Phòng Quan hệ Đối ngoại, Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, đây là một chính sách có tính đột phá và mang ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nguồn nhân lực trình độ cao của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và các trường đại học thành viên nói riêng.

Mức hỗ trợ tối đa lên đến 560 triệu đồng đối với nghiên cứu sinh, 160 triệu đồng đối với học viên cao học không chỉ là sự hỗ trợ về tài chính, mà còn là cam kết mạnh mẽ về việc đầu tư cho tri thức, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn giữa các cơ sở giáo dục đại học trong nước và quốc tế, chính sách này tạo ra lợi thế đáng kể cho chương trình đào tạo sau đại học của nhà trường. Trên thực tế, nhiều người học có năng lực nghiên cứu tốt thường phải cân nhắc giữa việc tiếp tục học tập hay tham gia thị trường lao động. Khi được hỗ trợ một phần đáng kể chi phí nghiên cứu, công bố quốc tế, tham dự hội nghị khoa học hoặc triển khai dự án đổi mới sáng tạo, họ sẽ có thêm điều kiện để theo đuổi con đường học thuật một cách nghiêm túc và bền vững.

Đối với Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), chính sách này sẽ góp phần thu hút những ứng viên xuất sắc trong và ngoài nước, đồng thời nâng cao sức hấp dẫn của chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ chất lượng cao. Đây cũng là tiền đề quan trọng để hình thành cộng đồng học giả trẻ có năng lực nghiên cứu mạnh, đóng góp trực tiếp vào hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước.

thay-phuong.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Duy Phương - Trưởng phòng, Phòng Quan hệ Đối ngoại, Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: NVCC.

Theo thầy Phương, điểm đặc biệt của chương trình là nguồn hỗ trợ được gắn trực tiếp với hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Điều này tạo ra cơ chế khuyến khích người học hướng tới những sản phẩm nghiên cứu có chất lượng, có khả năng công bố quốc tế hoặc chuyển giao ứng dụng thực tiễn.

Thực tế cho thấy, một trong những rào cản lớn đối với học viên và nghiên cứu sinh là kinh phí dành cho nghiên cứu, thí nghiệm, khảo sát, công bố khoa học, tham gia diễn đàn học thuật quốc tế. Khi những khó khăn này được tháo gỡ, người học sẽ có điều kiện tập trung nhiều hơn vào chuyên môn, mạnh dạn theo đuổi các đề tài có tính mới và tính ứng dụng cao.

Về phía nhà trường, chương trình góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học thông qua việc gia tăng số lượng và chất lượng công bố khoa học, đề tài nghiên cứu và sáng kiến đổi mới sáng tạo. Đồng thời, việc thu hút được nhiều học viên, nghiên cứu sinh có năng lực cũng tạo ra môi trường học thuật cạnh tranh tích cực, thúc đẩy sự kết nối giữa người học với các nhóm nghiên cứu mạnh, các phòng thí nghiệm trọng điểm và mạng lưới đối tác quốc tế.

Trong tương lai, chương trình sẽ giúp chuyển đổi mô hình đào tạo sau đại học từ "tiếp cận truyền thống" sang "đào tạo dựa trên nghiên cứu", qua đó nâng cao vị thế học thuật và năng lực cạnh tranh quốc tế của nhà trường.

Cùng chia sẻ về chính sách này, đại diện lãnh đạo Phòng Quản lý đào tạo, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) khẳng định, đây là chương trình có ý nghĩa đặc biệt thiết thực trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy năng lực nghiên cứu và kiến tạo môi trường học thuật thuận lợi cho người học.

Việc triển khai đồng bộ các hình thức hỗ trợ, như kinh phí nghiên cứu, công bố khoa học, tham gia hội thảo, tiếp cận cơ sở dữ liệu hay kết nối với các nhóm nghiên cứu mạnh, doanh nghiệp là giải pháp thực tế giúp giải tỏa áp lực tài chính. Qua đó, người học có thêm điều kiện phát triển chuyên môn, nâng cao giá trị ứng dụng của sản phẩm nghiên cứu, hình thành tư duy độc lập và năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn theo chuẩn mực tiên tiến.

