Chiến dịch Đà Nẵng 45 năm nhìn lại

29/03/2020 07:52 Đại tá Đặng Việt Thuỷ
(GDVN) - Đây là chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang Quân khu 5 phối hợp với Quân đoàn 2 nhằm tiêu diệt lực lượng thuộc Quân đoàn 1 - Quân khu 1 quân đội Sài Gòn

LTS: Nhân kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Đại tá Đặng Việt Thuỷ chia sẻ bài viết về chiến dịch Đà Nẵng (từ ngày 28 đến 29/3/1975).

Đây là chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang Quân khu 5 phối hợp với Quân đoàn 2 nhằm tiêu diệt lực lượng thuộc Quân đoàn 1 - Quân khu 1 quân đội Sài Gòn co cụm phòng thủ tại Đà Nẵng, trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

Toà soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

Tháng 3 năm 1975, sau khi bị mất các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Ngãi và phần lớn tỉnh Quảng Nam, thì Đà Nẵng - căn cứ quân sự liên hợp hiện đại và mạnh vào bậc nhất của địch hoàn toàn bị cô lập.

Địch cố gắng co về giữ Đà Nẵng, lúc này lực lượng địch ở Đà Nẵng khoảng hơn 75.000 quân, gồm: sở chỉ huy Quân đoàn 1 - Quân khu 1, Sư đoàn thủy quân lục chiến 1 (có tàn quân của Lữ đoàn 147), Sư đoàn bộ binh 3, tàn quân của các sư đoàn bộ binh 1 và 2, Sư đoàn không quân 1 (279 máy bay, trong đó có 96 máy bay chiến đấu), Liên đoàn biệt động quân 17, Thiết đoàn 11 và tàn quân của Thiết đoàn 20, 7 tiểu đoàn pháo binh, 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ và 24.000 phòng vệ dân sự... vũ khí trang bị còn mạnh, nòng cốt là sư đoàn 3 và sư đoàn thủy quân lục chiến, do trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh quân đoàn 1 ngụy chỉ huy.

Tinh thần của địch hết sức hoang mang nhưng vẫn hô "tử thủ Đà Nẵng" và tính toán rằng nếu ta muốn tiến công Đà Nẵng thì phải chuẩn bị ít nhất một tháng.

Quân đoàn 2 giải phóng Đà Nẵng ngày 29/3/1975. (Ảnh tư liệu/TTXVN)

Trước sự phát triển nhanh chóng của chiến trường, ngày 24 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc tiến công vào Đà Nẵng với tư tưởng chỉ đạo "kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng".

Tiếp đó, ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch Đà Nẵng, lấy tên là Mặt trận 475, do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy và quyết định đánh Đà Nẵng theo phương án địch rút chạy.

Vào thời điểm này, địch tại Đà Nẵng đã ở vào thế bị bao vây, cô lập.

Từ ngày 26/3/1975, Mỹ lập cầu hàng không di tản cơ quan lãnh sự Mỹ ở Đà Nẵng về Sài Gòn khiến tinh thần binh lính địch càng thêm rối loạn.

Thực hiện phương án thời cơ (đánh địch ở tư thế rút chạy), 5 giờ 30 phút sáng ngày 28/3/1975, chiến dịch Đà Nẵng bắt đầu bằng đợt pháo kích mãnh liệt của Quân đoàn 2 ở đèo Mũi Trâu bắn vào sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn và bán đảo Sơn Trà.

Pháo của Quân khu 5 bắn vào Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện. Bộ binh, xe tăng ta từ ba hướng bắc, tây nam và nam tiến công mạnh mẽ quân địch trên đường, thần tốc tiến về hướng Đà Nẵng.

Hướng bắc, ngày 28 tháng 3, Trung đoàn 18 chiếm ga Lăng Cô và đánh bại các đợt phản kích của địch.


Tiếp quản và làm chủ biển đảo Tổ quốc trong Tổng tiến công mùa Xuân 1975

5 giờ ngày 29, Trung đoàn được tăng cường một đại đội xe bọc thép PT85 mở đợt tiến công quân địch tại đèo Hải Vân.

Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra rất ác liệt. Trung đoàn dùng hỏa lực xe tăng bắn áp đảo và tổ chức một mũi bộ binh vu hồi vào bên sườn đánh tan quân địch tại đây.

Khoảng 8 giờ, trung đoàn lên đến đỉnh đèo, sau đó chiếm kho xăng Liên Chiểu ở chân đèo, rồi vượt cầu Trịnh Minh Thế, đánh thẳng ra bán đảo Sơn Trà.

