EMagazine

70 năm phát triển của Học viện Nông nghiệp Việt Nam và câu chuyện đưa khoa học trở về với đồng ruộng

70 năm phát triển của Học viện Nông nghiệp Việt Nam và câu chuyện đưa khoa học trở về với đồng ruộng

07/10/2026 06:22
ĐÀO HIỀN
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Trong bối cảnh nền nông nghiệp đang chuyển mình mạnh mẽ, yêu cầu đặt ra không chỉ là tạo ra tri thức mới mà còn làm sao để khoa học thực sự đi vào thực tế, tạo ra giá trị và giải quyết những vấn đề từ thực tiễn.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam (tiền thân là Trường Đại học Nông Lâm) được thành lập ngày 12/10/1956 và là một trong những cơ sở giáo dục đại học có lịch sử lâu đời trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam.

Trải qua 70 năm xây dựng và phát triển (12/10/1956 – 12/10/2026), Học viện đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ, nhà khoa học, chuyên gia cho ngành nông nghiệp. Đồng thời tham gia nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ và tư vấn chính sách, góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn sản xuất và đời sống nông nghiệp, nông thôn.

Từ một trường đại học được thành lập để đáp ứng yêu cầu nhân lực của nền nông nghiệp những năm đầu xây dựng đất nước, Học viện hôm nay đứng trước những yêu cầu mới của một nền nông nghiệp hiện đại, xanh, tự chủ và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chặng đường 70 năm vì thế không chỉ là dịp nhìn lại những gì đã làm được, mà còn đặt ra câu hỏi về bản sắc, sứ mệnh và hướng đi của một trường đại học nông nghiệp trong giai đoạn phát triển mới.

Nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Học viện Nông nghiệp Việt Nam (1956 – 2026), phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc đối thoại với Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Trần Đức Viên - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp I, nguyên Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, hiện là Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo của Học viện, để cùng nhìn lại những dấu mốc quan trọng trong hành trình 70 năm và những yêu cầu mới đối với giáo dục đại học, khoa học nông nghiệp.

Phóng viên: Thưa Giáo sư, nhìn lại chặng đường 70 năm xây dựng và phát triển, theo Giáo sư, điều gì làm nên bản sắc riêng của Học viện Nông nghiệp Việt Nam?

GS.TS. NGND. Trần Đức Viên: Học viện Nông nghiệp Việt Nam không đơn thuần là một cơ sở đào tạo đại học và sau đại học. Qua 70 năm, Học viện đã trở thành một dòng chảy của tri thức, trách nhiệm và khát vọng, gắn liền với những bước phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam.

Ngay từ ngày 12/10/1956, trong những năm tháng đất nước còn nhiều khó khăn, Trường Đại học Nông Lâm – tiền thân của Học viện được thành lập với những giảng đường tranh tre, mái lá tại Quỳnh Đô, Thanh Trì, Hà Nội.

Bản sắc ấy được hun đúc qua những năm tháng chiến tranh. Từ thời kỳ sơ tán lên Cao Bằng, khóa 10 dựng lớp học Chiến Thắng bên dòng suối, đến hơn 2.500 sinh viên gác bút nghiên lên đường ra trận. Trong những năm 1967–1968 tại tuyến lửa Nghệ An, thầy trò vừa bám giảng đường, vừa tham gia sản xuất giữa mưa bom, bão đạn. Năm 1971, khoảng 2.000 thầy trò cùng nhân dân chống đê vỡ Cống Thôn.

Những câu chuyện ấy cho thấy một tinh thần đã trở thành nét riêng của Học viện: "Khi đất nước cần, nhà trường sẵn sàng lên đường; tri thức không chỉ nằm trên trang sách mà phải được đưa vào cuộc sống, phục vụ đất nước và nhân dân".

Sau ngày đất nước thống nhất, hàng nghìn cán bộ, giảng viên và sinh viên lại tỏa đi nhiều vùng miền để điều tra thổ nhưỡng, lập quy hoạch nông nghiệp cho Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và các vùng sinh thái khác. Qua những chuyến đi ấy, mối quan hệ giữa nhà trường với người dân ngày càng được vun đắp, hình thành tinh thần “Đi dân nhớ, ở dân thương”.

green-modern-hydroponic-farming-innovations-presentation-2.png

Đối với một trường đại học đào tạo nông nghiệp, tôi cho rằng điều quan trọng nhất là phải luôn nhớ mình học từ đâu và phục vụ ai. Trong suốt 70 năm, các thế hệ nhà khoa học của Học viện luôn tâm niệm người nông dân là người thầy lớn. Khoa học không thể chỉ nằm trong “tháp ngà” mà phải bắt rễ từ đồng ruộng, từ những vấn đề cụ thể của sản xuất và đời sống.

