ĐHQG TPHCM hỗ trợ người học sau đại học giúp thu hút nhân tài, nâng cao chất lượng nghiên cứu

06/06/2026 06:21
Khánh Hòa
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện một số trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, chính sách này sẽ góp phần thu hút nhân tài, giảm gánh nặng tài chính và nâng cao chất lượng nghiên cứu.

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 504/QĐ-ĐHQG phê duyệt "Chương trình hỗ trợ đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030". Mục tiêu của chương trình là hướng tới xây dựng hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo theo chuẩn quốc tế, hình thành đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao cho đất nước.

Đáng chú ý, mức hỗ trợ tối đa dành cho nghiên cứu sinh lên đến 560 triệu đồng/người; đối với học viên cao học là 160 triệu đồng/người theo thời gian chuẩn của chương trình đào tạo tương ứng.

Đại diện một số đơn vị thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh kỳ vọng chính sách này sẽ giảm áp lực tài chính cho người học, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và mở rộng cơ hội thu hút nhân tài.

Tạo điều kiện để người học tập trung nghiên cứu, giảm bớt gánh nặng tài chính

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Cù Xuân Tiến - Trưởng phòng, Phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên, Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, mức hỗ trợ tối đa 560 triệu đồng/nghiên cứu sinh và 160 triệu đồng/học viên theo thời gian chuẩn của chương trình là một bước tiến thực chất, thể hiện sự đầu tư mạnh mẽ của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thu hút nhân tài.

Với người học sau đại học, rào cản lớn nhất là vừa học vừa lo sinh kế, khiến nhiều người giỏi e ngại theo đuổi con đường nghiên cứu toàn thời gian. Khoản hỗ trợ này cùng các chương trình riêng của nhà trường sẽ giúp người học yên tâm tập trung cho hoạt động học thuật. Khi gánh nặng tài chính không còn là trở ngại, chương trình sau đại học sẽ thu hút được nguồn ứng viên chất lượng cao hơn, bao gồm cả người đang đi làm và ứng viên quốc tế.

Đáng chú ý, chính sách không áp dụng cơ chế hỗ trợ "cào bằng", mà gắn với cam kết và kết quả cụ thể. Theo đó, người học phải nghiên cứu toàn thời gian, cam kết tốt nghiệp đúng thời hạn; luận văn/luận án phải gắn với nhiệm vụ khoa học - công nghệ đã đăng ký. Cơ chế này giúp việc đào tạo tiến sĩ chuyển từ mục tiêu "hoàn thành chương trình" sang "tạo ra sản phẩm nghiên cứu thực chất", từ đó góp phần gia tăng số lượng và chất lượng công bố quốc tế, văn bằng sở hữu trí tuệ, sản phẩm chuyển giao công nghệ. Đối với nhà trường, đây là động lực để chuẩn hóa đầu ra, củng cố các nhóm nghiên cứu mạnh cũng như nâng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn.

Chẳng hạn, ngay trong đợt tuyển sinh tiến sĩ đợt 1, năm 2026 nhà trường đã tuyển 74 nghiên cứu sinh thuộc 6 ngành gồm: Kinh tế học, Kinh tế chính trị, Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, Luật Kinh tế.

Đây là lần đầu tiên nhà trường triển khai đồng thời ba nhóm chương trình theo cơ chế phân tầng là nghiên cứu sinh tự đảm bảo kinh phí học tập (tuyển sinh theo quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ hiện hành của trường), UEL Plus và UEL Elite. Trong đó, UEL Elite là chương trình trọng điểm nhằm đào tạo giảng viên, nhà khoa học trẻ theo chuẩn quốc tế, với tổng mức hỗ trợ lên đến 1,62 tỷ đồng cho người chưa là viên chức, người lao động của trường; 2,127 tỷ đồng cho viên chức, người lao động của trường trong 3 năm đào tạo. Những chính sách này góp phần bổ trợ lẫn nhau, tạo thành hệ sinh thái đồng bộ phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.

thay-tien.jpg
Thạc sĩ Cù Xuân Tiến - Trưởng phòng, Phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên, Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: NVCC.