13 giờ 30 phút, trung đoàn làm chủ quân cảng địch ở bán đảo Sơn Trà.

Hướng tây bắc, tối 28, Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304 cùng một tiểu đoàn xe tăng hành quân bằng cơ giới chuẩn bị đánh địch ở Đá Đen thì được tin chúng đã rút.

Trung đoàn lập tức chuyển sang hành tiến tiến công địch và đã lần lượt đánh chiếm Phước Tượng, Hòa Khánh, sở chỉ huy sư đoàn 3 ngụy.

Sau đó trung đoàn đưa một bộ phận vào giữ một số mục tiêu quan trọng trong thành phố, số còn lại cùng tiểu đoàn xe tăng với Trung đoàn 18 đánh sang bán đảo Sơn Trà.

Hướng nam và đông nam, từ 9 giờ đến 10 giờ ngày 28, Trung đoàn 38 thuộc Sư đoàn 2 cùng Trung đoàn 96 địa phương đánh chiếm các khu vực: Bà Rén, quận lỵ Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước, đường 14.

Địch dùng máy bay ném bom sập cầu Bà Rén, Câu Lâu để ngăn chặn ta.

Đảng bộ và nhân dân địa phương đã huy động các phương tiện chở bộ đội vượt sông để tiến công quân địch.


Các trận đánh then chốt, xuất hiện thời cơ cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng

Ngày 29, Trung đoàn 38 tiến công địch ở Vĩnh Điện. Trung đoàn 1 vòng qua Vĩnh Điện, đánh địch ở Viên Tây rồi phát triển vào Đà Nẵng.

Trung đoàn 31 vượt cầu Kỳ Lâm bám sát đội hình của Trung đoàn 1.

Lúc 11 giờ 45 phút, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn 1 đánh tan quân địch ở bến đò Su, rồi phát triển đánh chiếm sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy.

Cùng thời gian trên, hai tiểu đoàn 60 và 90 của Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 31 đánh chiếm bộ tư lệnh sư đoàn không quân và sân bay Đà Nẵng.

Phối hợp với Sư đoàn 2, Trung đoàn 96, Tiểu đoàn 491 và đại đội biệt động Lê Độ đánh chiếm tòa thị chính, quân tiếp vụ và đài phát thanh.

Hướng đông, 8 giờ ngày 29, Trung đoàn 97 địa phương đánh chiếm thị xã Hội An, Non Nước và sân bay Nước Mặn.

Từ 13 giờ 30 phút đến 15 giờ, trung đoàn tiến công vào quân địch ở An Đông, phối hợp với Trung đoàn 38 diệt địch ở Mỹ Khê. 

15 giờ ngày 29 tháng 3, quân ta đã chiếm toàn bộ căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà, hoàn thành thắng lợi mục tiêu chiến dịch đặt ra.

Ta đã giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và các vùng phụ cận.

Kết quả chiến dịch, ta đã tiêu diệt ba sư đoàn bộ binh (1, 2, 3); sư đoàn thủy quân lục chiến, bốn liên đoàn biệt động quân (11, 12, 14, 15), đập tan hệ thống phòng thủ của quân đoàn 1, quân khu 1 quân đội Sài Gòn… thu và phá hủy 115 máy bay, 47 tàu xuồng, 138 xe tăng và xe bọc thép, hơn 69.000 súng các loại (có 109 khẩu pháo từ 105 đến 175mm) và nhiều trang bị kỹ thuật khác.

Cùng với chiến dịch Trị Thiên - Huế (từ ngày 5 đến 26/3/1975) và chiến dịch Tây Nguyên (từ 4/3 đến 3/4/1975), chiến dịch Đà Nẵng đại thắng có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng, góp phần làm thay đổi so sánh thế và lực trên chiến trường, tạo ra sự nhảy vọt về cục diện chiến trường hoàn toàn có lợi cho ta, đập tan ý định co cụm chiến lược của địch, tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi để ta đẩy mạnh cuộc tổng tiến công chiến lược, tập trung lực lượng áp đảo cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam Việt Nam.

*Tài liệu tham khảo:

"Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975)", Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội -2005.

"Năm 1975 - những sự kiện lịch sử trọng đại", Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010.

- Bộ Quốc phòng - Trung tâm từ điển bách khoa quân sự, "Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam", Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội - 2004.

Đại tá Đặng Việt Thuỷ