Thông tin bất ngờ về năng suất nghiên cứu khoa học ở một số đại học lớn

Giáo dục 24h

Phương Thảo

(GDVN) - Thống kê đáng ngạc nhiên của hai Nghiên cứu sinh cho thấy có sự đột phá về năng suất nghiên cứu khoa học ở các trường đại học non trẻ.

Hai nghiên cứu sinh Phạm Hiệp và Huỳnh Hữu Hiền vừa công bố kết quả thống kê có tính chất tham khảo của mình về năng suất nghiên cứu khoa học (số lượng bài báo công bố trên ISI trên tổng số cán bộ, giảng viên có trình độ tiến sĩ) của một số đại học có số lượng công bố quốc tế hàng đầu Việt Nam tính từ đầu năm 2015 đến nay.

Khá bất ngờ khi năng suất cao nhất lại thuộc về 2 đại học non trẻ là trường Đại học Duy Tân và trường Đại học Tôn Đức Thắng.

Hai nghiên cứu sinh cho biết, để ra được số lượng công bố của tốp 7 trường có kết quả công bố quốc tế cao nhất Việt Nam tính từ đầu năm 2015 đến nay, họ đã tổng hợp dữ liệu từ trang Web of Science.

Cụ thể:

 STT  Tên trường Số lượng Tiến sĩ  Số bài báo ISI 2015 Số bài ISI/Tiến sĩ  Thứ hạng năng suất nghiên cứu
 1 ĐHQGHN  881  141 0,16 5
 2  ĐH Bách khoa HN  703  138  0,20 3
 3  ĐHQGH TP HCM  1.087 94 0,09 7
 4  ĐH Tôn Đức Thắng  187  73  0,39 2
 5  Đại học Cần Thơ  285 57 0,20 3
 6  Đại học Duy Tân  122  52 0,43 1
 7  Đại học Sư phạm HN  387 51  0,13 6

 Riêng Đại học Tôn Đức Thắng, số lượng 187 gồm tiến sĩ và nghiên cứu sinh.

Về số lượng cán bộ, giảng viên có trình độ tiến sĩ, hai nghiên cứu sinh cho biết họ đã lên từng website các trường để ghi nhận dữ liệu.

Kết quả thống kê cho thấy, năng suất nghiên cứu khoa học của các đại học lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Cần Thơ… đều xếp sau Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) và Đại học Tôn Đức Thắng.

Đại học Duy Tân dẫn đầu năng suất nghiên cứu khoa học. Ảnh minh họa website nhà trường.

Riêng Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh có số lượng tiến sĩ nhiều nhất với 1.087 người nhưng chỉ có số bài báo ISI là 94 (tỷ lệ 0,09 bài ISI/tiến sĩ), xếp cuối cùng trong 7 trường được khảo sát. 

Trong khi đó trường Đại học Duy Tân có 122 tiến sĩ nhưng lại có tới 52 bài báo ISI được công bố (tỷ lệ 0,43 bài ISI/tiến sĩ) đứng ở vị trí dẫn đầu về năng suất công bố quốc tế.

Đánh giá về kết quả thống kê ban đầu này, mặc dù chỉ mang tính chất tham khảo vì thời điểm thống kê từ tháng 1/2015 trở lại đây, có thể không phản ánh bức tranh chung nhưng cũng có thể thấy kết quả này có một số điểm đáng chú ý.

Nghiên cứu sinh Huỳnh Hữu Hiền cho rằng, tỷ lệ này là hợp lý vì những trường có chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học tốt sẽ đạt được kết quả công bố quốc tế cao.

“Những trường có hiệu suất công bố quốc tế cao đã có chiến lược đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu khoa học; họ đã thực hiện hợp tác quốc tế hiệu quả trong nghiên cứu khoa học.

Các trường này đã tăng cường thu hút, xây dựng, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ nghiên cứu cơ hữu tại trường một cách hiệu quả. Hơn nữa trường có chế độ khen thưởng, khuyến khích nghiên cứu khoa học tốt” nghiên cứu sinh Huỳnh Hữu Hiền cho biết.

Việc hai Đại học Quốc gia có số lượng công bố quốc tế nhiều nhất, đó cũng là điều dễ hiểu vì đây là hai đại học lâu đời, nhưng không vì thế mà năng suất lại cao, năng suất cao thuộc về hai đại học còn khá non trẻ (Đại học Duy Tân và Đại học Tôn Đức Thắng).

“Đây là tín hiệu tốt cho thấy bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển mình nhanh chóng, các đại học vốn được coi là không có  truyền thống nghiên cứu đang vươn lên mạnh mẽ.

