Phương án phát triển GD&ĐT Thủ đô: Ưu tiên đầu tư mạng lưới tại 33 phường đang thiếu trường học

14/03/2026 07:53
Mộc Hương
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN- Hà Nội dự kiến bảo đảm mỗi xã/phường/KĐT mới/đơn vị ở có trường mầm non, trường tiểu học, trường THCS; từ 3-5 vạn dân có 1 trường THPT công lập.

Nội dung trên được nêu trong dự thảo Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đang được lấy ý kiến đến ngày 12/4.

Tại Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo được xác định: Đảm bảo đúng định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá của Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm. Xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo nhân tài, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực châu Á; giữ vững vị thế dẫn đầu cả nước, khẳng định vai trò định hướng, dẫn dắt, tiêu biểu trong phát triển giáo dục và đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực, quốc tế.

Phát triển giáo dục và đào tạo Thủ đô theo hướng toàn diện, hiện đại và hội nhập sâu rộng; gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục và đào tạo với y tế, khoa học - công nghệ, văn hóa và phát triển con người; qua đó góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững Thủ đô và đất nước, xây dựng con người Hà Nội hiện đại, bản sắc, văn minh, nhân văn, sáng tạo và hội nhập.

Phát triển mạng lưới trường, lớp đảm bảo cơ cấu hợp lý theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa, chuẩn hóa, tiên tiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố; xác định và bố trí quỹ đất dành cho mạng lưới trường học theo cơ cấu, loại hình đào tạo và chất lượng giáo dục.

Hình thành một số trung tâm giáo dục - đào tạo chất lượng cao thuộc nhóm dẫn đầu trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, giữ vai trò Hà Nội là hạt nhân trong các chuỗi liên kết giá trị Vùng Thủ đô, Vùng Đồng bằng Sông Hồng, quốc gia, khu vực và toàn cầu về giáo dục và đào tạo.

z7616848301765-14ee3996aa2c920e22559ca0048b936c.jpg

Phát triển đối với giáo dục phổ thông

Chỉ tiêu đề xuất tính số học sinh dựa trên 1.000 người theo đơn vị ở, cụ thể như sau:

chi-tieu.png

Quá trình phát triển đô thị, cùng với sự gia tăng dân số khiến cho nhu cầu về mạng lưới trường học trên địa bàn gia tăng. Dự báo quy mô học sinh ở các cấp học và nhu cầu đất xây dựng trường ở các cấp như sau:

Năm 2026: Toàn thành phố có 2.285.000 học sinh, trong đó: Mầm non (491.355 học sinh); Tiểu học (756.715 học sinh); Trung học cơ sở (542.898 học sinh); Trung học phổ thông (314.608 học sinh)

Với chỉ tiêu 10-15m2/học sinh, nhu cầu đất xây dựng trường học của toàn thành phố giai đoạn 2021-2025 cần tăng thêm tối thiểu so với năm 2026 là 6.158.291m2.

Đến năm 2030: Toàn thành phố có khoảng 2.510.561 học sinh, trong đó: Mầm non (781.035 học sinh); Tiểu học (832.154 học sinh); Trung học cơ sở (654.023 học sinh); Trung học phổ thông (305.567 học sinh).

Với chỉ tiêu 10-15m2/học sinh, dự báo nhu cầu đất xây dựng trường học của toàn thành phố giai đoạn 2026-2030 cần tăng thêm tối thiểu so với năm 2026 là 2.400.000m2.

Đến năm 2045: Toàn thành phố có khoảng 3.029.000 học sinh, trong đó: Mầm non (743.835 học sinh); Tiểu học (885.509 học sinh); Trung học cơ sở (732.575 học sinh); Trung học phổ thông (468.795 học sinh).

Với chỉ tiêu 10-15m2/học sinh, dự báo nhu cầu đất xây dựng trường học của toàn thành phố giai đoạn 2031-2045 cần tăng thêm tối thiểu so với năm 2030 là 6.348.000m2.

Đến năm 2050: Toàn thành phố có khoảng 3.146.919 học sinh, trong đó: Mầm non (829.785 học sinh); Tiểu học (960.611 học sinh); Trung học cơ sở (792.602 học sinh); Trung học phổ thông (563.921 học sinh).

Với chỉ tiêu 10-15m2/học sinh, nhu cầu đất xây dựng trường học toàn thành phố giai đoạn 2046-2050 cần tăng thêm tối thiểu so với năm 2045 là 1.416.000m2.

