Hội đồng trường ở Đại học công lập: Nhu cầu tự thân hay dân chủ hình thức?

Giáo dục 24h

Trần Đức Viên (Học viện Nông nghiệp Việt Nam)

(GDVN) - Việc thành lập Hội đồng trường trong các trường đại học phải là một tất yếu, và đó là một xu thế tiến bộ, là khâu đột phá trong triển khai tự chủ đại học.

Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam nhận được một số bản tham luận gửi Hội thảo Giáo dục 2018: Giáo dục đại học - Chuẩn hóa và hội nhập quốc tế, do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tổ chức ngày 17/8 tại Hà Nội.

Tòa soạn xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc bản tham luận đầu tiên của tác giả Trần Đức Viên từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Văn phong, nội dung bài viết thể hiện quan điểm, góc nhìn của tác giả.

TÓM TẮT

Những cải cách và đổi mới của giáo dục đại học trong những thập niên qua, đều hướng tới việc từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đại học theo những chuẩn mực và thông lệ quốc tế, đồng thời hình thành thành và phát triển một nền giáo dục dân tộc, nhân bản và khai sáng.

Trong khi nền kinh tế nước ta đã chuyển hướng theo kinh tế thị trường được 1/3 thế kỷ, thì dường như quản trị đại học về cơ bản vẫn như những gì chúng ta đã thấy ở miền Bắc từ những năm cuối của thế kỷ trước; và điều đó đã để lại những hệ lụy không mong muốn.

Có lẽ do tự chủ đại học được khẳng định là chìa khóa thành công của các trường đại học tiên tiến trên thế giới, nên người ta tin là đổi mới quản trị đại học sẽ tạo ra đột phá, tạo ra xung lực mới để giáo dục đại học có thể đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI. 

Về bản chất, tự chủ đại học xa lạ và đối lập với quản lý hành chính kiểu xin cho, trường đại học được tự khẳng định vị thế và tầm vóc của họ,thích ứng với cơ chế thị trường, với vai trò quản trị thuộc về Hội đồng trường, một thiết chế có quyền lực cao nhất trong nhà trường, và vai trò điều hành thuộc về bộ máy quản lý của Hiệu trưởng.

Cho đến nay mới có một số rất nhỏ trường đại học công lập (23/169 trường, khoảng 13,6%) dám bước đi những bước chập chững đầu tiên trên con đường tự chủ, mới có khoảng 1/3 số trường có Hội đồng trường, và ngay các trường đã được Thủ tướng chính phủ giao "thí điểm" tự chủ, số trường có Hội đồng trường cũng không cao. Số đông còn lại vẫn đang chờ đợi trong âu lo và ngại ngần.

(Ảnh minh họa: Nguồn Báo Công an nhân dân)

Một câu hỏi đặt ra là, tại sao một chủ trương đúng đắn như thế lại chưa được cuộc sống của các trường đại học nhiệt tình đón nhận?

Và, bằng cách nào để những chủ trương và đường lối ấy có thể thực sự mang đến những sinh khí mới cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam?

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thời đại ngày nay, giáo dục đại học (giáo dục đại học) vừa là một ngành kinh tế vừa là một ngành có nhiệm vụ giáo dục và đào tạo nhân lực trình độ cao cho các ngành kinh tế khác, và đồng thới các trường đại học còn là trung tâm của đổi mới và sáng tạo.

Vì thế, giáo dục đại học giữ vai trò rất quan trọng đối với sự hưng thịnh của mỗi quốc gia, và các trường đại học đã trở thành biểu tượng tri thức của một đất nước.

Xét về bản chất và mục tiêu, các hệ thống giáo dục đại học trên thế giới không khác nhau nhiều, vì mỗi đại học khi ra đời đều xác định họ có nhiệm vụ cung cấp chất lượng giáo dục tốt nhất và nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầu xã hội ở mức cao nhất.

Một trong những điểm dẫn đến sự khác biệt trong phát triển đại học của các nước, ngoại trừ yếu tố về lịch sử, kinh tế và đặc thù đại học, không phải là sự giầu hay nghèo mà chính là ở cung cách quản lý, quản trị hệ thống giáo dục.

Kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục đại học phát triển cho thấy, tự chủ đại học là chìa khóa thành công, và đang trở thành xu hướng tất yếu trên qui mô toàn cầu.

Mức độ tự chủ cao giúp các trường đại học gần như hoàn toàn tự trị (tự quản), thoát ra khỏi sự can thiệp của bộ máy công quyền (với các thủ tục hành chính nặng nề và quan liêu) nên trường đại học gần như có toàn quyền trong việc ra quyết định về những vấn đề có liên quan đến phát triển đại học.

Hội đồng trường phải có thực quyền để tự chủ đại học thành công

Ngoài việc xây dựng khung pháp lý, hình thành cơ chế giám sát và cấp kinh phí, nhà nước hầu như không can thiệp vào các hoạt động của nhà trường.

Nhờ thế, các cơ sở giáo dục có quyền tổ chức và vận hành theo những cách riêng, nhưng đều có một mẫu số chung mà tất cả đều hướng tới, đó là tạo dựng và phát triển một nền giáo dục đại học dân tộc, nhân bản và khai sáng, trường đại học thực sự trở thành cái nôi của những sáng tạo và đổi mới, theo những chuẩn mực và thông lệ quốc tế, vì họ đã có thể phát huy tối đa các lợi thế, sức mạnh dân chủ cơ sở, các nguồn lực để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của xã hội và lợi ích của chính nhà trường, không phải xin ai "cấp phép" khi tiến hành thực hiện sứ mệnh, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi đã được họ xác định.

Ở Việt Nam, trong thời gian qua, tự chủ đại học đã được coi là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

Điều đó được thể hiện qua việc Đảng và Nhà nước đã ban hanh hàng loạt văn bản pháp qui để biến tự chủ đại học thành hiện thực:

Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam;

Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập;

Luật Giáo dục đại học năm 2012; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị TW 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ;

Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập;

Nghị quyết số 19-NQ/TW Ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, v.v...

Công bằng mà nói, nền giáo dục đại học đã có nhiều chuyển biến tích cực, từ chỗ cả hệ thống giáo dục đại học như một trường đại học lớn do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp "cầm tay chỉ việc", đến nay các trường đại học đã được trao quyền tự chủ ở các mức độ khác nhau.

Nhưng dường như, các chính sách và quyết tâm chính trị ấy của Đảng và Nhà nước chưa đủ sức để tạo ra một xung lực cho toàn hệ thống giáo dục đại học như "Khoán 10" đã từng tạo ra những bước phát triển đột phá cho ngành nông nghiệp trong những năm đầu đổi mới.

Theo một báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho đến nay, mới có 23/169 trường đại học (13,6%) được "thí điểm" tự chủ theo NQ 77/NQ-CP, ngay trong các trường được "thí điểm" này, còn 6 trường chưa có Hội đồng trường (26,0%); số đông còn lại vẫn đang chờ đợi trong âu lo và ngại ngần. 

Câu hỏi cần phải được trả lời là, tại sao tự chủ đại học lại chưa được "cuộc sống thực" của các trường đại học công lập đón nhận dù chủ trương về tự chủ đại học đã được chính thức tiến hành hơn 10 năm qua, và trên thực tế tự chủ đại học đã được bắt đầu ở nước ta từ những năm 90"s của Thế kỷ trước với sự ra đời của 2 đại học quốc gia, còn cơ chế Hội đồng trường (Hội đồng trường) đã được đề cập đến từ năm 2003?

Người ta cho rằng, có ba "điểm nghẽn" chính là khung pháp lý, sự vào cuộc của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, và sự ngại ngần, thiếu dũng khí của các trường đại học;

Trong đó, thiết chế Hội đồng trường có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự thành bại của tiến trình tự chủ đại học, đã không thể phát huy được vị trí và vai trò của nó trong tiến trình tự chủ.

Nếu các điểm nghẽn này được tháo gỡ thì chắc chắn tự chủ đại học sẽ tạo ra những xung lực mang tính đột phá cho toàn hệ thống. 

2. HỘI ĐỒNG TRƯỜNG TRONG TIẾN TRÌNH TỰ CHỦ ĐẠI HỌC

Từ khá sớm, cách đây trên 15 năm, Đảng và Nhà nước đã thấy thiết chế Hội đồng trường có thể làm thay đổi căn bản lề thói quản trị trong hệ thống các trường đại học công lập; thiết chế này đã được đề cập ở Điều 30 của Điều lệ trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ.

Điều đó tiếp tục được khẳng định ở các văn bản pháp qui khác, được ban hành sau này, như Luật Giáo dục 2005, Luật Giáo dục Đại học 2012, Luật Giáo dục Nghề nghiệp 2014; và được nhắc lại năm 2010 (Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg), và ban hành mới nhất năm 2014 (Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg).

Hiệu trưởng không nên tham gia Hội đồng trường đại học

Trong dự thảo Luật giáo dục đại học, Hội đồng trường được thể hiện qua điều 16.

Trong lĩnh vực quản trị giáo dục đại học, cơ chế Hội đồng trường (với nhiều tên gọi khác nhau như Board of Governors, University Board, University Council, University Court, Board of Trustees, Board of Regents) rất phổ biến ở các nước phát triển và đang được sử dụng ngày càng nhiều hơn ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi.

Dù ở nước nào và theo mô hình nào thì Hội đồng trường đều mang đặc trưng của một hội đồng quản trị có thẩm quyền cao nhất trong một trường đại học, đại diện cho chủ sở hữu của nhà trường và các các nhóm lợi ích có liên quan.

Đối với các trường đại học công lập thì đó chính là chủ sở hữu cộng đồng, vì ở đó có đại diện của đảng, nhà nước, chính quyền, công đoàn, giáo viên, cựu SV, nhà tuyển dụng, doanh nghiệp.