Đó cũng là lý do nhiều công trình khoa học của Học viện gắn rất chặt với thực tiễn. Từ các nghiên cứu về giống cây trồng, vật nuôi, vụ lúa xuân, lúa lai, cà chua lai, công nghệ khí canh đến những nghiên cứu mới về sinh học, môi trường và công nghệ sinh học, giá trị cuối cùng vẫn phải được nhìn từ khả năng giải quyết những vấn đề mà sản xuất đang đặt ra.

Một phương diện khác làm nên vị thế của Học viện là tinh thần đổi mới và trách nhiệm với quốc gia. Trong 70 năm, Học viện đã đào tạo hơn 120.000 kỹ sư, cử nhân, 15.000 thạc sĩ và gần 700 tiến sĩ. Nhiều thế hệ người học đã trưởng thành, tham gia nghiên cứu, hoạch định chính sách, giảng dạy và hoạt động trong các cơ quan, doanh nghiệp.

Học viện cũng là một trong những cơ sở giáo dục đại học đi đầu trong thí điểm tự chủ toàn diện. Từ nền tảng ấy, Học viện hôm nay đứng trước một yêu cầu lớn hơn khi không chỉ đào tạo nhân lực cho nông nghiệp mà còn phải trở thành một trung tâm tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

green-modern-hydroponic-farming-innovations-presentation-6.png

Phóng viên: Trong thời gian đảm nhiệm cương vị lãnh đạo cao nhất của Học viện, Giáo sư tâm đắc nhất với quyết định nào đã tạo nên bước chuyển về chất, làm thay đổi diện mạo và tầm vóc của nhà trường?

GS.TS. NGND. Trần Đức Viên: Tôi đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp I, sau đó là Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam từ cuối năm 2006 đến giữa năm 2015. Lãnh đạo một trường đại học trọng điểm với gần 1.300 cán bộ, viên chức và hơn 30.000 người học đòi hỏi sự dấn thân, bản lĩnh và một tư duy xuyên suốt: biết dựa vào lẽ phải, thuận theo xu thế phát triển của thời đại; bắt đầu từ những gì mình có và tin rằng những việc người khác làm được thì mình cũng có thể làm được.

Trong gần 10 năm đó, chúng tôi triển khai nhiều quyết sách về quản trị, đào tạo, nghiên cứu, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và tự chủ. Nhìn lại, tôi tâm đắc nhất với ba quyết định mang tính đột phá về thể chế, tự chủ và nguồn nhân lực.

Thứ nhất, chuyển cơ quan chủ quản và khôi phục danh xưng Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Năm 2014, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội được chuyển từ Bộ Giáo dục và Đào tạo về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (cũ), đồng thời đổi tên thành Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Việc trở về với cơ quan quản lý chuyên ngành tạo điều kiện để đào tạo, nghiên cứu của Học viện gắn chặt hơn với yêu cầu thực tiễn của ngành nông nghiệp, đồng thời mở ra thêm những nguồn lực đầu tư cho phát triển. Trong giai đoạn này, Học viện được đầu tư từ Dự án “Nâng cấp Học viện Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn I” và sau đó, nhờ tự chủ và trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (cũ), Học viện được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao cho thực hiện Dự án SAHEP có tổng vốn ODA 54,2 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới.

Thứ hai, thực hiện tự chủ đại học và xây dựng tiềm lực tài chính.

Năm 2015, Học viện là một trong những trường đại học công lập thực hiện tự chủ toàn diện theo Nghị quyết 77/NQ-CP với Quyết định 873/QĐ-TTg.

Với tôi, tự chủ không chỉ là thay đổi cơ chế tài chính mà quan trọng hơn là thay đổi cách nghĩ và cách vận hành của một trường đại học. Từ chỗ trông chờ vào nguồn lực bên ngoài sang chủ động tạo dựng nguồn lực và tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.

