Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) trao quyền mạnh hơn, phân cấp, phân quyền toàn diện hơn

19/03/2026 14:55
Mộc Hương
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN- Cần có các cơ chế, chính sách đặc thù cho phép Thủ đô chủ động hơn trong việc quyết định, tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng quy mô lớn.

Thành phố Hà Nội mong muốn Quốc hội xem xét, thông qua Luật Thủ đô (sửa đổi) ngay tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XVI, để bảo đảm 3 trụ cột chiến lược của Thủ đô được ban hành đồng bộ, phát huy hiệu quả. [1]

Tại Tờ trình số 61/TTr-CP ngày 06/3/2026 của Chính phủ về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi), đã trình bày về sự cần thiết ban hành Luật; mục đích ban hành, quan điểm xây dựng và một số nhóm chính sách lớn trong dự án Luật.

Bước đi chủ động, chiến lược nhằm nâng tầm thiết kế chính sách, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý ở mức cao hơn

Thực tiễn quản lý, phát triển đô thị Thủ đô Hà Nội trong thời gian qua cho thấy vẫn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém mang tính kéo dài, chưa được khắc phục một cách đồng bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người dân và năng lực cạnh tranh của đô thị.

Thực tiễn ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi số cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc hoàn thiện khung pháp lý cho Thủ đô. Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số, xã hội số và yêu cầu quản trị đô thị dựa trên dữ liệu lớn đòi hỏi pháp luật về Thủ đô phải tạo lập nền tảng pháp lý cho việc xây dựng chính quyền số, phát triển đô thị thông minh và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công.

Song song với những hạn chế trong quản lý đô thị, công tác quy hoạch và quản lý, sử dụng tài nguyên trên địa bàn Thủ đô cũng bộc lộ nhiều bất cập.

Một yêu cầu thực tiễn khác mang tính then chốt là nhu cầu hoàn thiện các cơ chế đặc thù, vượt trội để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển Thủ đô. Thực tiễn cho thấy các “điểm nghẽn” về thể chế, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, tài chính - ngân sách, đất đai và hợp tác công - tư đang hạn chế khả năng huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là nguồn lực từ khu vực tư nhân.

Do đó, cần có các cơ chế, chính sách đặc thù cho phép Thủ đô chủ động hơn trong việc quyết định, tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính chất kết nối vùng và liên vùng.

Đồng thời, yêu cầu xây dựng mô hình chính quyền đô thị hiện đại, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đặt ra đòi hỏi phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền một cách thực chất, gắn với trách nhiệm giải trình, theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Đặc biệt, yêu cầu về đổi mới thể chế cho phát triển Thủ đô còn xuất phát từ các mục tiêu chiến lược, tầm nhìn phát triển mới của Thủ đô trong giai đoạn tới. Theo đó, cần xây dựng Thủ đô Hà Nội “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia; trung tâm kiến tạo phát triển, có vai trò dẫn dắt, định hình các mô hình phát triển mới, tư duy mới của quốc gia; từng bước nâng cao vai trò, vị thế của Thủ đô trong khu vực và quốc tế; trung tâm kinh tế tổng hợp có giá trị gia tăng cao, giữ vai trò hạt nhân của Vùng Thủ đô; dẫn đầu cả nước trong một số lĩnh vực then chốt về văn hóa, khoa học, giáo dục, đổi mới sáng tạo; từng bước trở thành Thủ đô kết nối toàn cầu.

photo-1768148754434-1768148755655985812127.jpg
Ảnh minh họa: caicachhanhchinh.hanoi.gov.vn.

Luật Thủ đô cần kịp thời thể chế hóa những chủ trương, chính sách lớn của Đảng theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị trong thời gian qua, Nghị quyết đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII, giải quyết triệt để các “điểm nghẽn” của Thủ đô, hướng tới việc hoàn thiện thể chế đặc biệt, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò, tính chất riêng có của Thủ đô với những cơ chế chính sách vượt trội.

Đồng thời, tăng cường trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương với Trung ương và Nhân dân Thủ đô.