Còn hiệu trưởng trên thực tế là giám đốc điều hành (CEO - Chief Executive Officer) của nhà trường, do Hội đồng trường bầu chọn hay tuyển dụng, bổ nhiệm và bãi nhiệm.

Nhờ thế, trường đại học hoạt động linh hoạt như (chứ không phải "là") một doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả đầu tư, đồng thời vẫn mang đậm hương vị "cận thị trường" (quasi market) nhằm thích ứng với kinh tế thị trường nhưng tránh bị thương mại hóa tuyệt đối, với sự hỗ trợ, giám sát và điều tiết của xã hội và của nhà nước. 

Các văn bản pháp qui của Việt Nam (như Luật giáo dục, Luật Giáo dục Đại học, Điều lệ trường đại học…) đều khẳng định vai trò quan trọng và tất yếu của Hội đồng trường trong cơ chế tự chủ và chịu trách nhiệm giải trình của trường đại học;

Và ai cũng thừa nhận, để tránh lạm quyền và độc đoán trong quản lý, quyền tự chủ không thể trao cho cá nhân hiệu trưởng mà phải được giao cho một tập thể quản trị nhà trường, đó là Hội đồng trường.

Do vậy, rõ ràng là, việc thành lập Hội đồng trường phải được coi là khâu đột phá trong triển khai tự chủ đại học; và vì thế, như một lẽ tự nhiên, Hội đồng trường phải nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, của xã hội và của chính các trường đại học.

2.1. Thực trạng Hội đồng trường trong một số trường đại học

2.1.1. Hội đồng trường- Một tổ chức hữu danh vô thực

Tiếc là, "rằng hay thì thật là hay, nghe ra" thực tế nhiều năm qua ở không ít các trường đại học đã thành lập Hội đồng trường, Hội đồng trường chỉ là một tổ chức tồn tại trên danh nghĩa, mang tính hình thức, không có thực quyền, hữu danh vô thực, dở ngô dở ngọng, được không ít người coi là một tổ chức vừa là "tay sai" vừa là "bù nhìn" của hiệu trưởng.

Hiệu quả hoạt động của Hội đồng trường, nếu có, thì cũng  rất thấp; thậm chí có Hội đồng trường gần như không hoạt động, trừ sự hiện diện của một văn phòng có biển gắn tên Hội đồng trường nhưng ít khi mở cửa, các thành viên ngoài trường hầu như không dự họp, trừ sự hiện diện tại phiên họp công bố quyết định thành lập Hội đồng.

Quyền lực của một tổ chức, một cá nhân do nhiều yếu tố quyết định, nhưng trước hết là quyền ra quyết định về công tác tổ chức, nhân sự, và quản lý tài chính.

Hội đồng trường không có quyền quyết định danh phận con người, danh phận của tổ chức; cũng không có chút quyền lực thực tế nào trong các quyết định thu-chi của nhà trường, ngoài việc hàng năm "thông qua" báo cáo tài chinh, "thông qua" qui chế chi tiêu nội bộ, "thông qua" chủ trương đầu tư, "thông qua" và ra các quyết nghị vân vân theo yêu cầu của hiệu trưởng.

Đến kinh phí hoạt động của hội đồng còn không có, tiêu đồng nào đi xin hiệu trưởng đồng ấy, hiệu trưởng duyệt đồng nào biết đồng ấy, thì cái vai trò là "cơ quan quyền lực cao nhất" của trường đại học theo luật định, có ai tin đó là sự thật không? 

Có lẽ vì thế, nên cho tới nay, mới có 59/163 cơ sở giáo dục đại học thành lập Hội đồng trường; nhiều trường trong số đó thành lập Hội đồng trường hoặc là do bị Bộ Giáo dục và Đào tạo nhắc nhở nhiều lần, hoặc là để hợp pháp hóa hoạt động của nhà trường, hoặc là để được tự chủ theo NQ77/NQ-CP, hoặc là để được nhận tài trợ từ dự án SAHEP của WB, v.v...

Cũng có ý kiến cho rằng có sự xuất hiện của Hội đồng trường đồng nghĩa sẽ có thêm một tổ chức đại diện cho tiếng nói dân chủ, khách quan hơn đối với các hoạt động của nhà trường, nhưng những ý kiến như thế không nhiều. 

2.1.2. Hội đồng trường không tồn tại trong tâm thức nhà quản lý, trong trái tim và khối óc của cán bộ viên chức và người học

Các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đều không thật sự coi trọng Hội đồng trường, mọi việc họ đều liên hệ trực tiếp với hiệu trưởng, không ai "dại gì" mà lại đi liên hệ với Hội đồng trường;

Có thể do Hội đồng trường không nắm được gì, và quan trọng hơn, Hội đồng trường không có quyền quyết định về bất kỳ việc gì của nhà trường.

Trong tâm thức họ, người chịu trách nhiệm toàn bộ về trường đại học vẫn là hiệu trưởng như từ xưa đến nay, chứ không phải là Hội đồng trường như luật định; dù họ, rất có thể là người đã soạn thảo ra và ban hành các ý tưởng thức thời về thiết chế Hội đồng trường, cũng như đã "đẻ" ra các văn bản qui phạm pháp luật khác có liên quan đến Hội đồng trường.

Ai đủ tiêu chuẩn làm chủ tịch Hội đồng trường?

Với cán bộ viên chức và người học, họ không cần biết đến sự tồn tại của Hội đồng trường, vì quanh năm suốt tháng làm việc và học hành, họ không thấy một dấu tích, dù bé nhỏ nhất, của Hội đồng trường, trừ những buổi mít tinh nhân một sự kiện nào đấy, nhân vật được ngồi trên dãy bàn dành cho các vị chức cao vọng trọng, được Ban tổ chức giới thiệu, bao giờ cũng có vị chủ tịch Hội đồng trường.

Còn thì, các vấn đề thiết thân với cán bộ viên chức và người học như mức học phí, thời gian nghỉ lễ nghỉ hè, khen thưởng, kỉ luật, bằng cấp, lương bổng, v.v…tóm lại là tất tần tật các lĩnh vực hoạt động của trường đại học có liên quan đến cán bộ viên chức và người học đều do một tay hiệu trưởng hoặc "người giúp việc" của hiệu trưởng (tức phó hiệu trưởng) quyết định.

Vì thế, người học nhớ đến Hội đồng trường làm gì cho nặng đầu?

Ở các nước có nền giáo dục đại học phát triển thì không thế, ta hãy thử nhìn vào bằng tốt nghiệp đại học, cao học, bằng Tiến sĩ của một đại học nào đó ở Hoa Kỳ, thì thấy trên các tấm bằng danh giá ấy đều có chữ ký ở vị trí trang trọng nhất của chủ tịch Hội đồng trường, thậm chí bằng cấp là do Hội đồng trường quyết định,     

Khi có việc tìm đến trường đại học, các đối tác (trong và ngoài nước) đều tìm đến hiệu trưởng hoặc chí ít là phó hiệu trưởng, không ai tìm đến Hội đồng trường.

Vì họ thừa biết, chỉ có hiệu trưởng mới là người có thực quyền quyết định những vấn đề "ra đồng tiền bát gạo", còn thảo luận hay gặp gỡ Hội đồng trường thì "có cũng như không", mất thì giờ.

Khi nhà trường cần gặp gỡ, thương thảo với các đối tác hay với lãnh đạo cấp trên cũng vậy, tùy mức độ quan trọng, có thể là hiệu trưởng hoặc người được hiệu trưởng ủy quyền xuất hiện; không ai cử Hội đồng trường đi làm những việc này, vì vừa không đúng với chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng, vừa có đi cũng không được việc gì.

Không ai tin rằng Hội đồng trường, trên thực tế, có thực quyền quyết định một việc nào đó, dù to dù nhỏ của nhà trường.

Như vậy là, Hội đồng trường không tồn tại trong tâm thức của những người "cầm cân nảy mực", không tồn tại trong trái tim và khối óc của cán bộ viên chức, người học và đối tác, nên thể chế ấy tồn tại èo uột "có cũng như không".

Không có thực quyền, không có vị thế trong thực tiễn cuộc sống của các trường đại học thì tồn tại để làm gì? Chẳng lẽ chỉ để phô diễn cho cái gọi là dân chủ hình thức?

Vậy, chẳng lẽ Hội đồng trường là một tổ chức hoàn toàn vô tích sự? Không, không phải lúc nào cũng như thế!

Hiệu trưởng thường "nhớ" đến tổ chức này khi phải đối mặt với các quyết định hệ trọng của nhà trường hay phải giải thoát khỏi một tình thế hoặc là khó xử hoặc là ảnh hưởng đến vị thế và quyền lực của họ, như một quyết định đã ban hành đang gây ra phản ứng của cán bộ viên chức chẳng hạn.

Trong những tình huống ấy, Hội đồng trường trở thành chỗ dựa vững chắc cho hiệu trưởng, được hiệu trưởng sử dụng như một công cụ giảm xung, như một lá chắn, bảo vệ cho hiệu trưởng.

Cơ chế giảm xung này có tác dụng tích cực ở chố, với các hiệu trưởng có tinh thần dấn thân, dám đổi mới, Hội đồng trường tạo cho hiệu trưởng cảm giác an toàn và yên tâm hơn khi phải ban hành các quyết định "khó khăn", vì “báo cáo các đồng chí, vấn đề này tôi đã báo cáo và xin ý kiến Hội đồng trường và Hội đồng cũng đã ban hành Quyết nghị số X ngày Y về việc Z rồi!”

Nhờ thế, Hội đồng trường có thể giúp hiệu trưởng làm được nhiều việc có ý nghĩa hơn cho nhà trường và cho xã hội.

