Trong báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại Đại hội XIV, có nhiều nội dung mới, cốt lõi, định hướng, tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với sự phát triển của đất nước. Đặc biệt, đề cập đến 8 nội dung xuyên suốt tập trung triển khai các quyết sách chiến lược và 3 đột phá chiến lược.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Hoàng Mạnh Hà - Giảng viên Trường Đại học Văn hóa - Thể thao và Du lịch Thanh Hóa chia sẻ, ông ấn tượng với các nội dung được nêu trong báo cáo.
Chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển"
Tiến sĩ Phạm Hoàng Mạnh Hà cho rằng, báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ ở nội dung tổng kết - định hướng, mà còn ở tầm vóc tư duy chiến lược và cách tiếp cận phát triển mới của Đảng trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc. Việc nhấn mạnh 8 nội dung xuyên suốt gắn với triển khai các quyết sách chiến lược và 3 đột phá chiến lược cho thấy Đảng đã chuyển mạnh từ tư duy “quản lý phát triển” sang “kiến tạo phát triển”, chủ động định hình tương lai.
Nhìn tổng thể, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới mang tính lịch sử. Một là, cơ hội tái định vị mô hình phát triển theo hướng chất lượng cao, bền vững và tự cường. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để nâng cao vị thế trong khu vực nếu biết tận dụng tốt lợi thế về ổn định chính trị, quy mô thị trường, nguồn nhân lực trẻ và năng lực hội nhập ngày càng sâu. Hai là, cơ hội bứt phá về thể chế và năng lực quản trị quốc gia. Việc xác định rõ các quyết sách chiến lược cho thấy quyết tâm tháo gỡ những “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, đặc biệt là về thể chế, tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ. Ba là, cơ hội chuyển dịch mạnh sang nền kinh tế tri thức, kinh tế số và phát triển dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, qua đó giảm dần phụ thuộc vào tăng trưởng theo chiều rộng.
“Tôi đặc biệt quan tâm tới nội dung yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Đây là vấn đề có tính “bản lề” và quyết định sự thành công hay thất bại của các mục tiêu còn lại. Thực tiễn nhiều năm cho thấy, không ít chủ trương đúng, tầm nhìn tốt nhưng khi đi vào triển khai lại bị cản trở bởi thể chế chồng chéo, thủ tục hành chính phức tạp, kỷ luật - kỷ cương chưa nghiêm và tâm lý sợ trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ. Nếu không tạo được bước đột phá thực sự về thể chế, thì các đột phá khác như phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hay khoa học - công nghệ cũng khó phát huy hiệu quả.
Điểm đáng chú ý trong tư duy mới lần này là thể chế không chỉ được nhìn như “khung pháp lý” mà còn là “động lực phát triển”. Khi thể chế minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo và khuyến khích đổi mới, nó sẽ giải phóng mạnh mẽ các nguồn lực xã hội, khơi dậy tinh thần dấn thân, sáng tạo và trách nhiệm công vụ. Điều đó đặc biệt quan trọng trong giai đoạn tới, khi Việt Nam phải vừa tăng tốc phát triển, vừa giữ vững ổn định xã hội và bản sắc chính trị.
Báo cáo trình Đại hội XIV mở ra một không gian cơ hội mới cho Việt Nam: cơ hội bứt phá về chất lượng phát triển, nâng tầm quản trị quốc gia và củng cố nền tảng cho khát vọng phát triển đến giữa thế kỷ XXI. Vấn đề then chốt không chỉ là nhận diện đúng cơ hội, mà là bản lĩnh chính trị, năng lực tổ chức thực hiện và sự đồng thuận xã hội để biến các quyết sách chiến lược thành hiện thực sống động” - vị tiến sĩ bày tỏ.
Một trong những yêu cầu đặt ra của nhiệm kỳ Đại hội XIV là phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình; phải quyết tâm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; phải hành động mạnh mẽ, quyết liệt, đột phá, hiệu quả... Trong đó, yêu cầu đổi mới tư duy được kỳ vọng sẽ tạo ra những đột phá mạnh mẽ.
Tiến sĩ Phạm Hoàng Mạnh Hà cho rằng: “Yêu cầu đổi mới tư duy không nên và không thể chỉ là một khẩu hiệu mang tính động viên mà phải là một đòi hỏi mang tính “bản lề”, có ý nghĩa quyết định đối với khả năng hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh môi trường quốc tế biến động nhanh, phức tạp, còn trong nước nhiều dư địa tăng trưởng truyền thống đã dần thu hẹp, nếu không đổi mới tư duy một cách thực chất và triệt để, có thể dễ rơi vào trạng thái “phát triển theo quán tính”.