Từ chỗ nguồn quỹ gặp nhiều khó khăn vào cuối năm 2006, đến năm 2015, tổng thu của Học viện tăng gần 8 lần, chênh lệch thu - chi tăng hơn 29 lần so với năm 2007. Đến năm 2015, Học viện đã tự đầu tư khoảng 74% kinh phí xây dựng 55 công trình với tổng diện tích khoảng 66.000 m² sàn, hoàn thành quy hoạch chi tiết 1/500 và xây dựng tuyến đường gom bao quanh Học viện.

Thứ ba, tập trung phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy công bố quốc tế.

Một trường đại học muốn thay đổi thực chất thì trước hết phải thay đổi từ đội ngũ. Trong giai đoạn 2006–2015, chúng tôi đặc biệt chú trọng đào tạo giảng viên trẻ và tạo môi trường để các nhà khoa học tiếp cận chuẩn mực nghiên cứu quốc tế.

Nhà trường tạo điều kiện để giảng viên trẻ đi đào tạo tại các trường đại học ở các nước phát triển; gần 200 cán bộ trẻ được đưa vào Thành phố Hồ Chí Minh học tiếng Anh để chuẩn bị cho việc học tập ở nước ngoài. Nhiều chương trình học bổng quốc tế cũng được tận dụng để đưa cán bộ trẻ đi đào tạo, nghiên cứu và tu nghiệp.

Cùng với đó là cơ chế khuyến khích công bố quốc tế và phát triển các trung tâm nghiên cứu theo hướng tự chủ. Kết quả là tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học tăng lên hơn 92%, số lượng công bố quốc tế tăng khoảng 10 lần.

Ba quyết định này, theo tôi, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau khi thay đổi thể chế tạo không gian phát triển, tự chủ tạo nguồn lực, còn đội ngũ tạo nền tảng tri thức cho sự phát triển lâu dài.

text-phu-9010.png

Phóng viên: Trong các công trình nghiên cứu khoa học Giáo sư đã thực hiện, đâu là hướng nghiên cứu mà thầy tâm đắc nhất về giá trị thực tiễn, đóng góp cho nông nghiệp và đời sống người dân?

GS.TS. NGND. Trần Đức Viên: Suốt hơn 45 năm gắn bó với khoa học, tôi luôn tâm niệm rằng thành công của một nhà khoa học không nằm ở việc kiếm được bao nhiêu tiền, mà ở chỗ nghiên cứu của mình đã góp phần làm thay đổi “bộ mặt” nông nghiệp, nông thôn và người nông dân như thế nào.

Tôi tâm đắc nhất với ba hướng nghiên cứu.

Thứ nhất là sinh thái học nông nghiệp và “hệ sinh thái nhân văn”. Từ đầu những năm 1980, tôi là một trong những người sớm đề xuất phát triển sinh thái học nông nghiệp và xây dựng nền nông nghiệp sinh thái ở Việt Nam. Năm 1992, tôi đưa ra cách tiếp cận “sinh thái nhân văn”, nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và cộng đồng.

Tôi cũng đề xuất một cách hiểu về văn hóa: “Văn hóa là cung cách ứng xử của con người với thiên nhiên và với đồng loại”. Với tôi, đây là một cách tiếp cận quan trọng để nhìn nhận lại mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và sử dụng tài nguyên.

Thứ hai là quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, gắn bảo vệ môi trường với sinh kế người dân. Qua nghiên cứu tại vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát và một số khu vực miền núi, chúng tôi cho rằng phát triển bền vững cần tôn trọng tri thức bản địa, sự đa dạng văn hóa và trao quyền nhiều hơn cho cộng đồng địa phương.

Thứ ba là nông nghiệp carbon thấp, kinh tế sinh học và phát triển xanh. Những năm gần đây, tôi tập trung nghiên cứu chuyển đổi hệ thống nông nghiệp - lương thực theo hướng xanh, carbon thấp, kinh tế tuần hoàn và sử dụng hiệu quả tài nguyên.

Điểm chung của các hướng nghiên cứu đó là đưa khoa học trở về với đời sống. Khoa học phải bắt đầu từ vấn đề thực tế của người dân, đồng ruộng và hệ sinh thái, đồng thời hướng tới một nền nông nghiệp hiệu quả, xanh và bền vững hơn.

green-modern-hydroponic-farming-innovations-presentation-5.png

Phóng viên: Nhìn lại 70 năm, theo Giáo sư, Học viện đã tiếp nối truyền thống khoa học của các thế hệ đi trước như thế nào? Những thành tựu gần đây đã đóng góp ra sao cho sản xuất nông nghiệp và đời sống người nông dân?