2.2. Nguyên nhân

Để thực hiện tự chủ đại học, Hội đồng trường là một công cụ quan trọng, nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh và bền vững của một tổ chức dân chủ.

Theo đó, quyết định chiến lược của một trường đại học thuộc thẩm quyền của Hội đồng trường – những người đại diện cho chủ sở hữu.

Đây là xu hướng tất yếu trong quá trình nâng cao quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình, qua đó (cùng với các yếu tố khác) nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu xã hội.

Hội đồng trường cũng có thể tham nhũng, ám ảnh nỗi lo gia đình trị!

Tự chủ đại học trong thời gian quan chưa gắn liền với đổi mới quản trị đại học, với vai trò quyết định là sự ra đời và phát huy quyền lực của.

Hội đồng trường trên thực tế đang là một tổ chức "có cũng như không", chỉ là sự phô diễn của cái gọi là "dân chủ hình thức", và thiết chế ấy gần như hoàn toàn không tồn tại trong tâm thức nhà quản lý, trong trái tim và khối óc cán bộ viên chức và người học, trong nhận thức của xã hội, cũng như trong suy nghĩ của các đối tác của trường đại học. 

Câu hỏi cần phải được trả lời là, tại sao một thiết chế quản trị đại học quan trọng như vậy lại chưa thể đi vào cuộc sống của các trường đại học công lập? Điều gì cản trở việc thành lập Hội đồng trường?

Một báo cáo gần đây cho rằng, sự không nhất quán về pháp quy, những yếu kém trong thực tiễn công tác quản lý, sự chưa sẵn sàng của các trường đại học đã vô hiệu hóa tác dụng của Hội đồng trường.

Phần đông ý kiến cho là, thể chế Hội đồng trường không đi vào được thực tiễn "đời sống" của hệ thống giáo dục đại học là vì Nhà nước không chỉ đạo hướng dẫn cụ thể để các cấp các ngành và các trường thực hiện quy định về Hội đồng trường, hai là các văn bản luật pháp về Hội đồng trường chưa nhất quán, hiệu trưởng chưa sẵn sàng tiếp nhận thiết chế Hội đồng trường, cơ chế "bộ chủ quản" về tổ chức-nhân sự, đầu tư và thói quen "cấp phép" về công tác chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hạn chế quyền tự chủ của các trường ĐH, đã vô hiệu hóa chức năng của Hội đồng trường.

Như vậy, về đại thể, có thể kê ra các nguyên nhân sau:

2.2.1. Hệ thống pháp lý về tự chủ đại học vừa không đồng bộ, vừa không rõ ràng.

Điều đó thể hiện trên các phương diện sau:

- Khung pháp lý hoặc là cản trở, chồng chéo, hoặc là triệt tiêu nhau, "mở" ở điều này, luật này nhưng lại "đóng" ở điều khác, luật khác; hoặc là trao quyền tự chủ trên văn bản, nhưng vẫn “trói buộc” trên thực tế do cơ chế không theo kịp thực tiễn.

- Các văn bản pháp qui hiện hành cũng như các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo và các bộ ngành liên quan đều không nói rõ (hướng dẫn) cách thức làm thế nào để các trường đại học được giao thí điểm tự chủ có thể đạt được những thay đổi đầy tham vọng của Nghị quyết 77 và các chính sách có liên quan khác, trong đó có việc phát huy vai trò và trách nhiệm của thiết chế Hội đồng trường.

- Trong các văn bản pháp qui hiện hành, kể cả các dự thảo Luật giáo dục đào tạo vừa được đưa ra xin ý kiến Quốc hội, đều tuyệt nhiên không thấy điều khoản nào quy định cụ thể quyền của các trường đại học trong việc tự xác lập quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của họ trong khi cụm từ "theo qui định" lại xuất hiện với tần suất cao trong các văn bản qui phạp pháp luật có liên quan đến tự chủ đại học, mà đã "theo qui định" nghĩa là không có tự chủ nữa.

2.2.2. Về mặt pháp lý, Hội đồng trường là một thực thể bị bỏ rơi

- Các qui định pháp qui hiện hành chưa đủ mạnh để giúp Hội đồng trường  có thể thể hiện được vai trò là cơ quan quyền lực cao nhất, là "Quốc Hội" của trường đại học.

Đọc các quyết định của Chính phủ về việc phê duyệt đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của một số trường đại học giai đoạn 2015 – 2017, người ta thấy Chính phủ đã thể hiện rất rõ vai trò của một Chính phủ kiến tạo thông qua việc đã tin tưởng giao hầu hết các quyền cho nhà trường; ngay cả các nhà quản lý giáo dục có tư tưởng cấp tiến nhất cũng không dám mơ gì hơn.

Nhưng tiếc là, trên thực tế, tự chủ của các trường đại học chỉ mới ở mức độ tự chủ thủ tục (procedural autonomy), nghĩa là trường đại học có thẩm quyền trong việc thực hiện các quyết định sẵn có nhưng không có quyền đưa ra quyết định của riêng mình, hoặc chỉ có quyền đưa ra các quyết định từng phần;

Nghĩa là việc triển khai các hoạt động vẫn bị phụ thuộc vào các quyết định từ bên ngoài, chưa thoát ra khỏi các thủ tục quản lý hành chính rườm rà, quan liêu và các rào cản của lợi ích và quyền lực khác để có thể trở thành tự chủ thực chất (substantive autonomy).

Hội đồng trường hữu danh vô thực, có khi họp cũng chỉ...trên giấy

Hình thái "tự chủ nửa vời" này dẫn đến thực trạng biến Hội đồng trường thành một tổ chức thừa, vì hầu như các việc đúng ra thuộc thẩm quyền của Hội đồng trường lại đã và đang được các hiệu trưởng "xin" các cơ quan liên quan "cấp phép" cả rồi!

- Mọi việc, từ chiến lược đến các hoạt động cụ thể của nhà trường, đều không có chỗ cho sự thể hiện quyền lực của Hội đồng trường.

Xin nêu một ví dụ, cho đến nay, chưa có Qui định nào của Ban Bí thư thay thế Qui định số 97-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các đơn vị sự nghiệp (trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu...), ký ngày 22/3/2004, nên trong Qui định số 1237A-QĐ/ĐUK của Đảng ủy khối các trường đại học, cao đẳng Hà Nội, ký ngày 04/01/2017, vẫn là một văn bản sao chép những gì Qui định 97-QĐ/TW cách đây 14 năm đã qui định, khi tình hình kinh tế và xã hội trong và ngoài nước đã có rất nhiều thay đổi.

Vì thế, vai trò của Hội đồng trường theo Qui định số 1237A-QĐ/ĐUK chỉ là một cái bóng vừa tẻ nhạt vừa vô duyên của cấp ủy cơ sở và của hiệu trưởng:

“Trên cơ sở ý kiến, chủ trương của Đảng ủy, Hội đồng trường ra quyết nghị thông qua dự thảo các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, phương hướng công tác do Ban Giám hiệu chuẩn bị”, “Hàng năm, căn cứ vào nhiệm vụ, chỉ tiêu được giao và tình hình thực tế của nhà trường, Ban Giám hiệu có trách nhiệm chuẩn bị dự thảo các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, phương hướng công tác báo cáo để Đảng ủy thảo luận.

Đảng ủy tập trung thảo luận, ra nghị quyết về những mục tiêu chủ yếu, những biện pháp lớn để tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của nhà trường” (Mục 1 Điều 2), “Ban Giám hiệu có trách nhiệm báo cáo xin ý kiến tập thể Đảng ủy về nhân sự được đề xuất. Hội đồng trường giám sát việc thực hiện theo các quy định đã được thông qua. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Đảng ủy, hiệu trưởng ra quyết định” (Mục 3 Điều 4: Những vấn đề về tổ chức và cán bộ), v.v...

Như vậy là, mọi việc, dường như đều đã được Đảng ủy và Ban Giám hiệu làm cả, Hội đồng trường hoặc là không được/phải làm gì hoặc là chỉ có việc "thông qua" những thứ đã được chuẩn bị sẵn, hoặc là "giám sát" các hoạt động của hiệu trưởng mang tính hình thức; không thấy vị trí là "cơ quan quyền lực cao nhất" của nhà trường thể hiện ở chỗ nào. 

2.2.3. Thiếu "thay đổi tư duy" trong quản lý và thiếu sự đồng hành, hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước

- Cơ quan quản lý nhà nước và các bộ ngành liên quan dường như vẫn coi trường đại học như  các đơn vị hành chính khác nên vẫn tìm cách "cầm tay chỉ việc", can thiệp sâu vào hoạt động của nhà trường, vẫn lo kiểm soát đầu vào hơn là giám sát đầu ra, vẫn lo thanh tra kiểm tra họ như với các đơn vị hành chính thuần túy; điều đó khiến các trường không thể phát huy được vai trò chủ động, sáng tạo trong các hoạt động.

Tự do học thuật và sáng tạo hay quyền của nhà trường được tự quyết các vấn đề về chuyên môn là bản chất của phát triển đại học nhưng còn là vấn đề khó thực hiện.

Các quyền tự chủ khác cũng vậy; đâu đó "hương vị" quản lý và điều hành thời bao cấp vẫn còn, vẫn còn "cửa" cho cơ chế "xin cho" tiếp tục tồn tại.

Phải chăng quy định về Hội đồng trường không hợp lý cho nên không chỉ các trường đại học, mà ngay cả các cơ quan quản lý nhà nước cũng không muốn thực hiện?

Ví dụ, trong Quy chế bổ nhiệm hiệu trưởng trường đại học (Quyết định số 5099/QĐ-BGDĐT, tháng 11/2012) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ban hành sau khi đã có Luật Giáo dục Đại học) cũng không hề nhắc đến vai trò của Hội đồng trường!