2030-1633.png
2030-2.png

Phương án phát triển đối với mạng lưới cơ sở giáo dục - đào tạo mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên biệt:

Phát triển mạng lưới các trường mầm non, tiểu học tương ứng với quy mô dân số và cơ cấu nhóm tuổi trong phương án quy hoạch mỗi khu đô thị với khoảng cách tiếp cận phù hợp với khả năng di chuyển của mỗi nhóm tuổi học sinh từ nơi ở.

Bảo đảm mỗi xã/phường/khu đô thị mới hoặc đơn vị ở có ít nhất 01 trường mầm non, 01 trường tiểu học và 01 trường trung học cơ sở phù hợp với nhu cầu thực tế. Bố trí trường học tại khu vực chung, hoặc sử dụng chung trường học hiện hữu gần nhất theo mô hình liên kết - phối hợp đối với các trường hợp đặc biệt không đảm bảo mỗi xã, phường, có ít nhất 01 trường công lập mỗi bậc học (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở).

Bảo đảm từ 3-5 vạn dân có 01 trường trung học phổ thông công lập; khuyến khích triển khai mô hình trường liên cấp trên địa bàn thành phố.

Xây dựng hệ thống trung tâm giáo dục chuyên biệt, trường mầm non, trường phổ thông chuyên biệt trên địa bàn Thủ đô.

Tại các khu đô thị mới: Quy hoạch không gian phát triển các trường học gắn với các dự án tái thiết đô thị theo mô hình TOD (là mô hình phát triển đô thị gắn kết với giao thông công cộng, tạo điều kiện cho việc gia tăng mật độ dân cư, phù hợp với những thành phố lớn); mạng lưới các trường mầm non, tiểu học tại mỗi khu đô thị với khoảng cách tiếp cận phù hợp.

Khuyến khích xã hội hoá giáo dục để huy động thêm nguồn lực của nhân dân trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục của Thủ đô.

Đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học hiện đại cho các trường ở các cấp đáp ứng nhu cầu giáo dục theo quy mô dân số, cơ cấu nhóm tuổi và khoảng cách tiếp cận phù hợp với khả năng di chuyển của mỗi nhóm tuổi học sinh từ nơi ở. Cải tạo, mở rộng tại chỗ (xây thêm phòng) các trường đang có quy mô học sinh/lớp quá lớn để đảm bảo từng bước quy mô đạt chuẩn.

gemini-generated-image-xw7aefxw7aefxw7a.jpg
Ảnh minh họa: AI.

Các hướng ưu tiên đầu tư

Thứ nhất, đầu tư phát triển mạng lưới trường, lớp và hạ tầng, cơ sở vật chất đảm bảo theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa, chuẩn hóa, tiên tiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu học tập của người dân; giải quyết triệt để tình trạng thiếu trường, lớp. Xây dựng trường mầm non, trường phổ thông phù hợp với quy mô, khả năng tiếp cận của Nhân dân, đặc biệt là tại các địa bàn đông dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp…

Nâng tầng và tăng mật độ xây dựng đối với các trường phổ thông không còn quỹ đất mở rộng tại khu vực nội đô; ưu tiên sử dụng quỹ đất sau khi di dời các nhà máy, trụ sở để xây dựng trường phổ thông.

Quy hoạch không gian phát triển các trường học gắn với các dự án tái thiết đô thị theo mô hình TOD. Ưu tiên dành quỹ đất để phát triển dịch vụ giáo dục cho các cấp học tại khu vực ngoại thành.

Thứ hai, bảo đảm mỗi xã/phường/thị trấn, khu đô thị mới, đơn vị ở có trường mầm non, trường tiểu học và trung học cơ sở phù hợp với khả năng tiếp cận. Mỗi khu vực có quy mô từ 3-5 vạn dân có 01 trường trung học phổ thông.

Ưu tiên tại các phường đang thiếu trường học như: Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Yên Hòa, Khương Đình, Thanh Xuân, Khương Liệt, Hoàng Mai, Vĩnh Hưng, Tương Mai, Định Công, Hoàng Liệt, Yên Sở, Lĩnh Nam, Long Biên, Bồ Đề, Việt Hưng, Phúc Lợi, Tây Hồ, Phú Thượng, Tây Tựu, Phú Diễn, Xuân Đỉnh, Đông Ngạc, Thượng Cát, Từ Liêm, Xuân Phương, Tây Mỗ, Đại Mỗ, Hà Đông, Dương Nội, Yên Nghĩa, Phú Lương, Kiến Hưng.