Cùng bàn về chính sách này, Giáo sư, Tiến sĩ, Dược sĩ Thái Khắc Minh - Trưởng khoa, Khoa Dược, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm Chăm sóc Sức khỏe, Trường Đại học Khoa học Sức khỏe (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đánh giá, đây là một chính sách có tính đột phá và mang tầm chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Mức hỗ trợ là thông điệp rõ ràng về cam kết đầu tư cho đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

Trong bối cảnh hiện nay, nhiều cử nhân giỏi, nhân lực trẻ có năng lực thường đứng trước lựa chọn tiếp tục học lên cao hơn hoặc tham gia ngay vào thị trường lao động. Áp lực tài chính, thời gian cùng bài toán thu nhập là những rào cản lớn trên con đường theo đuổi nghiên cứu chuyên sâu. Vì vậy, chính sách này sẽ góp phần giảm đáng kể những áp lực trên, tạo điều kiện để người học yên tâm tập trung cho học thuật và nghiên cứu.

Đặc biệt, chính sách cho thấy sự chuyển dịch tư duy đào tạo sau đại học từ hướng "cấp bằng" sang "đào tạo dựa trên nghiên cứu, sáng tạo tri thức mới và tạo ra giá trị ứng dụng". Đây là yếu tố có sức hút rất lớn đối với nhân tài. Những người có năng lực nghiên cứu không chỉ tìm kiếm học bổng, mà còn tìm kiếm môi trường học thuật tốt, nhóm nghiên cứu mạnh, cơ hội công bố quốc tế, hợp tác quốc tế và khả năng phát triển sản phẩm hoặc công nghệ có tác động thực tiễn.

Đối với Trường Đại học Khoa học Sức khỏe (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đây là cơ hội đặc biệt quan trọng để thu hút nhân tài ở các lĩnh vực mũi nhọn như Công nghệ y dược, Dược học, Công nghệ dược phẩm, Công nghệ sinh học, Trí tuệ nhân tạo trong y sinh, y học chính xác và các ngành Khoa học sức khỏe liên ngành khác.

thiet-ke-chua-co-ten-2.png
Giáo sư, Tiến sĩ, Dược sĩ Thái Khắc Minh - Trưởng khoa, Khoa Dược, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm Chăm sóc Sức khỏe, Trường Đại học Khoa học Sức khỏe (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: NVCC.

Theo thầy Minh, chính sách này sẽ tạo ra thay đổi đáng kể trong động lực học tập và nghiên cứu của người học. Khi được đầu tư nguồn lực phù hợp, học viên và nghiên cứu sinh sẽ có sự cam kết cao hơn với quá trình nghiên cứu chuyên sâu.

Thay vì chỉ xem học thạc sĩ hay tiến sĩ là một bậc học tiếp theo, người học sẽ từng bước tham gia với vai trò nhà nghiên cứu trẻ, trực tiếp làm việc trong nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, dự án khoa học công nghệ và các hoạt động đổi mới sáng tạo. Điều này giúp hình thành tư duy nghiên cứu thực chất, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc liên ngành và khả năng hội nhập học thuật quốc tế.

Về phía nhà trường, chính sách được kỳ vọng mang lại nhiều tác động tích cực. Trước hết, chương trình đào tạo sau đại học sẽ hấp dẫn hơn đối với người học có năng lực, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đầu vào.

Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế cũng như chất lượng luận văn/luận án được sẽ tiếp tục cải thiện. Đây cũng là cơ sở để hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh có tính kế thừa, trong đó học viên cao học và nghiên cứu sinh giữ vai trò nòng cốt.