Tại sao cần phải có Hội đồng trường trong các trường đại học ở Việt Nam?

- Cơ quan quản lý nhà nước không đồng hành, hỗ trợ các trường thực hiện tự chủ.

Cũng có người cho rằng, vì các lý do về quyền lực và quyền lợi, nên thậm chí là cơ quan quản lý nhà nước có liên quan vẫn chưa chịu "buông" các trường, nên việc vừa có Hội đồng trường, vừa có cơ quan chủ quản đã đẩy các trường vào cảnh "một cổ hai tròng": vừa báo cáo Bộ chủ quản và Bộ Giáo dục và Đào tạo như thời chưa tự chủ, lại vừa phải báo cáo Hội đồng trường, nhiêu khê hơn cả thời chưa tự chủ.

Cơ quan quản lý nhà nước cũng không ban hành văn bản hướng dẫn về việc các trường thực hiện các quyền tự chủ của họ như thế nào và làm thế nào để có thể thực hiện được các quyền ấy; nhất là việc hướng dẫn xác lập vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm và mối quan hệ giữa 3 thiết chế quyền lực: Đảng ủy- Hội đồng trường-Ban Giám hiệu trong điều kiện Đảng luôn được xác định là tổ chức lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối tất cả các lĩnh vực hoạt đội của đời sống xã hội, trong đó có các trường đại học, mọi hoạt động trong nhà trường đều phải theo sự chỉ đạo của Đảng ủy.

Không có hướng dẫn, hỗ trợ từ các cơ quan có thẩm quyền, các cơ sở giáo dục "thí điểm tự chủ" hoàn toàn lúng túng với đủ thứ âu lo, và buộc phải loay hoay tìm cách tự "bê đá dò đường", để có thể thực hiện được một quyền tự chủ nào đấy đã được Thủ tướng "thí điểm" giao.

Trong hoàn cảnh ấy, Hội đồng trường như một thiết chế thêm nếm cho giống với thiên hạ; nhưng quên mất rằng sự khác biệt nhất giữ các trường đại học Việt Nam với các trường đại học thế giới là ở các trường đại học trên thế giới, hoạt động của họ hầu như không gắn với tổ chức đảng; thậm chí ở các nước phát triển, hoạt động của trường đại học còn gần như độc lập với bộ máy chính quyền, vì từ lúc thành lập, họ đã là tổ chức học thuật, tổ chức đào tạo tự quản (tự trị) rồi.

2.2.4. Hội đồng trường được thành lập một cách thiếu dân chủ, tổ chức lỏng lẻo, hình thức

Điều lệ trường đại học giao cho hiệu trưởng đứng ra thành lập Hội đồng trường khóa I, do không được thành lập một cách dân chủ nên nó không thể đại diện cho tiếng nói thực hiện quyền lực, và về bản chất Hội đồng trường chỉ là tổ chức quản lý mở rộng của hiệu trưởng.

Theo qui định, cơ cấu thành viên Hội đồng trường trường đại học công lập như sau: (1) hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng, (2) Bí thư Đảng ủy; (3) Chủ tịch Công đoàn; (4) Bí thư Đoàn thanh niên;

(5) Đại diện giảng viên, nghiên cứu viên; (6) Đại diện cơ quan quản lý trực tiếp trường; (7) Đại diện giới khoa học/giáo dục/kinh doanh mời từ bên ngoài trường.

Thành phần từ (1) đến (4) là đương nhiên, thành phần (5) được các đơn vị bầu, nhưng để cho "lành", các đơn vị thường bầu luôn trưởng/phó của đơn vị;

Thành phần (7) theo cơ chế giới thiệu, nhưng trên thực tế là do hiệu trưởng mời chỗ bạn bè chiến hữu thân thiết, tham gia để tán thành chứ không phải tham gia để giám sát, để phản biện.

Vì vậy, Hội đồng trường trên thực tế, trừ thành phấn số (6), chỉ là bộ maý quản lý mở rộng của hiệu trưởng, nên trên thực tế các hoạt động của Hội đồng trường cũng đều do một tay hiệu trưởng "turn off" hay "turn on" cả.

Không có các qui định về tiêu chuẩn, điều kiện và trách nhiệm của các thành viên Hội đồng trường, nhưng lại qui định cứng nhắc về cơ cấu (đương nhiên, bầu và mời), làm cho Hội đồng trường không thực sự mạnh về chất;

Mặt khác, các thành viên Hội đồng trường đều kiêm nhiệm và nhiều thành viên bên ngoài trường quá bận rộn, hầu như không có thời gian dành cho thực hiện nhiệm vụ của thành viên Hội đồng trường.

Hơn nữa, với chủ trương “nhất thể hóa”, Hiệu trưởng và Bí thư thường là một người nên Hội đồng trường không thể phát huy được vai trò lãnh đạo, rất dễ biến Hội đồng trường thành một tổ chức "bù nhìn".

2.2.5. Hội đồng trường hoạt động chiếu lệ, hình thức, mất chức năng giám sát

Muốn bỏ biên chế trong trường đại học thì phải có Hội đồng trường đích thực!

- Khi đề cập đến hoạt động của Hội đồng trường, các văn bản đều qui định Hội đồng trường họp thường kỳ ít nhất 6 tháng 1 lần, điều đó được đại đa số các vị Bí thư Đảng ủy, hiệu trưởng nhà trường hiểu là Hội đồng trường mỗi năm họp 2 lần, mỗi lần họp thường chỉ là nửa ngày, sau đó mời "quí dzị đi nhậu".

Hoạt động kiểu "chuồn chuồn chấm nước" xuân thu nhị kỳ như thế thì lãnh đạo thế nào, giám sát thế nào?

- Vai trò giám sát của Hội đồng trường hoặc bị vô hiệu hóa hoặc nếu có thì cũng chỉ là hình thức, không thực chất, chủ tịch Hội đồng trường tồn tại như cái bóng tẻ nhạt của hiệu trưởng. 

Vì, về tiêu chuẩn, điều kiện của chủ tịch Hội đồng trường và hiệu trưởng, các tài liệu pháp qui hiện hành đều "đồng thanh": “tiêu chuẩn chủ tịch Hội đồng trường như tiêu chuẩn của hiệu trưởng”, “nhiệm kỳ của Hội đồng trường theo nhiệm kỳ của hiệu trưởng”.

Thêm nữa, vị trí, thẩm quyền của chủ tịch Hội đồng trường vừa hình thức vừa không rõ ràng, lại không tiền không quyền, không bộ máy giúp việc độc lập, không kinh phí hoạt động độc lập, làm việc gì cũng đều phải "xin" hiệu trưởng duyệt kinh phí việc ấy, nên nói chẳng ai nghe, cán bộ chủ chốt cấp giám hiệu (các phó hiệu trưởng) đùn đẩy nhau, không ai muốn "đứng ra gánh vác" cái chân nghe rất oai, nhưng quyền rơm vạ miệng ấy.

Cứ thử nhìn bộ dạng và nét mặt của các vị chủ tịch Hội đồng trong một hội nghị nào đó của một trường đại học hoặc của bộ ngành nào đó là đủ biết họ "phận mỏng cánh chuồn" như thế nào.

Hơn nữa, các thành viên Hội đồng trường, nếu họ không là đảng ủy viên, không là cán bộ chủ chốt, thì không thể theo sát để nắm bắt được các hoạt động của nhà trường, biết gì mà "giám sát", biết gì mà "thông qua"?

Lại nữa, 25-30% số thành viên Hội đồng trường là người ngoài trường thì gần như "mù tịt", họ bận trăm công ngàn việc của cơ quan, doanh nghiệp họ, thời gian đâu mà quan tâm đến, mà trăn trở về các hoạt động thường nhật của nhà trường?

Thấy mình chẳng có "vị" gì, có thành viên Hội đồng không dự họp 1-2 năm liên tục, cũng không sao.

Nên trên thực tế, hầu như không có ý kiến phản biện nào, không thấy báo cáo "giám sát" nào là đáng giá, là thực chất của Hội đồng trường đối với các công tác quản lý của hiệu trưởng, tất cả chỉ là sự "đồng ý đồng chí đồng tình" của hiệu trưởng mà thôi!

- Hội đồng trường được hiểu là tổ chức thay mặt Nhà nước và các chủ thể khác quản trị trực tiếp trường đại học, là chủ sở hữu của nhà trường, nhưng lại không được gắn với trách nhiệm giải trình và báo cáo, mọi mối liên hệ đến nhà trường đều thông qua Ban Giám hiệu, bộ ngành liên quan không ai cần nhớ đến Hội đồng trường, nên cái vị trí "quan trọng" này không mấy khi được mời tham dự các hội nghị của bộ ngành, không được tạo môi trường để trao đổi kinh nghiệm và nắm bắt thông tin về các hoạt động giáo dục đại học.

2.2.6. Hiệu trưởng trường đại học công lập là công chức

Vì là công chức, nên việc thực hiện qui trình giới thiệu, lấy phiếu tín nhiệm và bổ nhiệm hay miễn nhiệm, theo các qui định hiện hành, đều thuộc thẩm quyền của bộ chủ quản.

Hơn nữa, công tác tổ chức và nhân sự là nhiệm vụ của Đảng, nên Đảng ủy mới có đủ thẩm quyền đề xuất nhân sự hiệu trưởng.

Giữa hiệu trưởng và Hội đồng trường không có sự ràng buộc pháp lý nào, nên hiệu trưởng không phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng trường.

Hơn nữa, Đảng ủy là cơ quan lãnh đạo trực tiếp, toàn diện các hoạt động của nhà trường nên Ban Giám hiệu chỉ thực hiện công tác chỉ đạo, điều hành thông qua việc chấp hành và thực hiện nghị quyết của Đảng ủy.