Việc hoàn thiện và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật đặc thù đối với Thủ đô không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập tồn tại trong thực tiễn, mà còn hướng tới xác lập và bảo đảm một thể chế phát triển đặc thù, vượt trội, phù hợp với yêu cầu phát triển của một đô thị đặc biệt, ổn định lâu dài, đủ thẩm quyền và năng lực giải quyết hiệu quả các vấn đề của Thủ đô và Vùng Thủ đô; thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, có kiểm soát, gắn với cơ chế, chính sách đặc thù để Thủ đô chủ động huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho xây dựng và phát triển; tạo lập cơ sở pháp lý cho Quy hoạch tổng thể tầm nhìn 100 năm của Thủ đô, qua đó bảo đảm cho Hà Nội phát triển nhanh, bền vững và thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh tiên phong của Thủ đô trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Mặc dù Luật Thủ đô năm 2024 mới được ban hành, song, bối cảnh phát triển của đất nước đã có những chuyển biến mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu đột phá cao hơn về thể chế. Đất nước đang bước vào Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững.

Theo chỉ đạo của Tổng Bí thư tại Văn bản số 491-TB/VPTW, Thủ đô cần một “không gian pháp lý đủ rộng” để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số và phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt, lan tỏa.

Việc sửa đổi Luật tại thời điểm này không phải do Luật năm 2024 thiếu hiệu quả, mà là bước đi chủ động, chiến lược nhằm nâng tầm thiết kế chính sách, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý ở mức cao hơn, bảo đảm Thủ đô có đủ thẩm quyền, công cụ và dư địa thể chế để thực hiện tầm nhìn phát triển dài hạn và sứ mệnh dẫn dắt trong bối cảnh mới.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực biến động phức tạp, khó lường, khó đoán định, tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và Thủ đô, cùng với sự phát triển rất nhanh chóng của khoa học, công nghệ, các mô hình kinh tế mới thì không thể dự liệu tất cả các nội dung cần quy định ngay trong Luật để phục vụ phát triển Thủ đô.

Do vậy, cần đổi mới tư duy xây dựng Luật Thủ đô theo hướng Thủ đô không chỉ “thực thi chính sách” mà còn phải được giao vai trò “thiết kế chính sách” ở tầm cao hơn để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu, kỳ vọng phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới.

Không chỉ phân quyền, phân cấp cho Thủ đô những nội dung cụ thể mà còn phải phân quyền để Thủ đô ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo cơ chế đặc thù để Thủ đô thực sự phát triển ngang tầm châu lục và quốc tế, dẫn dắt, lan tỏa phát triển của Vùng Thủ đô và cả nước.

Từ các cơ sở nêu trên, việc xây dựng dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) là cần thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng, thực tiễn của Thủ đô và yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Một số nhóm chính sách lớn, mang tính đột phá

Dự thảo Luật cụ thể hóa các chính sách theo mục đích, quan điểm ban hành Luật nêu trên, trong đó có các nhóm chính sách lớn tập trung vào các nội dung sau:

Một là, về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Thủ đô; giá trị của Luật Thủ đô:

Khẳng định địa vị pháp lý đặc thù của Thủ đô: Là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; là trung tâm lớn về kinh tế; dẫn đầu cả nước, vươn tầm khu vực và quốc tế về văn hoá, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế và giao dịch quốc tế.

Khẳng định giá trị pháp lý của Luật Thủ đô là luật đặc thù, được ưu tiên áp dụng tại Thủ đô. Thành phố được quyết định lựa chọn áp dụng quy định của pháp luật thuận lợi cho phát triển Thủ đô ở các văn bản ban hành sau Luật Thủ đô có quy định khác về cùng một vấn đề.

Hai là, về thẩm quyền:

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, khi ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Thủ đô và các văn bản ban hành để thực hiện thẩm quyền được phân quyền trong Luật Thủ đô, được quy định khác với văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành.