Phát triển hệ thống trường chất lượng cao, trường có nhiều cấp học tiên tiến, hiện đại (có diện tích từ 5 ha trở lên), trường học thông minh, trường tiệm cận quốc tế tại những nơi có điều kiện kinh tế phát triển.

Xây dựng hệ thống trường chất lượng cao theo tiêu chuẩn, trường quốc tế tại khu vực phía Bắc Thủ đô để phục vụ khu vực các xã thuộc huyện Đông Anh (cũ), Mê Linh (cũ), Sóc Sơn (cũ)…

Thứ ba, củng cố các cơ sở giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng. Hoàn thành xây dựng, vận hành 01 trung tâm giáo dục hòa nhập, chuyên biệt dự kiến tại xã Sóc Sơn; ưu tiên xây dựng trường phổ thông chuyên biệt ở các vùng Ba Vì, Thanh Oai đảm bảo điều kiện học hòa nhập tại các khu vực.

Giải pháp về quỹ đất

Để đạt mục tiêu trên, thành phố Hà Nội sẽ: Bố trí quỹ đất xây dựng trường, nhất là trường tiểu học và trung học cơ sở công lập tại các dự án khu đô thị. Ưu tiên dành quỹ đất 5% phục vụ công cộng của các phường và tận dụng quỹ đất còn trống chưa khai thác để xây dựng trường học. Bố trí quỹ đất tại các khu đô thị mới, khu tái định cư, khu vực đông dân cư để xây dựng trường học. Đối với các dự án khu đô thị, nhà ở được phê duyệt và triển khai trên địa bàn, thành phố ưu tiên việc dành quỹ đất xây dựng các trường học khi chấp thuận đầu tư, đặc biệt ưu tiên xây dựng trường công lập. Đối với ô đất đã được xác định để bố trí trường học nếu chủ đầu tư chậm triển khai hoặc không triển khai, tiến hành thu hồi giao cho Ủy ban nhân dân các xã, phường để xây dựng trường học. Phát triển các trường học gắn với các dự án tái thiết đô thị theo mô hình phát triển đô thị gắn theo định hướng giao thông công cộng (TOD).

Ưu tiên dành quỹ đất sau khi di dời các trụ sở để xây trường. Trong khu vực nội đô, các địa bàn thiếu trường học hoặc trường quá tải nhưng không còn quỹ đất để xây dựng trường mới, nghiên cứu ưu tiên dành lại quỹ đất sau khi di dời các trụ sở cơ quan của thành phố, các nhà máy, các trường đại học theo quy định để bố trí xây dựng các trường phổ thông.

Bố trí quỹ đất xây trường từ việc cải tạo các chung cư cũ. Khi lập quy hoạch cải tạo các khu chung cư, tập thể cũ, ưu tiên dành quỹ đất để phát triển các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập đang thiếu trên địa bàn để đáp ứng nhu cầu học tập.

Ưu tiên dành quỹ đất và có chính sách khuyến khích nhằm tạo điều kiện cho các trường ngoài công lập huy động nguồn lực đầu tư và đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục đào tạo, theo hướng nâng dần tỉ lệ nguồn vốn ngoài ngân sách trên tổng kinh phí cho xây dựng trường qua từng giai đoạn phát triển.

Phát triển trường học ở khu vực ngoại thành: Ưu tiên dành quỹ đất để phát triển dịch vụ giáo dục cho các cấp học tại khu vực ngoại thành

Giải pháp về cơ chế đặc thù đối với xây dựng, sửa chữa các trường học

Nghiên cứu cho phép nâng tầng và tăng mật độ xây dựng đối với các trường không còn quỹ đất. Xem xét từng trường hợp cụ thể cho phép được nâng tầng và tăng mật độ xây dựng đối với các trường quá tải trên địa bàn phường không còn quỹ đất để xây dựng thêm trường hoặc mở rộng trường, đặc biệt là đối với các phường nội thành như Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai.

Đối với từng dự án cụ thể về cải tạo, mở rộng diện tích của các trường học hiện có trên địa bàn các phường, thực hiện xin ý kiến cấp có thẩm quyền về phương án nâng thêm tầng.