Hiệu trưởng vẫn là người phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước xã hội về kết quả thực hiện điều hành nhà trường, chứ không phải Hội đồng trường.

2.2.7. Hội đồng trường không có nguồn kinh phí hoạt động độc lập và không có bộ máy thừa hành độc lập

Theo luật định, Hội đồng trường không có qui định được sử dụng bao nhiêu phần trăm kinh phí hoạt động của cơ sở giáo dục cho các hoạt động của Hội đồng, tiêu đồng nào xin hiệu trưởng cấp đồng ấy, hiệu trưởng không duyệt thì cũng không dám/không thể kêu ai; lại cũng không có bộ phận giúp việc độc lập và ổn định, cũng theo qui định, Hội đồng trường được phép sử dụng đội ngũ viên chức của hiệu trưởng ("quân" của hiệu trưởng) để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng, làm cho sự tồn tại của Hội đồng trường rất mờ nhạt, không thực chất, hoạt động chiếu lệ.

2.2.8. Chưa xác lập được mối quan hệ giữa Nhà nước với nhà trường và mối quan hệ trong nội bộ cơ sở giáo dục

Đây được coi là khâu then chốt nhất, làm cho Hội đồng trường không thể hoạt động hiệu quả.

Chưa có một văn bản nào hướng dẫn các cơ sở giáo dục thực hiện quyền tự chủ của họ như thế nào, họ được làm những gì và không được làm những gì, quyền tự xác lập quyền tự chủ của họ như thế nào, cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo được làm những gì và không được làm những gì, v.v….

Mối quan hệ tự chủ trong nội bộ trường cũng thế, không có văn bản nào qui định về (i) mối quan hệ giữa Đảng ủy-Hội đồng trường-Ban Giám hiệu, và (ii) Nhà trường đòi chính phủ giao quyền tự chủ càng rộng càng tốt, nhà trường càng có nhiều tự do hơn trong quản trị và quản lý càng tốt;

Nhưng đến lượt mình, nhà trường lại không xác lập rõ ràng và tường minh mức độ tự chủ, mức độ làm chủ của các đơn vị trực thuộc, của cán bộ viên chức và người học, để có thể phát huy sức mạnh dân chủ cơ sở;

Mọi việc điều hành và quản lý, gần như hiệu trưởng nắm hết, không khác gì việc quản lý nhà trường thời bao cấp.

2.2.9.Cơ sở giáo dục chưa sẵn sàng về tâm và thế để đón nhận thiết chế Hội đồng trường

Hầu hết hiệu trưởng các trường được giao thí điểm tự chủ chưa thực sự sẵn sàng về tâm và thể để đón nhận thiết chế Hội đồng trường.

Hội đồng trường không chồng lên việc của Hiệu trưởng

Vì cơ chế Hội đồng trường có thể là tốt với với tiến trình tự chủ của nhà trường, nhưng chưa chắc đã tốt cho vị trí của người đứng đầu hiện nay, nhất là đối với các hiệu trưởng thiếu năng lực.

Thể chế Hội đồng trường thực tế sẽ tạo một sự “dịch chuyển quyền lực”, chỉ khi có quyết tâm chính trị mạnh mẽ của những người lãnh đạo cấp cao mới mong thực hiện được;

Nếu không, đa phần các trường vẫn chạy theo lối mòn quản lý và khai thác những lợi thế đã tích lũy được từ trước, chứ không phải từ tự chủ đại học.

Về mặt tâm lý, hiệu trưởng không muốn chia sẻ quyền lực với Hội đồng trường, không muốn tự dưng lại có một tổ chức đứng trên đầu mình, mình lại phải thực hiện các quyết nghị, lại phải báo cáo, lại phái giải trình, lại bị giám sát... nên nếu có, hiệu trưởng chỉ coi nó như là tổ chức tư vấn.

Về mặt quyền lực, Nếu hiệu trưởng kiêm luôn Bí thư cấp ủy đảng thì "chẳng còn gì để bàn" nữa, còn nếu hiệu trưởng không kiêm Bí thư thì cũng không sao, mọi việc vẫn như thế cả.

Khác với các cơ quan hành chính bên ngoài, và cũng khác với ông bạn láng giềng phương Bắc: nếu hiệu trưởng "nhường" chức Bí thư cho đồng chí khác, thì "chân" Bí thư cũng thường là một phó hiệu trưởng nào đấy, do hiệu trưởng "chọn mặt gửi vàng" giới thiệu ra đại hội đảng bộ để bầu, lo truyền đạt nghị quyết của Đảng ủy cấp trên và lo truyền đạt "ý chí và nguyện vọng" của hiệu trưởng đến các đồng chí đảng viên trong toàn đảng bộ, để mọi người cùng được "quán triệt sâu sắc và nhận thức đầy đủ" về ý chí và nguyện vọng ấy.

"Vai" này lo công tác chính trị tư tưởng, lo đoàn kết nội bộ, lo xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh và hàng trăm việc không tên khác, để chung vào một địa hạt, được gọi là "công tác nội vụ" hay "công tác nội chính".  

Tương tự như vậy, khi được cấp trên yêu cầu phải thành lập Hội đồng trường, thì hiệu trưởng thường tìm một người cùng "cánh" với mình, tốt nhất là đệ tử, ra "gánh vác" nhiệm vụ quan trọng này.

Vì thế, chủ tịch Hội đồng trường thường là một anh trưởng phòng, cũng có thể là chủ tịch công đoàn được "đôn" lên, hoặc cùng lắm là một phó hiệu trưởng sau khi được "làm công tác tư tưởng" đã "xung phong" nghỉ "chân" phó hiệu trưởng để nhận nhiệm vụ mới do Đảng cử dân bầu.

Bởi vậy, trong tâm thức của đội ngũ lãnh đạo và cán bộ viên chức, vị trí này (chủ tịch Hội đồng trường) chẳng quan trọng gì, "có cô thì chợ cũng đông" thế thôi. hiệu trưởng đưa tài liệu gì bảo ký thì ký "cho nó đủ thủ tục", bảo đọc gì thì đọc "cho nó biết", bảo phát biểu như thế như thế thì nói như thế như thế "cho nó lành"...

Làm sao một người xuất thân là trưởng phòng hay phó hiệu trưởng lại có thể khiến cho hiệu trưởng có thể đủ tin đủ trọng đủ nể để cùng nhau ngang ngửa bàn "chuyện triều đình"?

Làm sao anh ta lại có thể dám chất vấn hiệu trưởng, lại dám "phản biện" hiệu trưởng, lại dám "giám sát" hiệu trưởng? Chỉ được "xin ý kiến" tham khảo thôi đã là sung sướng lắm! 

Bản thân các hiệu trưởng đa số đều là những người tốt và tử tế, học cao biết rộng, không phải loại chữ nghĩa bới cả ngày không đầy một lòng bàn tay, nhưng từ trong tiềm thức.

Và như một thói quen, như một quán tính, khi ngồi vào chiếc "ghế" hiệu trưởng là tự khắc họ điều hành và quản lý trường đại học của họ như những cách mà các vị tiền nhiệm đã làm, như các hiệu trưởng các trường đại học khác đang làm, theo những cung cách thường qui, về mặt bản chất thì gần như không có khác biệt giữa trường tự chủ và chưa tự chủ, giữa có Hội đồng trường hay chưa có Hội đồng trường.

Và, theo bản tính của con người, lại không bị thiết chế nào đủ mạnh giám sát trên thực tế, nên nếu là người không có nền tảng giáo dục vững vàng, họ rất dễ trở thành con người khác với chính họ trước khi họ được bổ nhiệm làm hiệu trưởng:

Lo củng cố quyền lực cá nhân hơn là lo thực hiện các sứ mệnh của trường đại học, họ trở thành "người duy nhất đúng" trong mọi trường hợp, trở thành người "cho ý kiến" về bất kỳ chuyện gì, việc gì, và là người được "xin ý kiến" gần như duy nhất của tất cả đội ngũ viên chức thừa hành.

Quyền lực của họ gần như là bất khả xâm phạm; và như một lẽ tự nhiên, dân chủ cơ sở ở nhà trường gần như bị tước đoạt, chỉ còn là một mỹ từ xuất hiện trên các bản báo cáo, ở đó cán bộ viên chức gần như không có một sáng kiến nào đáng giá.

Không nên và không thể trách cứ họ, vì không có bất cứ một văn bản nào hướng dẫn họ, đã là hiệu trưởng một trường tự chủ thì phải như thế này hay nên như thế kia.

Về mặt pháp lý, trong quản lý và điều hành nhà trường, hiệu trưởng không thấy có bất cứ sự ràng buộc thực tế nào với Hội đồng trường:

Theo các qui định hiện hành, quyền lực của hiệu trưởng các trường đại học Việt Nam vẫn là to lớn nhất so với bất kỳ nước nào khác trên thế giới, kể cả ở các trường đại học của người láng giềng phương Bắc;

Và cái quyền hành ấy của họ không hề thay đổi dù là trường có tự chủ hay chưa tự chủ, dù là trường có Hội đồng trường hay chưa có Hội đồng trường. Ban Giám hiệu nhà trường (thực chất là hiệu trưởng, vì các phó hiệu trưởng chỉ là người "giúp việc" của hiệu trưởng theo luật định) vẫn giữ vị trí cao nhất và quyết định gần như là tất cả mọi việc trong đối nội và đối ngoại của một cơ sở giáo dục.

Thiết chế Hội đồng trường bị vô hiệu hóa ngay cả đối với những người đã sinh ra thiết chế này!

