Ngày càng nhiều người già có lương hưu nhờ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Diệu Linh
(GDVN) - Chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện ra đời từ năm 2008 nhằm tạo cơ hội cho mọi người lao động ở khu vực phi chính thức được tham gia.

Sau 10 năm triển khai với định hướng chính trị thực hiện “Bảo hiểm xã hội toàn dân” được khẳng định tại Nghị quyết số 28-NQ/TW, công tác phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện đã có nhiều bứt phá. 

Theo bà Đinh Mai Hạnh P-hó Trưởng Ban Thu Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong hơn 10 năm qua, việc thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện được thực hiện theo hai giai đoạn với những quy định khác nhau.

Ở giai đoạn đầu, thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 (Luật số 71/2006/QH11); giai đoạn tiếp theo là thực hiện theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội Sửa đổi năm 2014 (Luật số 58/2014/QH13).

Những quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội Sửa đổi về Bảo hiểm xã hội tự nguyện là sự tổng kết kinh nghiệm 7 năm thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, trên cơ sở đó có những sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tiễn và đáp ứng tốt yêu cầu mở rộng diện bao phủ Bảo hiểm xã hội đến người lao động thuộc mọi khu vực của nền kinh tế.

Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện, tính đến ngày 31/5/2019, toàn quốc có trên 360.000 người đang tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện. Đây là con số khá khiêm tốn so với dư địa trên 30 triệu người thuộc đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện tiềm năng.

Ngày càng nhiều người già có lương hưu nhờ bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Việc phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện gặp nhiều khó khăn một mặt do những đặc điểm riêng của nhóm đối tượng lao động thuộc khu vực phi chính thức, mặt khác do những hạn chế ngay từ trong chính sách, có thể kể đến như:

Thứ nhất, nhóm lao động phi chính thức làm việc theo chế độ linh hoạt là rất khó quản lý, họ hưởng lương, thu nhập khác từ nhiều nguồn khác nhau, không ổn định, không cố định về không gian, thời gian cụ thể.

Thứ hai, hiểu biết về chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế của nhiều người lao động chưa đầy đủ, họ chủ yếu hiện nay mới chỉ quan tâm đến vấn đề tiền lương, thu nhập hằng tháng và lợi ích trước mắt mà chưa quan tâm đến việc phòng xa cho bản thân về sau này khi hết tuổi lao động.

Thứ ba, bên cạnh đó, trên thực tế, người lao động ở khu vực phi chính thức cũng thường bị ốm đau, thai sản, thất nghiệp cũng có xu hướng tăng cao. Do đó, nếu chúng ta không có chính sách tăng quyền lợi, mở rộng quyền lợi cho người lao động thì sẽ khó thu hút được họ tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Trao đổi về thông tin người dân chỉ cần tiết kiệm 5.000 đồng mỗi ngày để tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện thì sẽ được hưởng lương hưu, bà Đinh Mai Hạnh cho biết: "Thông tin này là có cơ sở, tuy nhiên chưa thật sự chính xác. Bởi lẽ người dân có thể chỉ tiết kiệm chưa đến 5.000 đồng mỗi ngày là đã có cơ hội nhận lương hưu.

Tôi xin đưa ra giả định người dân chọn mức thu nhập làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện thấp nhất hiện nay là mức thu nhập chuẩn hộ cận nghèo khu vực nông thôn, bằng 700.000 đồng/tháng; tương ứng với mức đóng Bảo hiểm xã hội là 154.000 đồng/tháng.

Người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhà nước hỗ trợ bằng 10%, 25% đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo và 30% đối với người thuộc hộ gia đình nghèo tính trên mức đóng 154.000 đồng/tháng.

Như vậy, một người chỉ cẫn mỗi ngày tiết kiệm không đến 5.000 đồng để tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện thì sau 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện và khi đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ là đã được hưởng lương hưu.

Qua ví dụ này có thể thấy tính chất ưu việt của Bảo hiểm xã hội tự nguyện. Thời gian tới, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tập trung chỉ đạo tăng cường tuyên truyền trực tiếp đến người dân để tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện".

Vậy người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng những quyền lợi như thế nào? Theo Bà Đinh Mai Hạnh, có 6 điểm đáng chú ý:

Thứ nhất, hưởng lương hưu (khi nam từ đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 55 tuổi trở lên và có từ đủ 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội trở lên).

Thứ hai, được cấp thẻ Bảo hiểm y tế để khám, chữa bệnh theo chế độ Bảo hiểm y tế khi đang hưởng lương hưu (không phải mua Bảo hiểm y tế).

Thứ ba, lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế phù hợp với quỹ Bảo hiểm xã hội.

Thứ tư, người đang hưởng lương hưu, hoặc người đang tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện từ đủ 5 năm trở lên, khi qua đời thì thân nhân được hưởng tiền mai táng phí và tiền tuất một lần.

Thứ năm, được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng khi tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện với thời gian hỗ trợ tối đa là 10 năm.

Thứ sáu, thời gian đã đóng Bảo hiểm xã hội đều được ghi nhận để tính hưởng Bảo hiểm xã hội

Như vậy, một lần nữa khẳng định Bảo hiểm xã hội tự nguyện là chính sách an sinh xã hội dài hạn hướng tới Bảo hiểm xã hội toàn dân, để mọi người dân đều có lương hưu khi hết tuổi lao động.

Để đạt được mục tiêu mà Nghị quyết 28-NQ/TW đã đề ra, ngành Bảo hiểm xã hội đã, đang và sẽ có những giải pháp gì để phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện?

Bà Đinh Mai Hạnh cho biết, trong hơn 10 năm qua, theo từng giai đoạn, Bảo hiểm xã hội Việt Nam có những giải pháp phù hợp để phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện. Đặc biệt, kể từ sau Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, với định hướng chính trị thực hiện “Bảo hiểm xã hội toàn dân”, với sự chỉ đạo sát sao từ Chính phủ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục triển khai nhiều giải pháp đồng bộ và quyết liệt:

Một là, đề xuất với Chính phủ tăng mức hỗ trợ cho người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện; hoặc linh hoạt hơn về mức hỗ trợ, như mức hỗ trợ tối thiểu bằng 30%, 25%, 10%  để địa phương nào có điều kiện, kinh tế phát triển thì có thể hỗ trợ thêm một phần mức đóng cao hơn cho người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Hai là, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện trong chỉ tiêu phát triển kinh thế - xã hội của địa phương theo Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 03/8/2018 của Chính phủ về giao chỉ tiêu phát triển Bảo hiểm xã hội; thường xuyên sơ kết, tổng kết, đánh giá, kiểm điểm những tồn tại, hạn chế nguyên nhân chậm phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện; đưa ra các giải pháp nhằm tăng nhanh đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Ba là, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tích cực phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức… tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện để nhiều người dân hiểu từ đó chủ động tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Bốn là, mở rộng hệ thống mạng lưới đại lý thu Bảo hiểm xã hội tự nguyện, phấn đấu mỗi thôn, bản, tổ dân phố đều có điểm thu Bảo hiểm xã hội tự nguyện, có nhân viên đại lý thu. Hướng dẫn, tập huấn chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với nhân viên địa lý thu để phối hợp tuyên truyền, tư vấn đến người dân.

Năm là, giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với Bảo hiểm xã hội cấp huyện và từng đại lý thu.

Sáu là, đa dạng các hình thức, phương thức nhận hồ sơ, trả kết quả, thu tiền đóng, chuyển tiền đóng vào quỹ, tạo điều kiện thuận lợi nhất đối với người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Diệu Linh
Đang tải tin...