Doanh nghiệp và giáo dục nghề nghiệp nhận diện điểm mạnh, điểm yếu

(GDVN) - Hệ thống giáo dục nghề nghiệp cần quan tâm đúng mức đến quản lý phát triển chương trình đào tạo với sự tham gia của doanh nghiệp, đề ra các giải pháp cụ thể.

Nguyên lý "học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” [2] là nguyên lý cơ bản nhất để phát triển giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng.

Đào tạo gắn với sử dụng, nhà trường gắn với doanh nghiệp là xu thế tất yếu của thời đại, nhất là trong giai đoạn khoa học-kỹ thuật và công nghệ phát triển nhanh chóng như hiện nay.

Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và giáo dục nghề nghiệp.

Mối quan hệ giữa trường và doanh nghiệp đã được đề cập tại Việt Nam từ rất sớm. Chủ tịch Hồ Chí Minh (1949) [1] đã chỉ rõ:

“Giáo dục phải cung cấp cán bộ cho kinh tế. Kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được. Nếu kinh tế không phát triển thì giáo dục cũng không phát triển được. Giáo dục không phát triển thì không đủ cán bộ giúp cho kinh tế phát triển. Hai việc đó liên quan mật thiết đến nhau”.

Mặc dù xác định được nguyên lý và phương châm để gắn kết giữa doanh nghiệp và nhà trường, nhưng chất lượng đào tạo nhân lực kỹ thuật (NLKT) nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng còn rất thấp so với các nước trong khu vực ASEAN.

Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới WB và Viện Năng suất quốc gia-Việt Nam thì năm 2013, năng suất lao động của người Việt Nam bằng 1/15 lần so với Singapore, bằng 1/5 so với Malaysia và 1/2,5 so với Thái Lan [4] và ngày càng gia tăng cách biệt, đến 2015 năng suất lao động Việt Nam bằng 1/18 so với Singapore, 1/7 so với Malaysia, 1/3 so với Thái Lan, bằng 1/2 so với Indonesia và Philippines [5].

Một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực thấp là do“Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết… nhà trường chưa gắn chặt với đời sống kinh tế, xã hội; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội; chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên” [3].

Theo Báo cáo giáo dục nghề nghiệp Việt Nam năm 2017 [6] chỉ có khoảng 7,5% doanh nghiệp có tham gia phối hợp với nhà trường trong đào tạo, đó cũng là lý do dẫn đến kết quả trong Báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (2018) [68] khi khảo sát hơn 11.000 doanh nghiệp thì có 71% các doanh nghiệp cho rằng chất lượng đào tạo nhân lực kĩ thuật đáp ứng một phần (67%), không đáp ứng yêu cầu (4%).

Đồng thời các doanh nghiệp trình bày khó tuyển dụng lao động kỹ thuật (74% doanh nghiệp cho biết gặp khó khăn khi tuyển dụng vị trí cán bộ kỹ thuật; riêng các vị trí giám sát và quản lý, lần lượt có 84% và 91% doanh nghiệp trả lời là rất khó tuyển dụng), nhưng sau khi tuyển dụng, người lao động lại thường ”nhảy việc”, nghỉ việc làm nản lòng các doanh nghiệp.


Phấn đấu năm 2030 giáo dục nghề nghiệp đạt trình độ tiên tiến trong khu vực

Như vậy, có thể nói rằng, không những nội dung chương trình đào tạo theo nghĩa hẹp (curriculum) không theo sát nhu cầu của doanh nghiệp mà còn thiếu các hoạt động phối hợp để quản lý phát triển chương trình đào tạo theo nghĩa rộng hơn là các khóa đào tạo (programme) từ khâu xác định nhu cầu đào tạo, lập kế hoạch và thiết kế nội dung các khóa đào tạo, tổ chức đào tạo và kiểm tra đánh giá các khóa đào tạo.

Trong đề tài nghiên cứu khoa học: “Quản lý phát triển chương trình đào tạo theo tiếp cận quan hệ trường và doanh nghiệp tại các trường cao đẳng tỉnh Đồng Nai” thực hiện từ 2017 đến nay bản thân người viết bài này đã tìm hiểu thực trạng mối quan hệ giữa trường và doanh nghiệp của 100% trường cao đẳng và hơn 40 doanh nghiệp đang hoạt động liên kết với các trường tại Đồng Nai, cho thấy:

Điểm mạnh (Strengths)

Nhận thức của trường cao đẳng và doanh nghiệp về tầm quan trọng việc quản lý phát triển chương trình đào tạo với sự phối hợp của doanh nghiệp có chuyển biến tích cực.

Trên 90% cán bộ quản lý của trường cao đẳng đã nhận thức được vai trò quan trọng của quản lý phát triển chương trình đào tạo với sự phối hợp của doanh nghiệp.