Một lý do tế nhị khác khiến các hiệu trưởng chưa muốn tiếp nhận thể chế Hội đồng trường, đó là hiện trạng không ít trường đại học tỏ ra miễn cưỡng, hình thức trong việc minh bạch hoá các thông tin, hoạt động giám sát của Thanh tra Nhân dân chỉ là hình thức và giả dối.

Điều đó sẽ được khắc phục khi có Hội đồng trường thực sự, khi đó Hội đồng trường sẽ tiến hành công tác giám sát hoạt động của hiệu trưởng, trong đó có kiểm toán, giám sát tài chính nội bộ và các hoạt động khác.

Khi quyền tự chủ của các trường đại học được nâng cao, nghĩa là phải tăng tính công khai minh bạch, phải thực hiện trách nhiệm giải trình về tài chính và các hoạt động khác của hiệu trưởng đối với Hội đồng trường, đối với cán bộ, công nhân viên, đối với người học và với xã hội. Đó là điều, rất ít hiệu trưởng muốn.

Vì thế, trên thực tế, không ít hiệu trưởng trường đại học công lập được giao "thí điểm" tự chủ chưa thực sự sẵn sàng trao quyền cho Hội đồng trường, nên cho thành lâp Hội đồng trường còn mang tính đối phó, chiếu lệ, hình thức, và họ cũng chẳng "dại gì" tiên phong thực hiện nghiêm túc các quy chế liên quan đến quyền lực của Hội đồng trường để thực sự đổi mới quản trị đại học, nếu có thì những quyền lực ấy cũng chỉ tồn tại trên hồ sơ để phục vụ các mục đích cụ thể nào đó, gần như không tồn tại trong thực tiễn;

Vì, nếu họ thực hiện đúng, quyền lực của hiệu trưởng sẽ bị giảm bớt đi khá nhiều, những vấn đề lớn đều sẽ do Hội đồng trường quyết định, không phải họ; và khi ấy họ chỉ có quyền thực thi công vụ như một CEO mà thôi.

Thêm nữa, tâm lý cầu an, thụ động cũng là một trở ngại lớn trong quá trình đổi mới giáo dục đại học nói chung cũng như tiến trình tự chủ đại học nói riêng.

3. KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 

Ai cũng thấy rằng, qua các bài học thành công của giáo dục đại học trên thế giới, muốn nâng cao chất lượng giáo dục đại học, thì phải đổi mới quản lý giáo dục đại học, và điều đó phải bắt đầu từ hệ thống quản trị nhà trường:

Bộ máy quản trị là Hội đồng trường, đứng đầu là chủ tịch Hội đồng, bộ máy quản lý đứng đầu là hiệu trưởng.

Muốn vậy, việc thành lập Hội đồng trường trong các trường đại học Việt Nam phải là một tất yếu, và đó là một xu thế tiến bộ, là khâu đột phá trong triển khai tự chủ đại học.

Nhưng qua thực tiễn 15 năm triển khai, chúng ta thấy thiết chế Hội đồng trường hay ở đâu, tốt ở đâu đó, nhưng chưa phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam; "đỏ" ở xứ người đấy nhưng còn chưa "chín" ở xứ ta, việc thành lập Hội đồng trường là phù hợp với quy định của Nhà nước và phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng chưa phải là yêu cầu bức thiết từ thực tiễn hoạt động của các trường đại học;

Vì thế, thể chế Hội đồng trường vẫn không đi vào đời sống thực tế của hệ thống giáo dục đại học.

Đó là con đường đúng, nhưng chúng ta chưa hội đủ năng lực và điều kiện để thực hiện, thì không nên "chín ép", chúng ta đã có nhiều bài học sâu sắc về việc áp dụng học chế tín chỉ hay thi trắc nghiệm đồng loạt rồi;

Không thể "thấy người ta ăn khoai thì mình cũng vác mai đi đào", vì đây là mô hình quản trị của phương Tây, không thích hợp với nước ta;

Nhất là, khi ở nước ta, tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam mới là cơ quan lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối, từ chiến lược phát triển dài hạn, kế hoạch hằng năm đến tổ chức, nhân sự, tài chính, hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của nhà trường;

Việc "đẻ" thêm một tổ chức nữa chỉ tổ làm rối thêm hệ thống quản trị đại học vốn đang chứa chất không ít bất cập.

Nếu vậy, thì nên kiên quyết tạm loại bỏ thiết chế Hội đồng trường, chờ đến khi chúng ta có đủ năng lực và điều kiện hãy làm sau.

Hoặc là, nếu thấy cần tồn tại tổ chức Hội đồng trường vì một mục đích nào đó (ví dụ như để chứng tổ giáo dục đại học Việt Nam đang đổi mới, đang dân chủ hóa, đang hội nhập chẳng hạn), thì nên áp dụng luôn cơ chế "nhất thể hóa" đang trở thành xu thế rất thịnh hành hiện nay ở các cơ quan hành chính thuộc bộ máy của Đảng và nhà nước.

Và khi đã "nhất thể hóa" thì áp dụng luôn mô hình cả 3 chức danh BTĐU, chủ tịch Hội đồng trường và hiệu trưởng đều do một người nắm giữ, như đã được áp dụng nhiều năm qua ở các đại học quốc gia và đại học vùng – là các đại học vốn và luôn được kỳ vọng giữ vai trò rường cột trong hệ thống giáo dục đại học quốc dân.

Các báo cáo thường niên của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như của các đại học đều cho thấy, các cơ sở giáo dục đại học này đang hoạt động từ tốt đến rất tốt, tất cả đều đang tiếp tục "có những bước tiến quan trọng";

Vậy thì hà cớ gì lại phải "cấy" thêm thiết chế thứ 3 là Hội đồng trường vào đời sống đang diễn ra tốt đẹp ở các đại học và trường đại học làm gì?

Vậy thì hà cớ gì lại qui định hiệu trưởng không được đồng thời là chủ tịch Hội đồng trường? Việc gì còn phải "vẽ thêm chân cho rắn"?

Còn nếu thấy, ở nước ta hiện nay, việc lập Hội đồng trường với các chức năng và nhiệm vụ theo thông lệ quốc tế là hoàn toàn có thể, chúng ta đã đủ điều kiện và năng lực, chỉ phụ thuộc vào việc "người ta" có muốn làm thiệt hay không, thì phải quyết tâm bằng cả lời nói và hành động thực tiễn, tạo điều kiện hỗ trợ và giúp đỡ Hội đồng trường hoạt động thiết thực, hiệu quả theo luật định, chấm dứt tình trạng "đánh trống bỏ dùi"... 

Trước khi có những hành động cụ thể và thiết thực để tiếp thêm sinh lực cho Hội đồng trường, thiết nghĩ cũng nên thống nhất với nhau về một vài quan niệm.

3.1. Quan niệm

1. Trường đại học là một tổ chức học thuật, khác rất nhiều với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan hành chính, cần có cơ chế hoạt động riêng, cần có khoảng trời riêng để phát triển, muốn vậy, cần có một khâu đột phá đó là tiến hành cơ chế tự chủ đại học với xương sống là thiết chế Hội đồng trường- tổ chức quản trị, là cơ quan quyền lực cao nhất của trường đại học.

Chỉ có nhà nước mới có thể giúp các trường đại học gỡ bỏ các trở ngại và rào cản để tiến trình tự chủ của họ trở thành thực chất, không đối phó, không hình thức, không giả dối; và chỉ có như vậy thì mới mong thay đổi được hình ảnh của giáo dục đại học Việt Nam.

2. Nhà nước đã giao quyền tự chủ là giao tự chủ toàn diện cho các trường đại học, nhà nước chỉ nên tập trung vào 3 vấn đề: mục đích của quản lý nhà nước, cấp ngân sách như thế nào, xây dựng được quy chế đảm bảo tính giải trình minh bạch. Còn các việc khác hãy để cho các trường tự chủ làm.

Vì nếu cơ quan chủ quản và Bộ Giáo dục và Đào tạo không tập trung vào chức năng quản lý nhà nước, vẫn duy trì cơ chế "xin cho", "cấp phép" thì họ sẽ tiếp tục cản trở hoạt động của Hội đồng trường.

Nhưng chính các trường mới là tổ chức quyết định tính chất, phạm vi và mức độ tự chủ của họ thông qua (i) các KPIs mà họ cam kết với Nhà nước và với xã hội, và (ii) Năng lực thực tế của Hội đồng trường trong quản trị nhà trường; Vì thế, mức độ tự chủ của các trường không nhất thiết phải như nhau. 

3. Tự chủ đại học ở Việt Nam hiện nay được khá nhiều người, kể cả cơ quan quản lý và quan chức nhà nước, hiểu trước hết và then chốt là tự chủ tài chính, và nhà nước cắt giảm chi thường xuyên, giảm đầu tư, mà không biết rằng tự chủ khác với tự lo, tự bơi, tự cung tự cấp.

Điều này trái với thực tế tự chủ đại học trên thế giới, đó là khi giao quyền tự chủ cho đại học thì nhà nước chỉ thay đổi cách đầu tư: thay đầu tư theo dòng kinh phí-hạng mục (line-iterms) sang đầu tư một khoản kinh phí (block grants) theo cách đặt hàng và giao nhiệm vụ trên cơ sở kết quả "đầu ra" (KPIs) của cơ sở giáo dục;

Nhà trường được quyền linh động sử dụng nguồn kinh phí đó một cách hiệu quả nhất.

Nhà nước và xã hội tăng cường giám sát tính minh bạch và hiệu quả việc sử dụng kinh phí của Nhà trường.

Quan trọng nhất của tự chủ là tự chủ về chuyên môn và tự do học thuật; tài chính, đầu tư chỉ là điều kiện.

