Tranh chấp biển đảo sẽ làm tiêu tan “Thế kỷ châu Á”

24/01/2013 07:25 Lê Chân/Kiến thức
Theo nhà phân tích Robert A. Manning, tranh chấp biển đảo ngày càng gia tăng có khả năng làm tiêu tan giấc mơ về “Thế kỷ châu Á”.
Ảnh minh họa

Cũng giống như vụ ám sát Thái tử Ferdinand của Đế quốc Áo-Hungary châm ngòi cho Chiến tranh Thế giới thứ nhất, căng thẳng gia tăng trong tranh chấp lãnh thổ tại Biển Hoa Đông và Biển Đông đang làm chệch hướng “Thế kỷ châu Á”. Bất luận kết cục ra sao, kết quả nhãn tiền là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi ngóc đầu dậy và một Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn.

Nhiều người cho rằng, nguyên nhân chính là vì dầu mỏ. Theo quan niệm của họ, bên dưới những vùng biển tranh chấp này là một kho báu dầu mỏ và khí đốt có thể đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho các nền kinh tế năng động ở châu Á.

Thật không may, chẳng có cơ sở nào để khẳng định chắc chắn điều này. Sự thực kẻ thắng trong cuộc tranh chấp Biển Đông và Hoa Đông có lẽ không thu được nguồn năng lượng cần thiết để tạo nên lợi thế khác biệt đáng kể với nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của các bên yêu sách khác. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp của Trung Quốc. Và trong bất kỳ trường hợp nào, để khai thác nguồn tài nguyên đó, cần có sự ổn định về pháp lý và chính trị.

Những căng thẳng về vấn đề lãnh thổ đã bùng phát từ nhiều năm trở lại đây. Có hơn hai chục cuộc đụng độ quân sự tại Biển Đông kể từ năm 1974 khi Trung Quốc đánh chiếm quần đào Hoàng Sa của Việt Nam. Hầu hết các vụ việc này đều diễn ra trong những năm 1990. Mặc dù Trung Quốc đã ký kết và phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS), nhưng sự quyết đoán gần đây của Bắc Kinh lại dựa trên những yêu sách mâu thuẫn với chính những gì nước này đã ký kết. “Đường 9 đoạn”, đường yêu sách chủ quyền bao phủ hơn 80% diện tích Biển Đông, trái với quy định của UNCLOS về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

Một yếu tố mới có khả năng tăng cường lợi ích trên biển là sự phát triển không ngừng về công nghệ khoan nước sâu. Từ trước những năm 1990, có rất ít công nghệ khoan xa bờ hay các mỏ ở vùng biển có độ sâu hơn 204 m. Trong hai thập kỷ trở lại đây, số lượng dầu gia tăng trên toàn cầu đều xuất phát từ khu vực được gọi là “siêu nước sâu”, với độ sâu 1500 m hoặc hơn. Trước đây, công nghệ này chủ yếu thuộc về các công ty đa quốc gia của phương Tây. Nhưng vào tháng 5/2012, Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tuyên bố đã chế tạo được dàn khoan nước sâu trị giá 1 tỷ USD có khả năng hút dầu từ độ sâu 12.000 m.

Cho đến nay, vẫn chưa có một cuộc khảo sát mang tính chính thống nào về tiềm năng dầu khí tại Biển Đông cũng như ở Biển Hoa Đông. Những con số về trữ lượng dầu khí mà Trung Quốc đưa ra trên cả hai khu vực này thường được phóng đại so với với các con số của các công ty năng lượng đa quốc gia hay của các nhà phân tích khác. Trung Quốc ước tính trữ lượng dầu khí tại Biển Hoa Đông vào khoảng 160 tỷ thùng dầu, gần gấp đôi so với con số của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA).