Bước đầu các trường đã chủ động phối hợp với doanh nghiệp để xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo.

Cán bộ quản lý của trường đã chỉ đạo hoạt động phát triển, thực hiện, đánh giá thực hiện chương trình đào tạo đối với các cá nhân và tổ chức có liên quan.

Điểm yếu (Weaknesses)

Các nội dung quản lý phát triển chương trình đào tạo có sự phối hợp của doanh nghiệp chưa có đường hướng rõ ràng, mối quan hệ lỏng lẻo, không thường xuyên và kết quả chưa cao.

Trường và doanh nghiệp chỉ tập trung phát triển nội dung chương trình đào tạo là curriculum mà chưa quan tâm đến việc thiết lập các khóa đào tạo.


Trường nghề nhất định phải gắn kết với các doanh nghiệp

Chưa có cơ chế phối hợp giữa trường và doanh nghiệp trong quản lý phát triển chương trình đào tạo, nhiều khi áp dụng 01 cơ chế rập khuôn cho tất cả các doanh nghiệp là không phù hợp làm giảm hiệu lực, hiệu quả của quản lý giữa 2 bên.

Các tiêu chí đánh giá chỉ tập trung ở mối liên kết đào tạo như đánh giá thực tập, sự hỗ trợ của 2 bên mà chưa có tiêu chí cho quản lý phát triển chương trình đào tạo từ khâu lập kế hoạch xác định nhu cầu đào tạo đến khi thực thi và đánh giá hoàn thành một chu trình giữa trường và doanh nghiệp.

Chưa có bộ phận chuyên trách giúp việc cho trường và doanh nghiệp để quản lý phát triển chương trình đào tạo nên chưa gắn kết, bổ trợ cho nhau trong phát triển nhân lực phục vụ sản xuất-kinh doanh.

Chưa phát huy đầy đủ vai trò của doanh nghiệp khi tham gia vào các nội dung quản lý phát triển chương trình đào tạo của trường, như: phối hợp huớng nghiệp, tuyển sinh, tham gia lập kế hoạch đào tạo, thiết kế chương trình đào tạo, tham gia giảng dạy, phối hợp đánh giá kết quả đào tạo,…

Năng lực xác định chương trình đào tạo, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đánh giá chương trình đào tạo theo tiếp cận quan hệ trường và doanh nghiệp của cán bộ quản lý và giáo viên chưa đáp ứng được yêu câu.

Thông tin 2 chiều giữa trường và doanh nghiệp còn rời rạc, bị động gây khó khăn cho cả 2 bên khi xác định nghiên cứu đào tạo, tư vấn đào tạo cũng như khi tuyển dụng, bố trí lao động.

Nhận thức về quản lý phát triển chương trình đào tạo còn khác biệt lớn, nhất là về tầm quan trọng của doanh nghiệp với trường, của doanh nghiệp tư nhân trong nước khác với doanh nghiệp FDI.

Việc triển khai đào tạo với sự phối hợp của doanh nghiệp chưa được quan tâm, hoạt động giảng dạy của giáo viên ở các trường cao đẳng hiện nay chưa thật sự có hiệu quả, chưa áp dụng giữa nội dung trên lớp với thực tiễn lao động trong doanh nghiệp; việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh – sinh viên vẫn theo phương pháp truyền thống qua các bài thi trên lớp, chưa thực sự gắn với doanh nghiệp.

Từ những điểm mạnh, điểm yếu nêu trên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp cần quan tâm đúng mức đến quản lý phát triển chương trình đào tạo với sự tham gia của doanh nghiệp, nhất là đề ra các giải pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn hay trong một khu vực, mặc dù thể trông đợi một giải pháp áp dụng cho tất cả các loại hình hay ngành nghề sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh (1949), Toàn tập, Sđd, t.8, tr 137-138), NXB Sự thật, Hà Nội.

2. Quốc hội (2019), Luật Giáo dục.

3. Thủ tướng Chính phủ (2012), Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020.

4. Viện Năng suất quốc gia - Vietnam Productivity Center (2012), Báo cáo Năng suất Việt Nam 2012.

5. Viện Năng suất quốc gia-Vietnam National Productivity Institute-VNPI (2015), Báo cáo Năng suất Việt Nam 2015.

6. Viện Khoa học GDNN (2017), Báo cáo GDNN Việt Nam 2017.

7. VCCI (Việt Nam) và USAID (Mỹ) (2018), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh

8. Wok Alvin (2017), A Model of Strategic HRM of Singapore - Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Singapore, Trình bày tiếng Anh tại Đồng Nai, tháng 6 năm 2017.

Thạc sĩ Lê Anh Đức
Đang tải tin...