Có cơ chế chính sách đặc thù cho việc xây dựng, nâng cấp, cải tạo sửa chữa trường học cho các phường, xã nằm trong khu vực ngoài đê.

Giải pháp về thực hiện quy hoạch

Chấp hành nghiêm quy hoạch đã phê duyệt, không chuyển đổi mục đích sử dụng đất và công năng của các công trình giáo dục.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành của các chủ đầu tư dự án đối với việc xây dựng trường học trong phạm vi dự án. Trong trường hợp sử dụng đất đai sai mục đích, dự án chậm triển khai, xem xét thu hồi từng trường hợp cụ thể để lấy quỹ đất xây dựng trường học công lập theo quy hoạch, đặc biệt là các địa bàn chưa có hoặc thiếu trường học công lập.

Tại các dự án nhà ở, khu đô thị, ngoài việc bố trí quỹ đất để xây dựng trường học theo quy chuẩn, đặc biệt cần lưu ý tỉ lệ quỹ đất dành cho trường công lập bắt buộc phải có tại các địa bàn thiếu trường hoặc quá tải về nhu cầu trường học.

Phát triển đối với giáo dục đại học

Mục tiêu cụ thể: Phấn đấu đến năm 2030, giáo dục đại học Thủ đô đạt trình độ tiên tiến trong khu vực: Hà Nội có ít nhất 10 trường đại học lọt top 100 châu Á; có ít nhất 10 trường đại học được vào danh sách 1000 trường đại học tốt nhất thế giới, trong đó có ít nhất 3 cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng 500 trường đại học tốt nhất thế giới theo các tổ chức xếp hạng uy tín thế giới (World University Rankings - The Times Higher Education; Quacquarelli Symonds - QS World University Ranking...).

Phấn đấu đến năm 2035, có ít nhất 02 cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn thành phố thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới.

Đến năm 2030, tỉ lệ sinh viên đại học/vạn dân Thủ đô đạt 825, cả nước đạt 260. Tỉ lệ sinh viên quốc tế theo học các chương trình giáo dục đại học tại Hà Nội đạt trên 2%. Tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên đạt 60%. Số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín đạt hàng năm 2,3 bài/ giảng viên vào năm 2030. Số công trình là tài sản trí tuệ đạt 0,5/giảng viên đại học vào năm 2030. Tỉ lệ các loại tài sản trí tuệ trên giảng viên đại học đạt 0,5 vào năm 2030. Tỉ lệ sinh viên có việc làm phù hợp trình độ chuyên môn trong 12 tháng sau khi tốt nghiệp đạt trên 90%.

100% cơ sở giáo dục đại học (đủ điều kiện) đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục, trong đó 25% đạt chuẩn kiểm định bởi các tổ chức kiểm định nước ngoài có uy tín; 60% chương trình đào tạo (đủ điều kiện) đạt chuẩn kiểm định trong nước hoặc nước ngoài, trong đó 100% chương trình đào tạo giáo viên đủ điều kiện ở tất cả các trình độ đạt chuẩn kiểm định.

Đến năm 2065, Thủ đô Hà Nội có hệ thống giáo dục đại học chất lượng cao, tiên tiến và hiện đại theo chuẩn quốc tế, ngang tầm với các nước phát triển trên thế giới; là trung tâm giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hàng đầu của Việt Nam và thứ hạng cao ở Châu Á về giáo dục đại học, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

Giáo dục đại học Hà Nội đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có kiến thức vững, năng lực sáng tạo, tư duy toàn cầu, kỹ năng số và kỹ năng thích ứng cao, đủ khả năng dẫn dắt đổi mới, khởi nghiệp, “tạo ra việc làm” và đáp ứng yêu cầu của các ngành, nghề mới trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.

Hệ thống giáo dục đại học Thủ đô tham gia sâu, hiệu quả vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế, đóng góp quan trọng vào sự phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế quốc gia của Việt Nam.

Phương án phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, các khu đô thị đại học và các khu chức năng:

Về mạng lưới cơ sở giáo dục đại học công lập:

Tổ chức, sắp xếp lại các cơ sở giáo dục, đào tạo gắn với nâng cao chất lượng đào tạo, bảo đảm hợp lý về quy mô, cơ cấu ngành nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và của Thủ đô.

