Thầy giáo 13 năm bám bản, không ngại tới nhà học trò trồng ngô, nấu ăn để vận động các em đến trường

01/10/2026 06:50
Khánh Hòa

GDVN - 13 năm gắn bó với ngôi trường vùng cao tỉnh Lào Cai, thầy Lương Văn Tuyền bền bỉ "cõng chữ", đến từng gia đình vận động học sinh tới lớp, tiếp sức cho các em vượt qua gian khó để theo đuổi ước mơ.

Giữa núi rừng xã Minh Lương, tỉnh Lào Cai, nơi địa hình đồi núi chia cắt, quanh co, dốc trơn trượt, thầy Lương Văn Tuyền vẫn ngày ngày bám trường, bám bản đồng hành cùng học sinh trên hành trình đến lớp.

Thầy Tuyền là giáo viên giảng dạy phân môn Hóa học và Sinh học trong môn Khoa học tự nhiên tại Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Nậm Xây (xã Minh Lương, tỉnh Lào Cai). Tính đến nay, thầy đã có 13 năm công tác tại ngôi trường vùng cao này với nhiều kỷ niệm đáng nhớ, nhất là những năm tháng trực tiếp đến từng thôn bản, từng gia đình để vận động học sinh đến trường.

2aoboqymrmcaym0qzglw10aepgqwvbtnvpmysacu.jpg
Thầy Lương Văn Tuyền - giáo viên giảng dạy phân môn Hóa học và Sinh học trong môn Khoa học tự nhiên tại Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Nậm Xây (xã Minh Lương, tỉnh Lào Cai). Ảnh: NVCC

Thầy giáo miệt mài bám bản, tới từng nhà vận động học sinh đến trường

Thầy Lương Văn Tuyền sinh năm 1986 tại xã Sơn Thủy (nay là xã Văn Bàn), tỉnh Lào Cai, một địa bàn đặc biệt khó khăn. Năm 2010, sau khi tốt nghiệp ngành Hóa - Sinh tại Trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai (nay là Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tỉnh Lào Cai), thầy Tuyền trúng tuyển và nhận quyết định về công tác tại Trường Trung học phổ thông số 3 Văn Bàn (cũ). Đến năm 2012, thầy viết đơn tự nguyện xin lên vùng cao Nậm Xây giảng dạy tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở số 2 Nậm Xây (nay là Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Nậm Xây).

Quyết định này xuất phát từ việc thầy sinh ra và lớn lên tại vùng quê còn nhiều thiếu thốn. Thầy thấu hiểu khó khăn học sinh vùng cao phải đối mặt trên hành trình học tập nên mong muốn được trực tiếp giảng dạy tại nơi các em cần sự đồng hành của giáo viên để duy trì việc học tập và có thêm cơ hội tiếp cận tri thức.

Nhớ lại ngày đầu tiên đến nhận công tác, thầy Tuyền cho biết đó là một buổi sáng trời mưa khá lớn. Con đường đến trường khi ấy nhiều đoạn đất đá lởm chởm, trơn trượt. Chiếc xe của thầy ì ạch vượt qua dốc "Bổ Đôi" không may bị trượt bánh, khiến thầy ngã nhào xuống rãnh, nhưng khó khăn ấy không khiến người thầy giáo trẻ chùn bước.

Với tâm trạng vừa lo lắng vì đường đi nguy hiểm, vừa háo hức đến ngôi trường mới, thầy tiếp tục vượt hơn 7km đường dốc hẻo lánh để đến trường. Trên đường vào bản, những đứa trẻ chưa biết thầy là giáo viên mới nhưng vẫn khoanh tay lễ phép chào lớn: "Em chào thầy ạ!".

"Phía sau lời chào trong trẻo ấy là ánh mắt rạng rỡ, sự vui mừng của phụ huynh khi thấy giáo viên về bản. Khoảnh khắc đó khiến sống mũi tôi cảm thấy cay cay, lòng bồi hồi, xúc động và tự nhủ phải cố gắng hơn nữa để không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ của một người giáo viên, mà còn phải làm sao để cùng đồng hành, giúp các em có thêm cơ hội học tập, thay đổi tương lai", thầy Tuyền bày tỏ.

2aoboqymkegao3hg6trlt01w2zfbedrubf68wxjo.jpg
Con đường đến trường lầy lội, trơn trượt khi vào mùa mưa những năm 2018-2019. Ảnh: NVCC.

Thầy Tuyền chia sẻ thêm, hiện nay đường từ trung tâm xã vào đến trường vẫn còn nhiều đoạn đường đã xuống cấp, đá lởm chởm, dốc trơn trượt, bị xẻ thành các rãnh nhỏ khiến việc di chuyển khó khăn, nhất là vào mùa mưa. Không chỉ vậy, mùa đông thời tiết khô hạn, nguồn nước sinh hoạt cũng thiếu thốn nên nhiều thời điểm giáo viên phải sử dụng nước mương để phục vụ việc sinh hoạt.

Với điều kiện khó khăn như vậy để duy trì sĩ số lớp cũng là việc không đơn giản. Có thời điểm, các em vì hoàn cảnh gia đình, điều kiện đi lại hoặc phải phụ giúp bố mẹ làm nương rẫy nên không thể đến trường đều đặn. Sau mỗi giờ lên lớp, thầy Tuyền lại đi từng thôn bản, đến từng nhà để gặp gỡ, tìm hiểu hoàn cảnh, vận động phụ huynh cho con em đi học và động viên học sinh đến trường.