Đồng thời, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quy định, điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền đang được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; quy định biện pháp đặc thù để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội khác với quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ; quy định về thí điểm cơ chế, chính sách xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các mô hình, giải pháp quản lý và phát triển mới nhằm phục vụ xây dựng, phát triển Thủ đô và vùng Thủ đô.

Mở rộng thẩm quyền quyết định về tổ chức, bộ máy, vị trí việc làm, thu nhập; chế độ tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập; chính sách phát triển, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Chủ động trong cơ cấu thu, chi ngân sách; quyết định các khoản tín dụng, lập các quỹ tài chính để phục vụ đầu tư phát triển. Giao thẩm quyền cho Thành phố trong phê duyệt dự án đầu tư, phương thức lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu, cơ chế thông thoáng, linh hoạt về giải ngân đầu tư; quyết định các hình thức xã hội hóa, hợp tác công - tư, cơ chế mới trong khai thác tài sản công, công trình, hạ tầng công.

Ban hành cơ chế quản lý, sử dụng, khai thác tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên khác; biện pháp tái điều chỉnh đất đai; biện pháp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giao đất, cho thuê đất; chuyển mục đích sử dụng đất với yêu cầu tuân thủ điều kiện, nguyên tắc trong chuyển mục đích sử dụng đất và quy hoạch được phê duyệt.

Ba là, về xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô:

Đổi mới phương thức quản trị Thủ đô hiện đại dựa trên công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo; giao Thành phố chủ động quy định cơ chế tích hợp, chia sẻ, khai thác dữ liệu.

Ban hành cơ chế, chính sách, mô hình phát triển mới trong các lĩnh vực: khoa học và công nghệ, văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế, an sinh xã hội; giao thẩm quyền cho Thành phố trong việc quản lý, cấp phép; ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực để áp dụng tại Thành phố cao hơn hoặc chưa có quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia; lựa chọn công nhận, áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn tiên tiến, hiện đại của nước ngoài; được ban hành định mức, chế độ chi ngân sách, định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá, giá dịch vụ áp dụng cho Thủ đô khác với quy định hoặc chưa có trong quy định của Trung ương.

Ban hành cơ chế, chính sách, biện pháp lập, quản lý, thực hiện quy hoạch; Thành phố được chủ động trong xây dựng cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển đô thị xanh, thông minh, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) và cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị.

Ban hành cơ chế, chính sách về tổ chức, hoạt động của khu kinh tế tự do, khu thương mại tự do, các loại hình kinh tế mới.

Thành phố được quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp đặc thù về bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, áp dụng biện pháp hành chính cấp bách phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô.

Quá trình xây dựng dự án Luật

Trong quá trình xây dựng dự án Luật, ban soạn thảo đã chú trọng phản ánh các ý kiến phân tích, đánh giá đa chiều của chuyên gia, nhà quản lý, cơ quan thực thi và các đối tượng chịu tác động thông qua các hình thức phỏng vấn, tọa đàm chuyên sâu.

Cụ thể, thực hiện quy định tại các Điều 33, 34 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục xây dựng dự án Luật, bao gồm các hoạt động sau:

Tổ chức đánh giá tình hình triển khai thi hành Luật Thủ đô số 39/2024/QH15, tổng hợp kinh nghiệm quốc tế; đề xuất đưa dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026. Thực hiện rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan.

Tổ chức các buổi làm việc với các Bộ liên quan; các chuyên gia, nhà khoa học để lấy ý kiến đối với các cơ chế, chính sách dự kiến đưa vào Luật Thủ đô (sửa đổi). Trên cơ sở các cơ chế, chính sách do thành phố Hà Nội đề xuất; ý kiến của các Bộ, ngành liên quan, xây dựng dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi), họp Tổ soạn thảo, hoàn chỉnh dự thảo; lấy ý kiến các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, đơn vị có liên quan về hồ sơ dự án Luật (Công văn số 772/BTP-CTXDVBQPPL ngày 05/02/2026); đăng tải hồ sơ dự án Luật trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp và Cổng Pháp luật quốc gia để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến; tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị, cá nhân.