Về tác động thu hút nhân tài, chính sách hỗ trợ toàn diện này là lợi thế cạnh tranh cốt lõi của nhà trường trong công tác tuyển sinh sau đại học. Người học có năng lực xuất sắc và làm nghiên cứu nghiêm túc luôn ưu tiên lựa chọn "hệ sinh thái học thuật" chuyên nghiệp, có nguồn lực hỗ trợ thực chất và cơ hội công bố khoa học. Khi nhà trường cam kết đầu tư mạnh mẽ, minh bạch về nguồn lực, đó chính là "thỏi nam châm" để thu hút người tài, giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như nâng cao uy tín học thuật dài hạn của cơ sở đào tạo.

sv.png
Sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) trong một buổi học. Ảnh website nhà trường.

Đại diện lãnh đạo Phòng Quản lý đào tạo của trường chia sẻ thêm, khi dịch chuyển mạnh mẽ sang mô hình tích hợp "đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo", chương trình sẽ đóng vai trò đòn bẩy tạo động lực "tự thân" lớn cho người học và nâng cao vị thế cho nhà trường.

Đối với người học, khi được tạo điều kiện trực tiếp tham gia đề tài, công bố quốc tế hay hợp tác nghiên cứu, người học sẽ có động lực đầu tư nghiêm túc để phát triển chuyên sâu. Quá trình này giúp tích lũy kiến thức, đồng thời thúc đẩy tinh thần chủ động, nâng cao kỹ năng nghiên cứu độc lập và năng lực ứng dụng kết quả vào thực tiễn xã hội.

Đối với nhà trường, đây là giải pháp thực chất để cải thiện chất lượng luận văn, luận án; gia tăng các chỉ số công bố khoa học quốc tế cả về số lượng lẫn chất lượng. Từ đó, khẳng định vị thế học thuật và hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi từ cách tiếp cận truyền thống sang mô hình tích hợp, xây dựng thương hiệu trường đại học nghiên cứu chuyên nghiệp.

Cần gắn nghiên cứu với bài toán thực tế của doanh nghiệp để tạo đột phá đổi mới sáng tạo

Chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được kỳ vọng tạo động lực thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần có hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ và gắn chặt với chất lượng đầu ra.

Thầy Phương cho rằng, nguồn kinh phí hỗ trợ là điều kiện cần, nhưng để thu hút và phát triển nhân tài cần có một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ. Trước hết, tiêu chí xét chọn và đánh giá cần được xây dựng minh bạch, công bằng, dựa trên năng lực thực chất của người học. Điều này giúp bảo đảm nguồn lực được đầu tư đúng đối tượng, đồng thời tạo niềm tin cho cộng đồng học thuật.

Bên cạnh đó, các trường cần tăng cường vai trò của đội ngũ giảng viên hướng dẫn và các nhóm nghiên cứu. Một nghiên cứu sinh hay học viên xuất sắc bên cạnh hỗ trợ tài chính còn cần được dẫn dắt bởi những nhà khoa học có kinh nghiệm, được tham gia dự án nghiên cứu lớn và có cơ hội kết nối với mạng lưới học thuật quốc tế. Đây là yếu tố quyết định chất lượng đầu ra của chương trình.

Ngoài ra, việc xây dựng môi trường nghiên cứu hiện đại với cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, nguồn dữ liệu và quỹ nghiên cứu nội bộ cũng cần được chú trọng.

Song song với đó là cơ chế theo dõi, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn hỗ trợ dựa trên các sản phẩm cụ thể, như công bố khoa học, bằng sáng chế, giải pháp công nghệ, dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Khi được triển khai đồng bộ, chính sách vừa giúp thu hút nhân tài vừa tạo ra môi trường để nhân tài phát triển, cống hiến và tạo ra những giá trị khoa học có tác động thực chất đối với xã hội.

Để chính sách phát huy tối đa hiệu quả, thầy Phương đề xuất mở rộng cách tiếp cận từ hỗ trợ cá nhân sang hỗ trợ toàn bộ chuỗi giá trị nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh kinh phí dành cho người học, cần có cơ chế hỗ trợ kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp, địa phương và các tổ chức quốc tế nhằm tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn.