Trong đó, công tác vận động phụ huynh có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi để học sinh duy trì việc đến lớp, trước hết cần giúp họ hiểu được giá trị của việc học chữ và những cơ hội giáo dục có thể mang lại cho con em của mình.

Để tạo được sự tin tưởng, giáo viên cần sẵn sàng chia sẻ với phụ huynh trong cuộc sống hàng ngày. Chẳng hạn, có lần vào bản, nam giáo viên đã mang theo thức ăn cùng phụ huynh, học sinh nấu nướng, dùng bữa để tạo sự thân thiện và động viên phụ huynh cho con đến trường.

Không chỉ thầy Tuyền, nhiều thầy cô trong trường còn chủ động học tiếng dân tộc Mông để giao tiếp thuận lợi hơn, hiểu tâm tư, hoàn cảnh của từng em để vừa giúp việc vận động đạt hiệu quả vừa tạo điều kiện để trao đổi, phối hợp giữa gia đình và nhà trường được thuận lợi. Khi hiểu được nguyên nhân khiến học sinh chưa thể tới lớp, sự hỗ trợ sẽ sát với thực tế hơn.

Thầy Tuyền kể lại một kỷ niệm đặc biệt: "Trong một lần vào bản để vận động học sinh đến trường, tôi gặp một em đang ở nhà cuốc đất trồng ngô. Em cho biết phải hoàn thành việc trồng ngô mới có thể đến lớp vì bố mẹ đã lên nương trồng thảo quả. Khi ấy, tôi quyết định ở lại cùng em làm việc. Hai thầy trò bắt đầu từ khoảng 13 giờ, sau 4-5 tiếng, khi công việc hoàn thành cũng là lúc trời đã nhá nhem tối.

Kỷ niệm đó giúp tôi hiểu thêm những khó khăn mà học sinh vùng cao phải đối mặt. Vì vậy, để các em yên tâm học tập giáo viên không chỉ cần làm tốt nhiệm vụ truyền đạt kiến thức mà phải chia sẻ với các em trong cả cuộc sống hằng ngày".

2aoboqymkf9avf7p4vmwi5lhkjlewyj7odbroiaw.jpg
Học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Nậm Xây trong một buổi sinh hoạt chung. Ảnh: NVCC.

"Điều đáng quý nhất là được chứng kiến học sinh trưởng thành"

Trong giảng dạy, thầy Tuyền cũng chủ động điều chỉnh phương pháp để phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh. Thay vì đặt nặng việc truyền tải nhiều kiến thức trong một tiết học, thầy chú trọng chắt lọc những nội dung cốt lõi, lựa chọn cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu và tăng cường hướng dẫn trực tiếp để học sinh nắm được bài. Với những nội dung khó, thầy tìm cách liên hệ với thực tế cuộc sống để giúp các em dễ hình dung và ghi nhớ kiến thức hơn. Khi học sinh hiểu bài, các em sẽ có thêm hứng thú với việc học, từ đó hình thành động lực đến lớp và duy trì việc học tập.

Từ thực tế nhiều năm công tác tại vùng cao, thầy Tuyền cho rằng, những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách quan tâm đến đội ngũ nhà giáo vùng cao nói riêng và nhà giáo nói chung. Tuy nhiên, trong thời gian tới, để công tác vận động học sinh đến trường đạt hiệu quả cao hơn, cần có sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các cấp chính quyền, nhà trường và gia đình.

Khi việc đưa con đến trường dần trở thành một nét văn hóa, một tập quán trong mỗi gia đình, bản làng, việc duy trì học tập của học sinh sẽ thuận lợi hơn, qua đó tạo nền tảng để giáo dục vùng cao tiếp tục phát triển.

Ngoài ra, việc cải thiện hệ thống đường giao thông đến trường cũng rất cần thiết, nhằm giúp giáo viên, học sinh đi lại thuận lợi, an toàn hơn, nhất là trong những ngày mưa gió, qua đó hạn chế những trở ngại đối với việc đến lớp của học sinh.

13 năm gắn bó với ngôi trường vùng cao đã để lại trong thầy Tuyền nhiều trải nghiệm đáng quý. Thầy Tuyền chia sẻ: "Điều khiến tôi quyết định ở lại và gắn bó lâu dài với mảnh đất này chính là những ánh mắt chăm chú, đầy kỳ vọng của học sinh mỗi khi nghe giảng; là những buổi chiều, những đêm muộn tôi đi đến từng nhà để hiểu hơn về hoàn cảnh và hành trình đến trường đầy gian khó của các em.

Có những lần đến nhà học sinh, tôi chứng kiến bữa cơm còn nhiều thiếu thốn, nhưng phía sau đó vẫn là những ước mơ, hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn. Tôi không chỉ gắn bó với nhiều thế hệ học sinh mà còn trở nên thân thuộc với bà con nơi đây. Mảnh đất này dần trở thành ngôi nhà thứ hai của tôi.

Những năm tháng công tác tại đây giúp tôi nhận ra rằng, mỗi giờ lên lớp, mỗi lần đến từng gia đình đều có ý nghĩa riêng. Điều đáng quý nhất là được chứng kiến học sinh trưởng thành, từng bước tự tin hơn trong học tập và cuộc sống. Với tôi, đó cũng là niềm vui và ý nghĩa của nghề giáo ở vùng cao".

Khánh Hòa