Không nên cho rằng cốt lõi và căn bản nhất của tự chủ đại học là tự chủ tài chính, tự chủ đầu tư, và lấy mức độ tự chủ về tài chính và đầu tư làm thước đo để nhà nước quyết định về mức độ, phạm vi và tính chất tự chủ của các trường.

Nếu cứ bắt các trường phải lo kiếm sống để tồn tại thì như một lẽ tự nhiên, họ phải lo "nồi cơm" của họ trước khi lo đến chất lượng đào tạo và các sứ mệnh khác của trường đại học; tự chủ tài chính theo cách như vậy, cùng với thực trạng gần như "tháo khoán" về tuyển sinh đại học trong những năm gần đây, và hiện tượng "cận huyết" trong tiếp nhận và đào tạo giảng viên, sẽ để lai những di chứng không mong muốn cho đất nước trong nhiều thập niên tới.

Ở đâu, giáo dục mà lo làm tiền, cũng như khoa học công nghệ mà lo kiếm sống thì ở đó khó có nền giáo dục tử tế, ở đó khó có nền khoa học công nghệ chân chính và thiện lương, vì ở đó đã có sẵn sự dung dưỡng cho những điều sai trái!

4.  Với điều kiện nước ta hiện nay, chưa nên khuyến khích hay ép buộc (bằng một cách nào đó) thành lập Hội đồng trường ở tất cả các trường đại học; chỉ nên thành lập ở các trường đã hội đủ điều kiện như:

(i) Đã thể hiện đủ năng lực để có thể thực hiện được các quyền tự chủ trên cơ sở nhận thức đầy đủ trách nhiệm xã hội;

(ii) Đã được giải phóng khỏi cơ chế bộ chủ quản hoặc có bộ chủ quản nhưng trên thực tế đã được giải phóng khỏi cơ chế bộ chủ quản (kiểu cũ).

3.2. Kiến nghị

Thông thường, nguyên nhân nào thì giải pháp ấy; ở đây chúng tôi xin được gom lại thành các nhóm kiến nghị sau:

3.2.1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức

Từ xưa đến nay, người ta vẫn thường hiểu hiệu trưởng là người đứng đầu trường đại học, nắm hầu hết quyền hành trong nhà trường, cũng là do khái niệm Hội đồng trường (Hội đồng quản trị trường đại học) còn khá xa lạ với đa số quan chức và dân chúng, kể cả hiệu trưởng một số trường đại học được giao "thí diểm" tự chủ.

Vì vậy, để đạt được sự đồng thuận cao, xã hội cần được hiêu đúng hiểu đủ về tự chủ đại học và thiết chế Hội đồng trường;

Do đó, cần phải tăng cường công tác truyền thông trong xã hội và trong nội bộ ngành, nội bộ từng trường, đảm bảo thông tin thông suốt, thống nhất.

Chỉ có như thế, thì mọi người mới có thể nhận thức đúng đắn, đẩy đủ về tự chủ, về vai trò và trách nhiệm Hội đồng trường và của mỗi cá nhân trong tiến trình tự chủ đại học, nhất là nhận thức về các vấn đề sau:

(i) Tự chủ đại học là con đường tất yếu của giáo dục đại học Việt Nam, chỉ có như vậy mới có thể, cùng với các giải pháp khác, nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.

Tự chủ phải gắn với trách nhiệm giải trình với các bên liên quan chứ không còn đơn giản là trách nhiệm giải trình với xã hội;

Do đó, mọi hoạt động của nhà trường đều phải hòa theo định hướng phát triển chung của giáo dục đại học nước nhà, và được chia sẻ công khai trên cổng thông tin của các cơ sở giáo dục đại học tự chủ;

(ii) Việc thành lập Hội đồng trường xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của quản trị trường đại học trong điều kiện mới, khi xu hướng tự chủ đại học là tất yếu và hội nhập giáo dục đại học là không thể tránh khỏi.

Việc tách quản trị ra khỏi quản lý nhà nước, bảo đảm quản trị không bị chi phối trực tiếp bởi lợi ích vật chất khi xóa bỏ bộ chủ quản.

Trường đại học được giao quyền tự chủ và đi kèm với đó là trách nhiệm xã hội ngày càng cao để có thể tồn tại và phát triển một cách tương đối độc lập.

Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội đó phải được thể hiện qua việc trường đại học có một Hội đồng quyền lực riêng của mình, đó là Hội đồng trường, đó là một thực thể có quyền lực cao nhất, làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản trị nhà trường;

(iii) Việc thành lập và vận hành hoạt động của Hội đồng trường giúp tăng cường đảm bảo lợi ích của nhà nước và các bên liên quan.

Hội đồng trường là những người đại diện cho chủ sở hữu cộng đồng, nhờ vậy, thiết chế này mới đủ thẩm quyền ban hành những quyết định phù hợp với sự phát triển của nhà trường, còn cá nhân hiệu trưởng không thể làm được.

Nghĩa là, chỉ khi nào có Hội đồng trường thì nhà trường mới tạo ra được những quyết định tối ưu và kiểm tra quyền lực một cách hiệu quả nhất;

Nên chỉ khi vai trò của Hội đồng trường thực sự có hiệu quả thì chúng ta mới tạo ra được sự đột phá cho giáo dục đại học.

3.2.2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách

1. Rà soát và hoàn thiện chính sách về Hội đồng trường

Việc đưa thể chế Hội đồng trường vào hệ thống giáo dục đại học nước ta từ năm 2003 là một bước tiến rất đáng ghi nhận của nền giáo dục đại học nước nhà.

Nhưng từ ấy đến nay, hoạt động Hội đồng trường vẫn mờ nhạt, mang tính hình thức, không có thực quyền.

Một khi không giải quyết được vấn đề Hội đồng trường thì việc tự chủ hóa hệ thống giáo dục đại học sẽ rất khó thực hiện.

Nếu Hội đồng trường được thành lập theo đúng những gì Luật Giáo dục về Điều lệ trường Đại học qui định thì Hội đồng trường chẳng khác gì bộ máy quản lý mở rộng của hiệu trưởng, mà đã là bộ máy quản lý mở rộng của hiệu trưởng thì tất cả hoạt động đều là hình thức và đối phó.

Và nếu như trong thể chế, hiệu trưởng chỉ thực hiện các quyết định theo Đảng ủy, và Đảng ủy mới thực sự là tổ chức lãnh đạo tuyệt đói, toàn diện các hoạt động của nhà trường, thì Hội đồng trường "đứng" ở chỗ nào? Không phải là một tổ chức "thừa" mới là chuyện lạ!

Hội đồng trường là một công cụ quan trọng, nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của một tổ chức dân chủ.

Muốn có Hội đồng trường đúng nghĩa thì phải sửa luật giáo dục đại học và cả hệ thống văn bản luật và các văn bản pháp qui khác có liên quan đến sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, như Luật đầu tư công, Luật Ngân sách, Luật thuế, Luật viên chức, Luật lao động và các quy định về chế độ công chức, v.v... cũng như các qui định về nghĩa vụ và trách nhiệm gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Một mình Luật giáo dục đại học không thể làm thay đổi căn bản và toàn diện nền giáo dục đại học.

2. Xác định rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và nhà trường và mối quan hệ trong nội bộ cơ sở giáo dục về tính chất và mức độ tự chủ

Tự chủ được thể hiện ở hai cấp độ: cấp độ giữa trường đại học với Nhà nước, và cấp độ trong nội bộ trường đại học.

Về mối quan hệ giữa Nhà nước và nhà trường, có mấy vấn đề cần làm rõ:

Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận nhiệm vụ thống nhất thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục đại học là phù hợp với điều kiện của Việt Nam và thông lệ quốc tế; nhưng để tránh việc Bộ Giáo dục và Đào tạo mặc nhiên trở thành "bộ chủ quản" của tất cả các trường đại học với các lề thói quản lý cũ, việc phân công, phân cấp, phân quyền thế nào giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các bộ ngành liên quan khác, với địa phương và cơ sở giáo dục, xuất phát từ mục đích quản lý, năng lực quản lý, điều kiện cụ thể của từng bộ ngành, địa phương và nhất là của từng cơ sở giáo dục, rất cần được phân định rõ ràng, ví dụ như trong các mối quan hệ này cơ sở giáo dục được làm những gì và không được làm những gì, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần và phải làm những gì và không được làm những gì; với các bộ ngành liên quan khác và địa phương cũng vậy.

Một trong những "điểm nghẽn" trong thời gian qua được các trường đại học và dư luận xã hội quan tâm nhiều là vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, và mối quan hệ giữa 3 thiết chế lãnh đạo, quản trị, quản lý trường đại học là Đảng ủy, Hội đồng trường và Ban Giám hiệu.

Về vấn đề này nên vận dụng các nguyên tắc đã được áp dụng khi giải quyết các mối quan hệ giữa Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội và Chính phủ ở tầm quốc gia.

- Ban chấp hành Đảng bộ (Đảng ủy) nhà trường là tổ chức Đảng đại diện cho Đảng bộ giữa 2 kỳ Đại hội, hoạt động theo Điều lệ Đảng, pháp luật của nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ cấp trên và Quy chế làm việc của Ban chấp hành Đảng bộ trường; có trách nhiệm là hạt nhân chính trị, lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện nhà trường bằng các nghị quyết.

Đảng ủy có nhiệm vụ (i) xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh; (ii) ban hành và lãnh đạo nhà trường bằng các nghị quyết về các mặt công tác và các nhiệm vụ chính trị của nhà trường, mang tính đường lối, định hướng;

(iii) lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ thông qua các nghị quyết về công tác tổ chức và qui hoạch nhân sự;

(iv) không can thiệp vào công tác quản trị của Hội đồng trường, và công tác quản lý hàng ngày của hiệu trưởng.