Trước hết, đổi mới tư duy được kỳ vọng tạo ra đột phá trong cách nhìn nhận về phát triển. Tư duy phát triển không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô, khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ hay đầu tư công dàn trải, mà phải chuyển mạnh sang tư duy phát triển dựa trên chất lượng, năng suất, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao. Điều này đòi hỏi phải thay đổi cách đánh giá thành tích, từ nặng về tốc độ tăng trưởng sang coi trọng hiệu quả, tính bền vững, năng lực chống chịu và mức độ bao trùm của phát triển. Khi tư duy phát triển thay đổi, các quyết sách về đầu tư, phân bổ nguồn lực, quy hoạch và lựa chọn ưu tiên chiến lược cũng sẽ thay đổi theo hướng dài hạn và căn cơ hơn.
Thứ hai, đổi mới tư duy được kỳ vọng tạo ra đột phá trong quản trị quốc gia và quản trị công. Tư duy quản lý theo kiểu “xin - cho”, nặng mệnh lệnh hành chính, can thiệp sâu vào hoạt động của thị trường không còn phù hợp với yêu cầu phát triển hiện đại. Thay vào đó, cần chuyển sang tư duy kiến tạo, phục vụ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Đổi mới tư duy ở đây đòi hỏi cán bộ, công chức phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, biết chấp nhận rủi ro trong khuôn khổ pháp luật vì lợi ích chung. Nếu tư duy vẫn thiên về an toàn cá nhân, né tránh trách nhiệm, thì dù thể chế có đổi mới trên giấy tờ, hiệu quả thực thi vẫn rất hạn chế.
Thứ ba, đổi mới tư duy được kỳ vọng tạo ra đột phá trong cách tiếp cận thể chế. Thể chế không chỉ là công cụ kiểm soát, mà phải trở thành động lực phát triển. Điều này đòi hỏi tư duy lập pháp và hoạch định chính sách phải vượt lên trên lợi ích cục bộ, tư duy nhiệm kỳ và cách làm manh mún. Các chính sách cần có tính ổn định, khả năng dự báo cao, khuyến khích sáng tạo và bảo vệ người dám tiên phong. Đổi mới tư duy cũng đồng nghĩa với việc sẵn sàng loại bỏ những quy định lỗi thời, không còn phù hợp, dù chúng từng được coi là “an toàn” hay quen thuộc.
Cuối cùng, đổi mới tư duy đặt ra đòi hỏi rất cụ thể đối với đội ngũ cán bộ. Đó là tư duy toàn cầu nhưng hành động gắn với thực tiễn Việt Nam; tư duy chiến lược nhưng không xa rời đời sống nhân dân; tư duy cải cách nhưng vẫn giữ vững các giá trị nền tảng của chế độ. Quan trọng hơn cả, đổi mới tư duy phải đi liền với đổi mới hành động”.
“Đà” mới và “thế” mới từ 3 đột phá chiến lược
Theo báo cáo, 3 đột phá chiến lược đã được xác định từ Đại hội XIII có ý nghĩa cho cả giai đoạn 2021-2030, nhưng bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV, yêu cầu đặt ra phải làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn, vì đây là những đòn bẩy quyết định để đất nước bứt phá. 3 đột phá này có quan hệ hữu cơ. Thể chế mở đường; nhân lực quyết định tốc độ và chất lượng; hạ tầng tạo không gian và sức bật. Nếu làm đồng bộ, chúng ta sẽ tạo ra “đà” mới và “thế” mới.
Về vấn đề này, Tiến sĩ Phạm Hoàng Mạnh Hà cũng phân tích: “Nhận định của Tổng Bí thư Tô Lâm về 3 đột phá chiến lược không chỉ mang tính tổng kết lý luận, mà còn hàm chứa một thông điệp hành động rất mạnh mẽ cho nhiệm kỳ Đại hội XIV. Điểm mới và cũng là điểm then chốt ở đây là yêu cầu “làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn”, bởi trong bối cảnh hiện nay, cơ hội phát triển không còn trải dài theo thời gian, mà mang tính “cửa sổ”, nếu chậm trễ hoặc làm nửa vời sẽ bị bỏ lỡ.
Trước hết, “đà” mới được mở ra chính là đà tăng trưởng chất lượng cao và bền vững, vượt ra khỏi quỹ đạo phát triển dựa chủ yếu vào lợi thế chi phí thấp. Khi thể chế thực sự thông thoáng, minh bạch và ổn định, nguồn nhân lực chất lượng cao được phát huy đúng mức, cùng với hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nền kinh tế sẽ có khả năng chuyển sang trạng thái tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao. Đây là “đà” phát triển có tính tích lũy, càng đi càng nhanh, càng bền, khác hẳn với kiểu tăng trưởng dễ đạt nhưng dễ suy giảm trước đây.