Một hướng đi quan trọng khác là xây dựng các gói hỗ trợ theo sản phẩm đầu ra. Chẳng hạn, những đề tài có công bố quốc tế chất lượng cao, đăng ký sở hữu trí tuệ, thương mại hóa công nghệ hoặc hình thành doanh nghiệp (spin-off) có thể được ưu tiên hỗ trợ ở mức cao hơn. Cách tiếp cận này sẽ tạo động lực để người học hướng tới kết quả nghiên cứu có giá trị và tác động xã hội rõ nét.

Ngoài ra, cần thúc đẩy mạnh hơn các chương trình nghiên cứu liên ngành, bởi nhiều vấn đề lớn, như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, năng lượng xanh hay y tế thông minh đều đòi hỏi sự kết hợp của nhiều lĩnh vực. Khi người học được tham gia vào dự án liên ngành và giải quyết những bài toán thực tiễn, khả năng đổi mới sáng tạo sẽ được phát huy mạnh mẽ hơn.

"Chúng tôi kỳ vọng chương trình không chỉ tạo thêm nhiều thạc sĩ, tiến sĩ chất lượng cao, mà còn góp phần hình thành thế hệ nhà khoa học trẻ có tư duy toàn cầu, năng lực sáng tạo và khả năng chuyển hóa tri thức thành các giải pháp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước", thầy Phương nhấn mạnh.

nghien-cuu-1.jpg
Hoạt động nghiên cứu tại Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh website nhà trường.

Trong khi đó, đại diện lãnh đạo Phòng Quản lý đào tạo, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, các trường cần tập trung thực hiện đồng bộ ba nhóm giải pháp cốt lõi.

Thứ nhất, minh bạch nguồn lực và gắn chặt với chuẩn đầu ra. Mọi chính sách hỗ trợ phải được triển khai công khai, gắn chặt nguồn lực đầu tư với kết quả đầu ra một cách khoa học. Nhà trường cần thiết lập hệ thống giám sát, đo lường hiệu quả dựa trên các chỉ số cụ thể, như chất lượng nghiên cứu, tỷ lệ công bố quốc tế, tiến độ hoàn thành, mức độ hài lòng của người học, khả năng đóng góp cho xã hội sau đào tạo. Điều này bảo đảm nguồn lực được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả.

Thứ hai, nâng cao năng lực đội ngũ hướng dẫn. Sự đồng hành, kinh nghiệm chuyên môn và năng lực kết nối học thuật của người hướng dẫn là yếu tố then chốt, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đào tạo và sự phát triển của học viên, nghiên cứu sinh.

Thứ ba, xây dựng môi trường để người học không chỉ được hỗ trợ trong quá trình đào tạo, mà sau tốt nghiệp vẫn có cơ hội tiếp tục phát triển nghiên cứu, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hoặc tham gia vào các mạng lưới chuyên gia. Đây là nền tảng cốt lõi để nâng cao chất lượng đào tạo và gia tăng vị thế cạnh tranh học thuật của nhà trường.

Đặc biệt, để chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học tạo ra bước chuyển mình đột phá, cần mở rộng tầm nhìn chiến lược theo hướng gắn kết hữu cơ giữa đào tạo với nhu cầu thực tiễn của xã hội, địa phương và quốc gia.

Trước tiên, ưu tiên cơ chế đặt hàng nghiên cứu. Trong đó, tập trung nguồn lực hỗ trợ đề tài có khả năng chuyển giao công nghệ hoặc giải quyết trực tiếp vấn đề thực tiễn. Việc khuyến khích hình thành nhóm nghiên cứu liên ngành, phòng thí nghiệm trọng điểm hay dự án hợp tác trường - doanh nghiệp sẽ giúp học viên, nghiên cứu sinh được nhúng mình vào môi trường thực tế.

Tiếp đó, cần đa dạng hóa danh mục hỗ trợ và đồng bộ hệ sinh thái. Cần có chính sách riêng cho hoạt động công bố khoa học, đăng ký sở hữu trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ trong nhà trường bao gồm mạng lưới cố vấn chuyên môn, chuyên gia doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ nghiên cứu và trung tâm khởi nghiệp.

Cuối cùng, thay đổi tư duy đánh giá theo hướng chú trọng vào tác động thực tiễn và chiều sâu của nghiên cứu, thay vì chỉ dựa trên số lượng công bố hay tiến độ hoàn thành chương trình.

Khánh Hòa