Nghiên cứu, tiếp thu và giải trình đầy đủ các ý kiến, chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật, gửi Bộ Tư pháp thẩm định hồ sơ dự án Luật (Báo cáo thẩm định số 50/BC-BTP ngày 11/02/2026); tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định, chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật để trình Chính phủ.

Nghiên cứu, tiếp thu và giải trình các ý kiến của thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật, ngày 25/02/2026, Bộ Tư pháp có Tờ trình số 27/TTr-BTP trình Chính phủ xem xét, báo cáo Quốc hội về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).

Ngày 05/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 33/NQ-CP về Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 02/2026, trong đó, có nội dung thông qua dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) và giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình dự án Luật, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XVI.

Bố cục của dự án Luật

Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) gồm 09 Chương, 36 Điều, cụ thể như sau:

- Chương I. “Những quy định chung” (gồm 05 điều, từ Điều 1 đến Điều 5)

quy định về phạm vi điều chỉnh; vị trí, vai trò, biểu tượng của Thủ đô; giải thích từ ngữ; nguyên tắc phân quyền và thực hiện nhiệm vụ được phân quyền; áp dụng Luật Thủ đô.

- Chương II: Tổ chức chính quyền, chế độ công vụ và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (gồm 04 điều, từ Điều 6 đến Điều 9) quy định về đơn vị hành chính thuộc thành phố Hà Nội; nhiệm vụ, quyền hạn về tổ chức bộ máy và chế độ công vụ; thẩm quyền về xây dựng, ban hành văn bản pháp luật; thí điểm cơ chế, chính sách.

- Chương III. Quy hoạch, xây dựng và trật tự, an toàn Thủ đô (gồm 05 điều, từ Điều 10 đến Điều 14), quy định về quy hoạch Thủ đô; quản lý, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao; phát triển đô thị và nhà ở; phát triển hạ tầng giao thông, vận tải, logistics; bảo đảm trật tự, an toàn Thủ đô.

- Chương IV. Phát triển văn hóa - xã hội (gồm 03 điều, từ Điều 15 đến Điều 17) quy định về phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; phát triển giáo dục, đào tạo; phát triển hệ thống y tế, an sinh xã hội.

- Chương V. Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (gồm 03 điều, từ Điều 18 đến Điều 20), quy định về chính sách phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thử nghiệm có kiểm soát; phát triển khu công nghệ cao.

- Chương VI. Nguồn lực phát triển Thủ đô (gồm 07 điều, từ Điều 21 đến Điều 27), quy định về quản lý, sử dụng nguồn tài chính, ngân sách; thẩm quyền về đầu tư; quản lý, sử dụng, khai thác tài sản công, tài sản kết cấu hạ tầng; quản lý, bảo vệ, sử dụng tài nguyên; thu hút, trọng dụng và phát triển nguồn nhân lực; thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, phát triển doanh nghiệp; phát triển khu kinh tế tự do, thương mại tự do và loại hình kinh tế mới.

- Chương VII. Liên kết, phát triển vùng (gồm 03 điều, từ Điều 28 đến Điều 30), quy định về mục tiêu, nguyên tắc trong liên kết, phát triển vùng; đầu tư, quản lý dự án liên kết, phát triển vùng; bảo vệ môi trường Thủ đô và vùng Thủ đô.

- Chương VIII. Giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình (gồm 04 điều, từ Điều 31 đến Điều 34), quy định về trách nhiệm của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trách nhiệm của chính quyền, cơ quan, tổ chức và Nhân dân Thủ đô; việc loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý.

- Chương IX. Điều khoản thi hành (gồm 02 điều, từ Điều 35 đến Điều 36), quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp.

Xem thêm dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) tại đây.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://hanoi.gov.vn/tin-tuc-su-kien-noi-bat/luat-thu-do-sua-doi-trao-quyen-manh-hon-phan-cap-phan-quyen-toan-dien-hon-4260318210547855.htm

Mộc Hương