Song song, “thế” mới được hình thành là thế chủ động và tự tin của một quốc gia đang vươn lên nhóm có thu nhập trung bình cao và tiến tới phát triển. “Thế” ở đây không chỉ là vị thế kinh tế, mà còn là thế chính trị, thế hội nhập và thế cạnh tranh quốc gia. Khi thể chế đủ mạnh để bảo đảm kỷ cương và khuyến khích sáng tạo, nhân lực đủ chất lượng để tiếp thu và làm chủ công nghệ, hạ tầng đủ hiện đại để kết nối không gian phát triển, Việt Nam sẽ có thế đứng vững vàng hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, giảm lệ thuộc và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược. Đó là “thế” của một quốc gia biết mình đang ở đâu và muốn đi đến đâu, không bị cuốn theo các biến động bên ngoài”.
“Nói ít - làm nhiều - làm đến cùng”
Tư tưởng xuyên suốt trong văn kiện và cũng là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam với “Dân là gốc”: Thước đo cao nhất của mọi quyết sách; đồng thời, phương châm tổ chức thực hiện được xác định là: “Nói ít - làm nhiều - làm đến cùng”.
Tiến sĩ Phạm Hoàng Mạnh Hà cũng nhìn nhận: “Rõ ràng, đó không chỉ là sự khẳng định lại một nguyên lý nền tảng của Đảng mà còn mở ra những thời cơ phát triển mới có chiều sâu, đặc biệt trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ về tư duy lãnh đạo và phương thức quản trị quốc gia.
Tôi cho rằng, thời cơ lớn nhất được mở ra chính là thời cơ củng cố và chuyển hóa niềm tin xã hội thành nguồn lực phát triển. Khi “dân là gốc” không dừng ở khẩu hiệu mà trở thành tiêu chí đánh giá hiệu quả chính sách, người dân sẽ cảm nhận rõ hơn mình là chủ thể, là trung tâm và là người thụ hưởng thực sự của phát triển. Niềm tin của nhân dân, khi được khơi dậy và nuôi dưỡng, sẽ trở thành một loại “nguồn vốn xã hội” vô cùng quan trọng, giúp giảm chi phí quản lý, tăng sự đồng thuận, hạn chế xung đột lợi ích và tạo nền tảng ổn định lâu dài cho cải cách. Trong bối cảnh nhiều quốc gia đối mặt với khủng hoảng niềm tin, đây chính là lợi thế so sánh rất đáng kể của Việt Nam.
Tư tưởng “dân là gốc” gắn với phương châm “nói ít - làm nhiều - làm đến cùng” mở ra thời cơ đổi mới phương thức lãnh đạo và điều hành theo hướng thực chất, hiệu quả. Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn, giữa phát ngôn và kết quả. Khi yêu cầu “làm đến cùng” được đặt ra, trách nhiệm không chỉ nằm ở việc ban hành chính sách, mà còn ở khâu tổ chức thực hiện và đánh giá tác động thực tế đối với đời sống người dân. Điều này tạo ra áp lực tích cực buộc bộ máy phải vận hành theo logic kết quả, thay vì logic quy trình hay hình thức.
Từ góc độ phát triển, tư tưởng này mở ra thời cơ khơi dậy mạnh mẽ sức sáng tạo và tinh thần tự quản của xã hội. Khi người dân được lắng nghe, được tham gia vào quá trình hoạch định và giám sát chính sách, các quyết sách sẽ sát thực tiễn hơn, khả năng thành công cao hơn. Đây cũng là cách để phát hiện sớm các vấn đề xã hội, giảm thiểu rủi ro và chi phí điều chỉnh chính sách. Một xã hội mà người dân chủ động tham gia, đồng hành cùng Nhà nước, chính là nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững và bao trùm”.
“Để những thời cơ này trở thành hiện thực, cần có những điều kiện đi kèm. Trước hết, “dân là gốc” phải được thể chế hóa bằng cơ chế cụ thể, từ tham vấn chính sách, phản biện xã hội đến minh bạch thông tin và giải trình trách nhiệm. Thứ hai, phương châm “nói ít - làm nhiều” đòi hỏi đánh giá cán bộ bằng kết quả cuối cùng, bằng mức độ hài lòng của người dân, chứ không chỉ bằng báo cáo hay “thành tích trên giấy”. Cuối cùng, “làm đến cùng” cần gắn với kỷ luật, kỷ cương và bảo vệ người dám làm vì lợi ích chung.
Tóm lại, khi tư tưởng “dân là gốc” thực sự trở thành thước đo cao nhất của mọi quyết sách và được hiện thực hóa bằng hành động nhất quán, Việt Nam sẽ đứng trước một thời cơ mới: thời cơ biến niềm tin của nhân dân thành sức mạnh nội sinh, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho những đột phá phát triển trong giai đoạn tới” - Tiến sĩ Phạm Hoàng Mạnh Hà nhấn mạnh.