GS.TS. NGND. Trần Đức Viên: Học viện tự hào vì nhiều thế hệ nhà khoa học đã để lại dấu ấn trong nền khoa học nông nghiệp Việt Nam. Điều đáng mừng là truyền thống ấy vẫn được tiếp nối.

Dù còn nhiều khó khăn về kinh phí, thiết bị và cơ sở vật chất, các nhà khoa học của Học viện vẫn có nhiều công trình mang giá trị thực tiễn. Có thể kể đến công nghệ khí canh của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Thạch; công nghệ lúa lai với giống VL20 của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoan; các giống lúa lai TH3-3, CT16 của Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Trâm; các giống cà chua lai HT của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Minh; cùng những nghiên cứu trong chăn nuôi như lợn kháng stress Pietrain, bò 3B và đệm lót sinh học.

Những thành tựu ấy cho thấy, với khoa học nông nghiệp, giá trị của công trình không chỉ nằm ở bài báo hay phòng thí nghiệm mà quan trọng hơn là khả năng giải quyết những vấn đề của sản xuất và đời sống.

Để nghiên cứu không rơi vào tình trạng “xếp xó”, trước hết cần thay đổi tư duy quản trị khoa học, chuyển từ cách làm nặng về hành chính sang khoa học tạo ra giá trị.

Nhà khoa học cũng phải biết học từ người nông dân. Tôi luôn dặn học trò rằng bà con chính là những người thầy lớn của chúng ta. Mỗi đề tài cần bắt đầu từ những vấn đề thực tế của đồng ruộng và đưa kết quả nghiên cứu trở lại sản xuất.

Bên cạnh đó, cần tri thức hóa người nông dân, giúp họ tiếp cận và làm chủ những công cụ mới như dữ liệu số, cảm biến, trí tuệ nhân tạo, viễn thám và truy xuất nguồn gốc; với người nông dân hiện nay, smartphone đã trở thành một “công cụ” lao động.

Cuối cùng là phải có mô hình đủ quy mô để chuyển giao và nhân rộng. Học viện cần phối hợp với hợp tác xã, doanh nghiệp và địa phương để đưa công nghệ vào sản xuất, gắn nghiên cứu với giảm chi phí, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tuần hoàn phụ phẩm và nâng cao giá trị nông sản.

Suy cho cùng, thực tiễn vẫn là thước đo quan trọng của khoa học nông nghiệp.

text-phu.png

Phóng viên: Trước thách thức của biến đổi khí hậu và sự phát triển nhanh của công nghệ số, AI, sinh học tổng hợp, Học viện cần đổi mới chương trình và phương thức đào tạo ra sao để sinh viên đáp ứng yêu cầu mới của nền nông nghiệp, thưa Giáo sư?

GS.TS. NGND. Trần Đức Viên: Thế giới ngày nay là một thế giới “VUCA”, đầy biến động, bất định và phức tạp. AI có thể trả lời rất nhanh nhiều câu hỏi mà trước đây sinh viên phải mất nhiều thời gian tìm kiếm. Doanh nghiệp cũng ngày càng quan tâm đến năng lực thực tế hơn là chỉ nhìn vào bằng cấp.

Theo tôi, đại học trước hết phải là nơi hình thành nền tảng tri thức, tư duy khoa học và năng lực tự học suốt đời, chứ không chỉ đào tạo để người học đảm nhiệm một vị trí công việc cố định nào đó khi ra trường.

Thứ nhất, phải chuyển từ đào tạo kiến thức sang phát triển năng lực học tập và thích ứng. Kiến thức chuyên môn có thể thay đổi nhanh, nhưng tư duy hệ thống, khả năng tự học và năng lực “học, quên và học lại” sẽ theo người học lâu dài.

Người kỹ sư nông nghiệp không chỉ cần kiến thức kỹ thuật mà còn phải hiểu con người, xã hội và môi trường. Vì vậy, sinh viên cần được trang bị nền tảng khoa học cơ bản, chuyên môn ngành, công nghệ mới, kỹ năng số và ngoại ngữ.