Phát triển một số khu nghiên cứu, đào tạo trên quỹ đất sau khi phân tán các hoạt động đào tạo tập trung của các trường đại học ra ngoài đô thị trung tâm. Xây các cơ sở mới của trường đại học theo hướng phát triển các khu, cụm đại học, nghiên cứu tập trung làm cơ sở phát triển các mô hình đô thị đại học. Điều chỉnh hợp lý mạng lưới các trường đại học, cao đẳng ra ngoài khu vực đô thị trung tâm, phân bố tại các thành phố trong Thủ đô và các đô thị vệ tinh, đặc biệt là thành phố phía Tây với hạt nhân là khu vực Hòa Lạc, hình thành các quần thể trường đại học có hệ thống hạ tầng và các không gian chung đồng bộ, hiện đại tại vùng Hòa Lạc - Xuân Mai (cũ), Thạch Thất (cũ), khu vực Sơn Tây (cũ) và khu vực Sóc Sơn (cũ).

Tại khu vực đô thị trung tâm, không xây mới các cơ sở giáo dục đại học; giữ lại những cơ sở đại học đã được đầu tư đồng bộ (cơ sở 1), có khả năng chuyển đổi thành trung tâm đào tạo trình độ cao, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, trung tâm khởi nghiệp. Tại khu vực bố trí cơ sở 2, tổ chức đào tạo đại học, bố trí các khu thực hành và lưu trú sinh viên. Di chuyển những trường đại học, cao đẳng có diện tích nhỏ, cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu ra ngoài khu vực đô thị trung tâm.

Thực hiện di dời cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp ra khỏi khu vực nội đô ra các khu đô thị vệ tinh, hình thành các cụm đại học có hệ thống hạ tầng chung đồng bộ, hiện đại tại vùng được quy hoạch của thành phố Hà Nội.

Đối với những cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có diện tích đất, cơ sở vật chất không đáp ứng yêu cầu theo quy định phải di dời toàn bộ, thành phố hỗ trợ xây dựng hạ tầng tại nơi mới và sử dụng cơ sở cũ trong nội đô cho giáo dục phổ thông và mục đích công cộng.

Đối với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp không thuộc diện di dời toàn bộ, thành phố hỗ trợ xây dựng hạ tầng tại cơ sở mới; cơ sở cũ sẽ được sử dụng cho các mục đích: nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo, đào tạo sau đại học, đào tạo nghề chất lượng cao, giáo dục phổ thông, không gian công cộng.

Không đầu tư xây dựng mới các cơ sở giáo dục đại học tại khu vực đô thị trung tâm, trừ việc chuyển đổi từ các cơ sở đại học phải di dời thành các cơ sở đào tạo nghề công nghệ cao.

Phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia; nâng cấp, xây dựng một số đại học, trường đại học lớn trở thành trung tâm đào tạo chất lượng cao, có uy tín trong khu vực và thế giới. Khuyến khích đầu tư xây dựng các trường đại học tầm cỡ quốc tế.

Tập trung đầu tư phát triển các trường đại học xuất sắc, đại học trọng điểm: Xây dựng các trường đại học trọng điểm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Bách khoa Hà Nội, Nông nghiệp I Hà Nội, Kinh tế Quốc dân, Y Hà Nội, Sư phạm Hà Nội và Học viện Kỹ thuật Quân sự (Trường Đại học Lê Quý Đôn).

Tập trung nâng cấp một số cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia, trọng điểm ngành ngang tầm khu vực và thế giới; phát triển giáo dục đại học gắn liền với đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thành lập mới trường đại học và từng bước xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, trình độ quản lý, cơ chế vận hành và các điều kiện bảo đảm chất lượng dịch vụ sinh viên tương đương với các trường đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể các trường đại học quy mô nhỏ, đơn ngành hoạt động kém hiệu quả, kém chất lượng dựa trên chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Giảm số cơ sở giáo dục đại học công lập, chuyển đổi trường đại học công lập kém hiệu quả sang mô hình bán công.

Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học tư thục:

Đẩy mạnh phát triển hệ thống cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập; tạo sự bình đẳng, cơ hội cho các loại hình cơ sở giáo dục đại học; quy hoạch theo hướng mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước thành lập mới các cơ sở giáo dục đại học tư thục, nhất là các cơ sở giáo dục đại học hoạt động không vì lợi nhuận.