Đó đều là các trường đại học năng động, có tầm nhìn, có định hướng quốc tế hóa, kết quả này rõ ràng không phải tự nhiên mà có” nghiên cứu sinh Phạm Hùng Hiệp cho biết.

Trước sự năng động của một số trường đại học non trẻ hiện nay, chắc chắn các trường đại học lớn cảm nhận được sức ép này. Nghiên cứu sinh Phạm Hùng Hiệp cho rằng, về nguyên tắc cạnh tranh càng nhiều, lượng nghiên cứu và đào tạo càng tốt và người học càng được lợi.

Phương Thảo
Từ khóa :
Thống kê , các đại học lớn , năng suất nghiên cứu khoa học , đại học Duy Tân , Tôn Đức Thắng.
Thông tin bất ngờ về năng suất nghiên cứu khoa học ở một số đại học lớn
Chủ đề : TỰ CHỦ ĐẠI HỌC
Chủ đề : Giáo dục phổ thông mới
Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
Tuấn Lê
3

Cần đánh giá và kiểm chứng các số liệu... Quan trọng là phải xác định bao nhiêu bài báo được thực hiện từ chính các trường đó. Có nhiều trường mời các tiến sỹ đã nghỉ hưu từ các trường khác về hợp đồng giảng dạy. Khi về trường mới, các vị tiến sỹ này mang những thành tích khoa học có từ xưa(các bài báo có được từ các trường lớn hoặc thực hiện từ nước ngoài) về. Sau đó lấy số bài này chia cho số tiến sỹ sẽ có tỷ lệ cao... Bản thân con số không biết nói dối, chỉ e là con người biến hoá những con số để có thành tích...

Truong Hoàng
0

Hôm nào mua báo ISI ĐỌC để xem chất lượng các ông nghè tới đâu, chứ số lượng nghè thì đầu sổ khu, nhưng phát minh, nghiên cứu KH có giá trị thì bét sổ,ăn cắp chất xám là vô địch, thật xấu hổ TS.

Đức Minh
0

Mình thấy so sánh như vậy không ổn. Các ĐHQG là tổ hợp của nhiều trường đại học, viện. Các đơn vị thành viên có nhiều lĩnh vực khác nhau, kể cả các trường thành viên chuyên về khoa học xã hội và nhân văn. Viết bài ISI trong lĩnh vực KHXN-NV khó hơn nhiều so với KHTN. Đó là lý do vì sao nếu so toàn ĐHQG với ĐH DT và ĐH TĐT thì không tương xứng. Cần phải so với từng trường thành viên của ĐHQG thì bạn sẽ cho thấy số liệu 2 ĐH này còn thua xa.

Vũ minh
2

Rất hoan nghênh bài báo, nhưng cần kiểm chứng với số liệu chắc chắn hơn.

Rungrotehoang
4

Năm nay cuối năm 2015 rồi, sắp chuyển sang đầu năm 2016. Mình nghĩ bạn nên đến thăm lại ĐH Duy Tân xem sao, xem thử còn như lời bạn nói không nhỉ :) . Nghiên cứu cũng phải đi đôi với đào tạo. Và trường DT cũng hiểu được như bạn, không phải chỉ để "sản xuất" như lời bạn nói :)

Do Nhat
20

Tôi đã từng đến dạy ở ĐH Duy Tân và có người quen là TS làm việc ở đó. ĐH Duy Tân xây hẳn 1 phòng lớn trên tầng cao nhất tòa nhà ở đường Quang Trung, lắp điều hòa, dành riêng cho các TS tuyển về, mỗi người được chia 1 ngăn khá riêng biệt gồm 1 bàn, 1 ghế, 1 giá sách, 1 máy tính (có người gọi vui là "chuồng tiến sĩ"). Số TS này hầu hết không tham gia giảng dạy, ngày ngày ngồi tập trung để "sản xuất" bài báo quốc tế. Hầu hết các TS dạng này thuộc các ngành phi thực nghiệm như Toán, Vật lý,... Lương của trường ưu đãi, trả cho họ với điều kiện 1 năm phải có 1-2 bài báo ISI, nếu sau 1-2 năm không có bài thì sẽ chuyển xuống giảng dạy (hưởng lương theo giờ dạy) hoặc thôi hợp đồng. Thiết nghĩ, cách làm này không ổn, kiểu "nuôi gà chọi" và chỉ có tác dụng ngắn hạn (5-10 năm là cùng) do tách rời việc giảng dạy và nghiên cứu.

Xem thêm bình luận
Tin khác