Thứ hai, đào tạo phải có tính tích hợp, kết nối nông nghiệp với công nghệ và kinh tế. Chương trình không thể chỉ bó hẹp trong trồng trọt, chăn nuôi hay thủy sản truyền thống mà phải hướng tới nền nông nghiệp công nghệ cao.

Sinh viên cần được tiếp cận với bộ ba trụ cột hệ sinh thái nông nghiệp hiện đại: AgTech – FoodTech – FinTech và các kiến thức về kinh tế, tài chính: từ canh tác số, drone, IoT, AI trong nông nghiệp đến công nghệ sau thu hoạch, kinh tế tuần hoàn và thị trường carbon. Mục tiêu là giúp người học không chỉ biết sản xuất mà còn hiểu toàn bộ chuỗi giá trị nông sản.

Thứ ba, phải chú trọng năng lực và ngoại ngữ. Sinh viên cần có tư duy hệ thống, khả năng hợp tác, thích ứng trước biến động và năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo. Tiếng Anh là nền tảng để tiếp cận tri thức toàn cầu; tiếng Trung cũng ngày càng quan trọng đối với người làm nông nghiệp.

Đào tạo kỹ sư nông nghiệp trong thời đại AI không phải là dạy thật nhiều kiến thức, mà là giúp các em biết cách học, biết cách thích ứng và biết sử dụng công nghệ để giải quyết những vấn đề thực tế của nông nghiệp và đời sống.

Phóng viên: Nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Giáo sư muốn gửi gắm thông điệp gì và mong thế hệ trẻ sẽ viết tiếp câu chuyện 70 năm bằng dấu ấn nào?

GS.TS. NGND. Trần Đức Viên: 70 năm qua là một trang sử được viết bằng mồ hôi của các thế hệ nhà khoa học, sự hy sinh của không ít cựu sinh viên trong số hơn 2.500 sinh viên lên đường ra trận và sự cống hiến của hàng vạn cựu sinh viên trên mọi miền Tổ quốc. Đó là những trang sử rất vinh quang và tự hào, tạo nên các di sản vô giá cho Nhà trường. Thế hệ chúng tôi đã hoàn thành sứ mệnh của mình; giờ đây, ngọn đuốc tri thức được trao lại cho thế hệ trẻ.

Điều đầu tiên tôi muốn nhắn nhủ các bạn là hãy nuôi dưỡng khát vọng và đam mê. Tuổi trẻ cần có ước mơ, khi có khát vọng và đam mê, con người có thể vượt qua nhiều khó khăn để tiến về phía trước. Đừng sống mờ nhạt, đừng làm việc hời hợt, đã lựa chọn con đường nào thì hãy dấn thân và đi đến cùng. Bởi vì, cuộc đời này, suy cho cùng không phải là trả lời câu hỏi bạn là ai, mà là thực ra bạn đã làm được những gì cho cộng đồng, cho tiến bộ xã hội.

Tôi cũng kỳ vọng thế hệ trẻ sẽ làm nông nghiệp theo một cách khác: tử tế hơn, có trách nhiệm hơn và tạo ra giá trị cao hơn. Nông nghiệp không chỉ để thoát nghèo mà hoàn toàn có thể tạo ra sự giàu có chính đáng. Các bạn cần vượt qua tư duy sản xuất manh mún, hướng tới nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và sử dụng hiệu quả đất đai, và các mối quan hệ trong hệ sinh thái.

Cuối cùng, tôi mong thế hệ trẻ mang khát vọng ấy bước ra thế giới. Học viện cần đào tạo những người trẻ đủ năng lực hội nhập, tự tin đưa trí tuệ Việt Nam tham gia vào mạng lưới khoa học toàn cầu.

Nếu thế hệ trước đã đặt những viên gạch đầu tiên và tạo dựng nền móng cho Học viện, thì thế hệ trẻ hôm nay phải viết tiếp bằng những công trình khoa học mới, những công nghệ mới và những đóng góp thiết thực cho nền nông nghiệp Việt Nam.

Tôi tin rằng, với khát vọng, tri thức và tinh thần dấn thân, thế hệ trẻ sẽ viết tiếp câu chuyện 70 năm của Học viện bằng những dấu ấn mới, để trí tuệ Việt Nam ngày càng được khẳng định trên bản đồ khoa học và nông nghiệp thế giới.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn GS.TS. NGND. Trần Đức Viên.

ĐÀO HIỀN