Nếu triển khai đúng hướng, đào tạo sau đại học sẽ không chỉ tạo ra bài báo khoa học, mà còn tạo ra giải pháp công nghệ, sản phẩm nghiên cứu ứng dụng, sáng kiến đổi mới sáng tạo có giá trị cho ngành y tế và cộng đồng.

Đào tạo sau đại học cần gắn chặt hơn với doanh nghiệp và bài toán thực tiễn

Bên cạnh tác động tích cực, đại diện một số trường thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng để chính sách hỗ trợ phát huy hiệu quả, cần đồng thời xây dựng môi trường học thuật chất lượng, hệ sinh thái nghiên cứu mạnh và cơ chế triển khai thực chất.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) nêu quan điểm, mọi hình thức hỗ trợ cho học viên, nghiên cứu sinh đều mang ý nghĩa tích cực, góp phần khích lệ người học trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Đối với người học sau đại học, thời gian và kinh phí là hai yếu tố mang tính quyết định đảm bảo chất lượng học tập. Vì vậy, việc hỗ trợ sẽ góp phần giảm bớt áp lực tài chính, qua đó tạo điều kiện để người học tập trung vào chuyên môn, nâng cao hiệu quả trong thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, thay vì phải phân tán thời gian cho việc kiếm thêm thu nhập.

Bên cạnh yếu tố tài chính, người học còn quan tâm đến môi trường học thuật, nơi tạo điều kiện thuận lợi để triển khai hoạt động nghiên cứu và phát triển chuyên môn. Nếu chính sách hỗ trợ được thiết kế phù hợp sẽ tạo động lực đáng kể cho người học.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh website nhà trường.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh website nhà trường.

Theo thầy Phúc, chính sách hỗ trợ tài chính cần được xây dựng theo hướng linh hoạt, thông thoáng và phù hợp với đặc thù từng ngành đào tạo cũng như quy mô, nhu cầu của từng trường. Cách tiếp cận này không chỉ giúp tăng hiệu quả thu hút và giữ chân người học ở các lĩnh vực khác nhau, mà còn bảo đảm việc phân bổ nguồn lực hiệu quả.

Với những ngành có số lượng tuyển sinh lớn, mức hỗ trợ cần đủ sức hấp dẫn để thu hút nhiều người tham gia và duy trì động lực học tập, nghiên cứu. Ngược lại, ở các ngành có quy mô nhỏ hơn, mức hỗ trợ có thể được điều chỉnh phù hợp với tổng thể nguồn lực của chương trình.

Trong khi đó, Giáo sư, Tiến sĩ, Dược sĩ Thái Khắc Minh cho rằng hỗ trợ tài chính là điều kiện cần, song để thu hút, giữ chân nhân tài, yếu tố quan trọng nằm ở môi trường học thuật và hệ sinh thái nghiên cứu. Vì vậy, cần có cơ chế tuyển chọn minh bạch, cạnh tranh dựa trên năng lực thực chất để nguồn lực được đầu tư đúng cho những cá nhân có tiềm năng nghiên cứu và cam kết phát triển lâu dài.

Song song với đó, cần gắn người học với các nhóm nghiên cứu mạnh, nhà khoa học có năng lực dẫn dắt, hạ tầng nghiên cứu phù hợp và bài toán nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn. Nếu chỉ có hỗ trợ mà thiếu môi trường phát triển, hiệu quả đạt được sẽ khó như kỳ vọng.

Không chỉ vậy, cần thiết kế cơ chế đánh giá theo kết quả đầu ra rõ ràng, không chỉ dừng ở tiến độ học tập, cần hướng đến các sản phẩm cụ thể như công bố khoa học, sở hữu trí tuệ, nguyên mẫu công nghệ hoặc kết quả chuyển giao.

Ngoài ra, cần tăng cường tính liên ngành và kết nối quốc tế, vì những thách thức lớn trong khoa học sức khỏe hiện nay đều mang tính liên ngành rất cao, đòi hỏi sự kết hợp giữa y học, dược học, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.