Về nguồn năng lượng tại Biển Đông, Trung Quốc cũng phóng đại về trữ lượng dầu khí tại đây. CNOOC ước tính có khoảng 213 tỷ thùng dầu – tương đương với trữ lượng dầu mỏ đã được phát hiện tại Saudi Arabia. Con số này cao gấp gần 12 lần so với ước tính của Cục Khảo sát Địa chất Mỹ (USGS) và gấp gần 100 lần so với con số ước tính của công ty tư vấn năng lượng Wood-Mackenzie. Công ty này ước tính chỉ có 2,5 tỷ thùng dầu đã được phát hiện tại các đảo, bãi cạn trong khu vực tranh chấp Biển Đông!

Ngoại trừ Trung Quốc và một số công ty của Trung Quốc đã tham gia liên doanh khai thác với các công ty nước ngoài,  các quốc gia Đông Á khác cần liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài, nếu muốn khai thác các nguồn dầu khí tại các hòn đảo nhỏ và san hô mà họ yêu sách chủ quyền. Trên thực tế, một số nước ASEAN có tranh chấp biển đảo đã ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty nước ngoài. Tuy nhiên, do những rủi ro chính trị và sự bất ổn về pháp lý trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ, nên các nước này khó có thể ký kết được những dự án đầu tư quy mô lớn.

Có lẽ đây chính là logic ẩn đằng sau chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” mà Trung Quốc từng theo đuổi cho đến thời gian gần đây, theo phương châm của Đặng Tiểu Bình.

Dư luận Đông Á đang xôn xao đồn đoán về việc các chính phủ mới lên nắm quyền tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tranh chấp biển đảo. Việc gia tăng hết sức nhanh chóng về mức độ tuần tra của tàu hải giám và máy bay tại các vùng biển đảo tranh chấp cho thấy, năm 2013 sẽ có ít nhất vài vụ va chạm trên biển. Quan hệ Trung-Nhật đặc biệt căng thẳng, với việc Trung Quốc hàng ngày cử tàu hải giám tuần tra khu vực Senkaku/Điếu Ngư và Nhật Bản từng đe dọa cho phép không quân bắn pháo sáng cảnh cáo.

Trong một tín hiệu tích cực, Thủ tướng Nhật Bản Shintaro Abe, một chính khách mang đậm tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, đã nhanh chóng cử một nhà ngoại giao cao cấp tới Seoul để trấn an chính quyền mới của bà Park Geun-hye và tìm cách hàn gắn quan hệ.

Trong nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên vào năm 2006, ông Abe đã có nỗ lực đặc biệt để xua đi những mối quan ngại của Trung Quốc. Với việc ông Abe ưu tiên phục hồi nền kinh tế đang chao đảo và kỳ bầu cử Thượng viện vào tháng 7 tới đây, nhiều người kỳ vọng ông Abe sẽ cố gắng hạn chế tối đa xung đột, ít nhất là trong ngắn hạn. Nhưng đối mặt với sự phẫn nộ của công chúng trước những hành động khiêu khích của Trung Quốc, ông Abe và nội các theo chủ nghĩa dân tộc có thể sẽ không nhẫn nhịn. Lo sợ khả năng bùng phát xung đột, Mỹ kêu gọi hai bên giảm căng thẳng và đã cử một nhóm gồm các quan chức ngoại giao và an ninh tới để tham vấn các đồng minh Hàn Quốc và Nhật Bản.

Nhà phân tích Robert A. Maning kết luận mớ bòng bong về những yêu sách chủ quyền chồng lấn tại châu Á dường như sẽ chẳng đem lại nguồn lợi về năng lượng cho bất kỳ quốc gia hữu quan nào và  “kẻ thắng cũng chẳng thu được gì”. Nếu khu vực này không thể tìm ra phương cách giải quyết hay ít nhất kiểm soát được tình cảm chủ nghĩa dân tộc thổi bùng tranh chấp biển đảo, giấc mơ về “Thế kỷ châu Á” sẽ thực sự tan biến.

Robert A. Manning từng là thành viên Ban Hoạch định Chính sách, Bộ Ngoại giao Mỹ (2004-2008). Ông hiện là chuyên gia cao cấp tại Trung tâm An ninh Quốc tế Brent Scowcroft , Hội đồng Đại Tây Dương.

Lê Chân/Kiến thức