Giảm tổn thất điện năng trên lưới truyền tải, giải pháp chi phí

05/05/2020 06:09 Tùng Dương
GDVN- Giảm tổn thất điện năng là một tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả công tác. Đây là mục tiêu quan trọng nên nhiều năm qua EVNNPT đã áp dụng nhiều giải pháp.

Tổn thất điện năng là một tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả công tác sản xuất, kinh doanh của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT). Với mục tiêu quan trọng này, trong các năm qua EVNNPT đã không ngừng áp dụng nhiều giải pháp.

Nhưng nếu chỉ nhằm mục tiêu tổn thất điện năng lưới điện truyền tải thấp có thể dẫn đến chi phí phát điện của EVN sẽ tăng do phải huy động các nguồn điện giá cao như dầu, khí để đảm bảo cân bằng nguồn và phụ tải theo từng vùng, miền.

Với đặc điểm địa hình đất nước ta dài và hẹp, tài nguyên năng lượng phân bố không đồng đều với các nguồn nhiệt điện than gần các mỏ than trữ lượng lớn hầu hết tập trung ở vùng Đông Bắc.

Nguồn điện khí chủ yếu nằm ở Đông và Tây Nam bộ, nguồn thủy điện chủ yếu phân bố ở miền Bắc và miền Trung.

Do đó, khoảng cách truyền tải năng lượng xa nhất trên hệ thống từ miền Bắc vào miền Nam trên 2000 km. Trong khi riêng năm 2019, nhu cầu tiêu thụ điện lại tập trung khoảng 46% ở miền Nam, khoảng 45% ở miền Bắc và chỉ 9% ở miền Trung.

Để vận hành kinh tế hệ thống điện, việc huy động công suất và điện năng các nhà máy điện sẽ phải theo mùa.

Cụ thể, vào mùa lũ ưu tiên huy động cao nguồn từ các nhà máy thủy điện, đặc biệt là các nhà máy thủy điện lớn miền Bắc để tận dụng nguồn tài nguyên nước với giá thành rẻ.

Vào mùa khô khi các nhà máy thủy điện giảm khai thác, hệ thống điện phải huy động cao các nhà máy nhiệt điện than khu vực miền Bắc và các nhà máy nhiệt điện than, khí, dầu khu vực miền Nam.

Công nhân Công ty Truyền tải Điện 2 sử dụng thiết bị camera nhiệt để phát hiện các điểm phát nhiệt trên lưới điện, phòng ngừa sự cố tại trạm biến áp 500kV Thạnh Mỹ. ảnh: evnnpt.

Ông Lưu Việt Tiến - Phó Tổng Giám đốc EVNNPT cho biết: “Về bản chất, tổn thất điện năng trên lưới truyền tải là lượng điện năng tiêu hao trong quá trình vận chuyển năng lượng trên hệ thống lưới truyền tải, nó tỉ lệ thuận với sản lượng điện năng và khoảng cách từ nguồn tới các phụ tải. Do đó, tổn thất điện năng nhỏ nhất thì phải cân bằng nguồn và phụ tải theo từng vùng miền”.

Ông Tiến phân tích: “Do nhu cầu tiêu thụ của phụ tải khu vực miền Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ chiếm 46% nhu cầu phụ tải cả nước nên vào mùa lũ sẽ phải tăng truyền tải cao sản lượng từ miền Bắc, miền Trung cấp điện cho miền Nam.

Việc truyền tải cao trên hệ thống đường dây 500 kV Bắc - Nam đương nhiên sẽ làm gia tăng tổn thất điện năng trên lưới 500 kV và qua đó làm tăng tổn thất điện năng trên lưới điện truyền tải nói chung.

Theo dự báo của EVN, nhu cầu phụ tải của miền Nam trong những năm tới vẫn tiếp tục ở mức cao.

Để đảm bảo cấp điện cho miền Nam cũng như khai thác hiệu quả các nguồn năng lượng trên từng miền đặc biệt là nguồn điện có giá rẻ, thủy điện miền Bắc và miền Trung vào mùa lũ, các năm tới sẽ tiếp tục truyền tải cao trên lưới 500 kV theo trục Bắc - Trung - Nam.

Bởi như 2 năm trước, truyền tải trên lưới 500 kV từ miền Bắc vào miền Nam là khoảng 8,31 tỷ kWh (năm 2018) và năm 2019 là khoảng 3,44 tỷ kWh”.

Với những phân tích và dự báo trên thì theo lãnh đạo EVNNPT, chỉ tiêu tổn thất điện năng trên lưới điện truyền tải đạt 2,15% vào năm 2020 và 2,14% vào năm 2025 là một áp lực lớn mà EVNNPT cần nỗ lực thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mới có thể hoàn thành.