Để chính sách thực sự tạo đột phá, theo thầy Minh cần mở rộng cách tiếp cận từ hỗ trợ cá nhân sang đầu tư cho toàn bộ hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh hỗ trợ cho học viên, nghiên cứu sinh, cần có cơ chế đồng hành với các nhóm nghiên cứu tiếp nhận người học, bao gồm hỗ trợ hạ tầng nghiên cứu, kinh phí thử nghiệm, công bố quốc tế, đăng ký sở hữu trí tuệ, phát triển sản phẩm.

Đặc biệt, cần thúc đẩy mạnh cơ chế kết nối giữa nhà trường - bệnh viện - viện nghiên cứu - doanh nghiệp trong lĩnh vực khoa học sức khỏe. Bởi trong lĩnh vực này giá trị của nghiên cứu cần chuyển hóa thành giải pháp chẩn đoán, công nghệ hỗ trợ điều trị, thuốc, vật liệu y sinh hoặc các nền tảng số phục vụ chăm sóc sức khỏe.

"Theo tôi, cần phát triển mô hình đào tạo sau tiến sĩ, chương trình liên ngành mang tính chiến lược, chính sách thu hút chuyên gia quốc tế và nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia đồng hướng dẫn, hợp tác nghiên cứu.

Nếu được triển khai đồng bộ, đây không chỉ là chương trình hỗ trợ đào tạo sau đại học, mà có thể trở thành động lực quan trọng để hình thành thế hệ nhà khoa học trẻ, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và góp phần xây dựng mô hình đại học nghiên cứu đúng nghĩa tại Việt Nam", thầy Minh bày tỏ.

sk.jpg
Ảnh minh họa: Trường Đại học Khoa học Sức khỏe (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).

Còn theo Thạc sĩ Cù Xuân Tiến, để triển khai hiệu quả và phát huy đúng mục tiêu thu hút nhân tài cần chú ý ba yếu tố then chốt:

Thứ nhất là tuyển chọn đúng người. Quá trình xét tuyển cần kết hợp giữa đánh giá hồ sơ và phỏng vấn nhằm lựa chọn những ứng viên thực sự có năng lực và định hướng nghiên cứu rõ ràng.

Thứ hai là kết nối người học với nhiệm vụ và người hướng dẫn ngay từ đầu, đúng theo định hướng công khai danh mục nhiệm vụ khoa học - công nghệ gắn với nhu cầu tuyển nghiên cứu sinh, học viên của chương trình.

Thứ ba là đảm bảo sự minh bạch và đồng hành trong quản lý. Theo đó, cần có cơ chế cam kết trách nhiệm rõ ràng giữa cơ sở đào tạo, chủ nhiệm nhiệm vụ và người học, đồng thời duy trì giám sát tiến độ thường xuyên nhằm bảo đảm chương trình được triển khai đúng mục tiêu, tránh hình thức.

Ngoài ra, để chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học không chỉ dừng ở khuyến khích học tập mà còn thúc đẩy mạnh mẽ hơn hoạt động nghiên cứu ứng dụng và đổi mới sáng tạo trong nhà trường, thầy Tiến đề xuất, cần gắn chặt hơn nữa đề tài luận án với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và địa phương. Việc này giúp kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng và thương mại hóa, không chỉ dừng ở bài báo.

Tiếp đó, bổ sung cơ chế thưởng theo sản phẩm đầu ra (sáng chế, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp từ kết quả nghiên cứu) bên cạnh hỗ trợ sinh hoạt phí.

Cuối cùng, mở rộng hợp tác quốc tế và đồng hướng dẫn với các nhóm nghiên cứu mạnh, giúp nghiên cứu sinh tiếp cận chuẩn mực và mạng lưới học thuật toàn cầu. Khi chính sách vừa nuôi dưỡng người học, vừa tạo cơ chế ghi nhận giá trị từ sản phẩm nghiên cứu, hoạt động đổi mới sáng tạo trong trường đại học mới thực sự bền vững.

Khánh Hòa