Ưu tiên hình thành cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập tại các khu vực ngoài đô thị, hình thành các khu đô thị đại học nhằm giảm tải cho quá trình đô thị hóa và áp lực hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, tạo các cơ hội phát triển cho các vùng ngoại ô.

Các khu đô thị đại học:

Khu đô thị đại học Hòa Lạc - Xuân Mai: định hướng thu hút các trường khoa học công nghệ, kinh tế tài chính, để giãn mức độ tập trung sinh viên ở trung tâm ra khu vực ngoài trung tâm, hình thành quần thể các trường đại học với hệ thống hạ tầng và các không gian chung đồng bộ, hiện đại; cùng với khu công nghệ cao Hòa Lạc hình thành nên đô thị Khoa học và công nghệ.

Khu đại học Sơn Tây định hướng thu hút các trường văn hóa, nghệ thuật, du lịch và sư phạm… phù hợp với định hướng hình thành và phát triển khu đô thị Văn hóa Du lịch Sơn Tây - Ba Vì.

Các khu nghiên cứu, đào tạo:

Khu đô thị Đại học tại Hòa Lạc (Đại học quốc gia Hà Nội và cơ sở 2 của một số Trường Đại học Khoa học Công nghệ và Kinh tế) tại Thạch Thất: Ngoài diện tích đã quy hoạch khu Đại học quốc gia (khoảng 1 nghìn ha), bố trí thêm khoảng 1.500 ha quy hoạch mới cho các cơ sở giáo dục đại học để phát triển đô thị Hòa Lạc thành Trung tâm đầu não về khoa học kỹ thuật công nghệ cao, trung tâm chuyển giao, phát triển thị trường khoa học công nghệ và khởi nghiệp.

Hoàn thành xây dựng và đưa vào khai thác vận hành Khu đô thị Đại học quốc gia tại Hòa Lạc. Xây dựng Khu đại học quốc gia trở thành Khu đô thị đại học quốc gia thông minh, hiện đại hàng đầu của cả nước, nơi tập trung các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu/trung tâm nghiên cứu, các doanh nghiệp lớn của Việt Nam và thế giới kết hợp với các đô thị tạo nên hệ sinh thái khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo của quốc gia, quốc tế. Theo đó, Khu đô thị Đại học quốc gia phát triển theo mô hình “5 trong 1” gồm: trung tâm đào tạo tài năng; trung tâm nghiên cứu chuyển giao công nghệ hiện đại; trung tâm đổi mới sáng tạo ngang tầm quốc gia và quốc tế; đô thị đại học thông minh, hiện đại; trung tâm thử nghiệm hợp tác công tư và đào tạo nghiên cứu.

Khu giáo dục đào tạo tại khu vực thị xã Sơn Tây (cũ), huyện Ba Vì (cũ) (quy mô khoảng 300-350) ha định hướng đào tạo lĩnh vực An ninh quốc phòng, văn hóa, nghệ thuật, du lịch và sư phạm.

Khu giáo dục đào tạo tại Xuân Mai (cũ) (quy mô khoảng 300 ha) là Trung tâm đào tạo, nghiên cứu về Lâm nghiệp, Khoa học đất và hỗ trợ khởi nghiệp.

Khu nghiên cứu, giáo dục đào tạo tại Chúc Sơn, Chương Mỹ (quy mô khoảng 250-300 ha): đào tạo lĩnh vực tư pháp, hành chính, thể dục thể thao.

Khu giáo dục đào tạo tại Sóc Sơn (cũ) (quy mô khoảng 200-250 ha) là Cụm trường đào tạo, nghiên cứu phát triển ngành hàng không.

Cơ sở nghiên cứu thực nghiệm tại Phú Xuyên (cũ) (quy mô khoảng 150-200 ha) là cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ cao sinh học và nông nghiệp.

Cụm cơ sở nghiên cứu Gia Lâm (cũ) (quy mô khoảng 200-250 ha) bố trí cụm trường đào tạo, nghiên cứu ngành nông nghiệp và phụ trợ.

Cụm nghiên cứu, giáo dục đào tạo tại Đan Phượng (cũ) quy mô khoảng 50-70 ha.

Cụm cơ sở nghiên cứu, giáo dục tại Đông Anh - Mê Linh (cũ) (quy mô khoảng 50 ha).

Xem thêm Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm tại đây.

Mộc Hương