Một thực tế là qua các số liệu thống kê hàng năm của EVNNPT cho thấy tổn thất điện năng trên lưới điện truyền tải phụ thuộc chủ yếu vào phương thức huy động nguồn dẫn đến truyền tải cao trên lưới 500 kV Bắc - Trung - Nam.

Điều đó được phản ánh qua chỉ số tổn thất điện năng trên lưới điện truyền tải của EVNPT trong quý 1/2020 lại thấp hơn nhiều so với năm 2019 (1,99/2,15) trong khi sản lượng điện truyền tải vẫn tăng.

Theo ông Lưu Việt Tiến: “Cùng một phương thức vận hành, kết nối nguồn, lưới, phụ tải và trào lưu công suất giống nhau nếu sản lượng càng tăng thì tổn thất càng tăng.

Nhưng ở đây lại ngược lại, sản lượng điện truyền tải trong quý 1/2020 tăng 5,62% nhưng sản điện truyền tải trên đường dây 500 kV trục Bắc - Trung - Nam giảm nên tổn thất điện năng lại giảm 0,21% so với cùng kỳ năm 2019.

Các con số trên chứng minh rõ nét việc tăng giảm tổn thất điện năng chịu tác động chủ yếu từ phương thức vận hành hệ thống điện”.

Những giải pháp trong quản lý và vận hành

Ông Tạ Việt Hùng - Trưởng Ban Kỹ thuật (Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia - EVNNPT) cho biết: “Năm 2019, tổn thất điện năng trên lưới điện truyền tải đạt 2,15%, giảm 0,29% so với kết quả thực hiện năm 2018 và thấp hơn 0,19% so với chỉ tiêu kế hoạch Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) giao.

Riêng quí 1/2020, tổn thất điện năng trên lưới điện truyền tải đạt 1,99%, thấp hơn 0,16% so với kế hoạch Tập đoàn giao và giảm 0,16% so với kết quả thực hiện năm 2019”.

Với kết quả này, theo đánh giá của ông Lưu Việt Tiến - Phó Tổng Giám đốc EVNNPT: “Tổng công ty đã đạt mức tổn thất điện năng đúng bằng chỉ tiêu tổn thất điện năng năm 2020 Tập đoàn đã giao tại kế hoạch 5 năm 2016 - 2020. Đây là kết quả thực hiện tốt nhất trong hơn 11 năm kể từ ngày thành lập Tổng công ty.

Với chỉ số tổn thất điện năng đạt ở mức 2,15% trong năm 2019 và 1,99% trong quý 1/2020, EVNNPT thuộc nhóm tổn thất trung bình của các nước có hệ thống truyền tải điện tiên tiến”.

Rửa sứ Hotline (không cắt điện) do Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia thực hiện là một trong những giải pháp giảm tổn thất điện năng. ảnh: evnnpt.

Ông Tiến cũng khẳng định: “Nguyên nhân chính giảm tổn thất điện năng trong năm 2019 cũng như quí 1/2020 là do phương thức vận hành giảm sản lượng điện truyền tải trên lưới 500 kV Bắc - Trung - Nam.

Cụ thể, sản lượng điện truyền tải Bắc - Trung trong năm 2019 là 7,19 tỷ kWh, giảm 4,75 tỷ kWh so với năm 2018.

Trong đó, sản lượng từ các nhà máy nhiệt điện than ở khu vực Đông Bắc tăng 34,7% và sản lượng từ các nhà máy thủy điện ở khu vực Tây Bắc giảm 36,7%, làm giảm khoảng cách trung bình truyền tải điện theo trục Bắc - Trung.

Bên cạnh đó, sản lượng điện truyền tải Trung - Nam là 10,48 tỷ kWh, giảm 9,4 tỷ kWh so với năm 2018.

Ngoài nguyên nhân khách quan do phương thức vận hành, để đạt được kết quả giảm tổn thất điện năng như vậy, theo lãnh đạo EVNNPT, Tổng công ty đã cùng các đơn vị tập trung triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp.

Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan điều độ để đảm bảo các thông số vận hành đặc biệt là điện áp và mang tải thiết bị, Tổng công ty còn chủ động trang bị các thiết bị nhằm ổn định điện áp trên lưới như kháng điện, tụ điện.

Liên tục rà soát lưới điện để nâng khả năng tải các đường dây, nâng công suất các máy biến áp đầy và quá tải trong vận hành. Đồng thời quản lý tốt hệ thống đo đếm ranh giới, đảm bảo hệ thống đo đếm ranh giới đo đếm chính xác sản lượng điện năng giao nhận.

Bên cạnh đó, giải pháp giảm sự cố lưới điện, khôi phục nhanh sự cố luôn được Tổng công ty chú trọng”.

Theo ông Tạ Việt Hùng -Trưởng Ban Kỹ thuật: “Trong số các dự án đóng điện năm 2019 có vai trò hết sức quan trọng như: Đường dây 500 kV Vĩnh Tân - rẽ Sông Mây - Tân Uyên, Sông Mây - Tân Uyên.

Trạm biến áp 500 kV Tân Uyên; nâng công suất các trạm biến áp 500 kV: Lai Châu, Dốc Sỏi, Tân Định và nhiều dự án lưới điện 220 kV trọng điểm như các đường dây 220 kV: Nho Quan - Thanh Nghị, mạch 2 Đồng Hới - Đông Hà - Huế, Bình Long - Tây Ninh; trạm biến áp 220 kV Tây Hà Nội....

Đặc biệt trong năm 2019 và đầu năm 2020, EVNNPT đã hoàn thành đưa vào vận hành sớm tiến độ các dự án phục vụ giải tỏa công suất các nguồn năng lượng tái tạo như nâng công suất trạm biến áp 220 kV Tháp Chàm.

Lắp máy 2 trạm biến áp 220 kV Hàm Tân, trạm biến áp 220 kV Phan Rí và mới đây, ngày 17/4 vừa qua, Tổng công ty đã đóng điện vận hành máy biến áp 500 kV, công suất 900 MVA tại Trạm biến áp 500 kV Vĩnh Tân”.

Theo ông Lưu Việt Tiến - Phó Tổng Giám đốc EVNNPT: “Tổng công ty đã xây dựng đề án giảm tổn thất điện năng lưới điện truyền tải để đề ra các giải pháp, hàng năm đánh giá hiệu quả các giải pháp và bổ sung các giải pháp mới để quản lý và giảm tổn thất điện năng.

EVN với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
EVN với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Cụ thể như tiếp tục duy trì hoạt động hiệu quả của ban chỉ đạo giảm tổn thất điện năng từ Tổng công ty cho đến các đơn vị; Phát triển nguồn nhân lực quản lý và kỹ thuật chất lượng cao.

Bên cạnh đó, Tổng công ty đã ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ cao vào quản lý vận hành và đầu tư lưới điện như công nghệ để nâng cao năng lực giám sát, chuẩn đoán, đánh giá đối với thiết bị.

Sử dụng vật liệu sản xuất bằng công nghệ mới để giảm tổn thất điện năng. Cùng với đó, tăng cường quản lý kỹ thuật, quản lý vận hành, giảm sự cố, giảm thời gian cắt điện…”

Ông Tiến cho biết: “Hiện Tổng công ty đang triển khai Chiến lược Ứng dụng và phát triển khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực truyền tải điện đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2040.

Tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại EVNNPT, tiếp tục triển khai Đề án “Lưới điện thông minh của EVNNPT” nhằm đẩy mạnh ứng dụng khoa học, kỹ thuật với mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động và hoàn thành các mục tiêu chiến lược của EVNNPT".

Với chỉ số tổn thất điện năng đạt ở mức 2,15% trong năm 2019 và 1,99% trong quý 1/2020, EVNNPT thuộc nhóm tổn thất trung bình của các nước có hệ thống truyền tải điện tiên tiến.

So sánh cùng nhóm tổn thất từ 2 - 3% có TransGrid (Australia), RTE (Pháp), PSE SA (Ba Lan), Elia 50 Hertz (Đức), KEPCO (Hàn Quốc), Transelectrica (Rumani), TEIAS (Thổ Nhĩ Kỳ) và SK (Thụy Điển).

Thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực như EGAT (Thái Lan) - 3,19%, PLN (Indonesia) - 6,3%.

EVNNPT cho biết, những công ty có tổn thất truyền tải thấp nhất là SPT (Scottland) 1,13%, SP Power (Singapore) 1,2%, TNB (Malaysia) 1,47%, TenneT B.V. (Hà Lan và Đức) 1,55% và NGET (Anh) 1,7%.

Một số công ty truyền tải có chất lượng hàng đầu nhưng mức tổn thất truyền tải khá cao như TransGrid (Australia) 2%, RTE (Pháp) 2,01%, Elia 50 Hertz (Đức) 2,14%, Transelectrica (Rumani) 2,35%, SK (Thụy Điển) 2,79%.

Nhóm các nước có tỷ lệ tổn thất cao, trên 6%, gồm CSG (Trung Quốc), PLN (Indonesia), SGCC (Trung Quốc) và POWERGRID (Ấn Độ).

Tùng Dương