Thực ra, Đảng ủy luôn là thiết chế lãnh đạo tòan diện và tuyệt đối các lĩnh vực hoạt động của nhà trường, điều đó luôn được khẳng định vì các vị trí lãnh đạo chủ chốt, từ chủ tịch Hội đồng trường, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, trưởng các đơn vị đều là đảng viên sinh hoạt tại các chi bộ trực thuộc Đảng ủy, họ có trách nhiệm tối thượng là sống và làm việc theo Điều lệ Đảng, pháp luật của nhà nước, theo nghị quyết của chi ủy, đảng ủy bộ phận và của các chỉ thị, nghị quyết của đảng ủy cấp trên.

- Hội đồng trường là một thực thể có quyền lực cao nhất, làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản trị nhà trường thông qua các quyết nghị và vai trò giám sát hỗ trợ hiệu trưởng, còn bộ máy của hiệu trưởng có nhiệm vụ quản lý, điều hành các hoạt động thường ngày của nhà trường. Hội đồng trường quyết nghị chiến lược, mục tiêu cụ thể hơn, theo các chủ trương của Đảng.

Ban Giám hiệu tổ chức thực hiện những kế hoạch và chiến lược đã được Hội đồng trường thông qua.Hội đồng trường phải lãnh đạo chiến lược, không sa vào các quyết định chiến thuật, do đó khi đã có chính sách và kế hoạch phát triển tổng thể, Hội đồng trường phải giao quyền đầy đủ cho hiệu trưởng, không can thiệp vào việc điều hành cụ thể của hiệu trưởng.

Vì thế mà người ta thường nói Hội đồng trường chỉ có một "nhân viên", đó là hiệu trưởng.

- Mối quan hệ giữa Hội đồng trường và các thành viên của Hội đồng trường với hiệu trưởng và bộ máy của hiệu trưởng tuân theo các nguyên tắc:

(i) Hội đồng trường giữ vai trò lãnh đạo, còn hiệu trưởng làm nhiệm vụ quản lý;

(ii) Hội đồng trường lãnh đạo và quản trị cơ sở giáo dục đại học thông qua hiệu trưởng, không trực tiếp tác động đến các thành viên trong bộ máy của hiệu trưởng, trừ khi hiệu trưởng đề nghị;

Khi đã lựa chọn/tuyển dụng được đúng một hiệu trưởng tốt và xác định đúng chính sách thích hợp, Hội đồng trường cần "tránh ra một bên" để hiệu trưởng điều hành công việc điều hành, quản lý nhà trường;

(iii) Sự lãnh đạo và quản trị của Hội đồng trường được thực hiện bằng nghị quyết của toàn thể hội đồng chứ không phải của các thành viên hội đồng, kể cả chủ tịch;

(iv) Quan hệ giữa hiệu trưởng và các thành viên Hội đồng trường là quan hệ cộng sự, ngang hàng, hỗ trợ nhau, không phải trên dưới; (v) Quan hệ giữa Hội đồng trường và Ban Giám hiệu là quan hệ trên dưới.

- Hiệu trưởng với tư cách một cá nhân vừa là thành viên Hội đồng trường, vừa là người có nhiệm vụ thi hành các quyết nghị của Hội đồng trường, nên vị trí và nhiệm vụ của hiệu trưởng là:

(i) Là người đứng đầu bộ máy điều hành, có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt nhất mọi chính sách và kế hoạch tổng thể do Hội đồng trường đề ra, thể hiện qua các nghị quyết của Hội đồng;

Hoạt động của hiệu trưởng không phải là thực hiện những công việc cụ thể, mà là thiết kế công việc, tạo động lực thực hiện chiến lược do Hội đồng trường ban hành.

(ii) Là cầu nối giữa Hội đồng trường và các thành viên trong trường với cán bộ viên chức và người học;

(iii) chịu trách nhiệm giải trình trước Hội đồng trường về các hoạt động của nhà trường, đảm bảo thành tựu của các chính sách được đề ra và không vi phạm những giới hạn điều hành đã được quy định.

Trách nhiệm giải trình của hiệu trưởng là trách nhiệm của chức vụ người đứng đầu bộ máy quản lý, trong đó có trách nhiệm cá nhân.

Ở đây cần có sự tin tưởng lẫn nhau giữa bộ phận lãnh đạo, quản trị và bộ máy điều hành, quản lý.

Khi các bên hiểu rõ trách nhiệm của mình, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau thì quan hệ giữa các bên sẽ tốt đẹp và được tối ưu hóa, sức mạnh của các thiết chế này sẽ được cộng hưởng thành sức mạnh tổng hợp, mạnh mẽ và hiệu quả hơn rất nhiều so với từng thiết chế riêng rẽ.

- Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn diện và tuyết đối theo kiểu cũ thì không cần thiết có Hội đồng trường, vì sự lãnh đạo của Hội đồng trường sẽ chồng chéo với sự lãnh đạo của Đảng ủy.

Đảng lãnh đạo trường đại học dựa vào hệ thống giá trị mà Đảng theo đuổi chứ không phải dựa vào sự áp đặt bằng quyền lực. Hội đồng trường là một thực thể quyền lực.

Sự lãnh đạo của Đảng ủy sẽ hỗ trợ những quyết định đúng đắn của Hội đồng trường và ngăn chặn những quyết định không đúng đắn, do đó sẽ tạo sự đồng thuận trong nhà trường. 

Ví dụ, về công tác nhân sự, Đảng ủy chịu trách nhiệm qui hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt theo nguyên tắc động, mở và liên tục, và mỗi chức danh đều qui hoạch 2-3 người, một người có thể qui hoạch vào 2-3 chức danh khác nhau.

Hội đồng trường tổ chức giới thiệu và bầu các chức danh này tại hội nghị toàn thể cán bộ viên chức, hội nghị cán bộ chủ chốt mở rộng hay hội nghị cán bộ chủ chốt, tùy thuộc vào mức độ quan trọng của chức danh cần bầu và số lượng cán bộ viên chức của đơn vị;

Hội đồng trường giới thiệu và tổ chức bầu người nào trong danh sách qui hoạch đều đúng với chủ trương của Đảng, vì những người này đều đã được Đảng ủy qui hoạch vào chức danh lãnh đạo, quản lý ấy.

Sau khi có kết quả kiểm phiếu, Hội đồng trường tiến hành công tác bổ nhiệm cán bộ, hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc phê chuẩn kết quả bầu của Hội đồng trường, không cần phải lấy phiếu lại của Đảng ủy nữa.

Nghĩa là việc thông qua đề xuất nhân sự cấp trường (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, trưởng đơn vị trực thuộc) là nhiệm vụ của Hội đồng trường, miễn là các cán bộ viên chức được Hội đồng trường đưa ra làm qui trình bổ nhiệm phải là những người đã được Đảng ủy qui hoạch.

- Nhà nước giao quyền tự chủ cho nhà trường, nhưng đến lượt mình, rất cần cơ chế để buộc các trường cũng phải tiến hành giao quyền tự chủ cho các đơn vị trực thuộc, cho đội ngũ giảng viên và người học, tạo động lực cho phát huy sức mạnh dân chủ cơ sở, tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho các ý tưởng và hành động đổi mới và sáng tạo của đội ngũ Thày và Trò.

Hạn chế và đi đến chấm dứt tình trạng hiệu trưởng tiếp tục duy trì cơ chế tập quyền.  

3. Về cơ quan chủ quản

Chúng ta đang ở "thời kỳ chuyển tiếp" với gần như đầy đủ các thói quen và thể chế cũ của thời kế hoạch hóa tập trung vẫn còn tồn tại và giằng co với các phong cách và thể chế mới.

Trong giáo dục đại học, một trong những thể chế và thói quen cũ tạo lực cản rất lớn đối với việc thực hiện các thể chế và phong cách quản lý mới chính là cơ chế "bộ chủ quản" và "trường trực thuộc".

Việc vẫn tồn tại cơ chế "bộ chủ quản" kiểu cũ (can thiệp sâu vào các hoạt động của nhà trường) và vẫn phải "xin phép" Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác chuyên môn (giảng dạy, tuyển sinh, mở ngành, liên kết đào tạo, v.v…).

Nghĩa là nhà nước vẫn thừa nhận sự tồn tại song hành, mà thực chất là đóng vai trò quyết định, của cơ chế kiểu tập quyền (hierarchical).

Chính điều này làm cho các Hội đồng trường hoạt động rất khó khăn, mang tính hình thức và trên thực tế chỉ là một tổ tư vấn, mất chức năng của một tổ chức quyền lực.

Đã đến lúc phải giải phóng các trường khỏi cơ chế "bộ chủ quản" cũ và cơ chế "xin phép" Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác chuyên môn.

Hội đồng trường chỉ mạnh và phát huy tác dụng tốt nhất khi không bị ràng buộc hay sự chỉ đạo của một "cấp trên" nào.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khoá XII về "Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập" đã có chủ trương: phải dần bỏ cơ chế cơ quan chủ quản đối với các trường đại học.

Ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển Hội đồng trường, Nhà nước (cơ quan chủ quản) đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo thêm cơ chế và môi trường cho Hội đồng trường hoạt động đúng với chức năng, quyền hạn của mình.

Muốn nâng cao vai trò của Hội đồng trường không thể chỉ phó mặc cho các trường mà cần có sự chỉ đạo của nhà nước (cụ thể là bộ chủ quản và Bộ Giáo dục và Đào tạo) và sự ủng hộ của xã hội.

Chỉ khi Hội đồng trường hoạt động tốt thì khi đó mới có thể  xoá bỏ cơ chế bộ chủ quản; lúc đó các trường đại học công lập Việt Nam sẽ bước sang một trang mới trong quá trình phát triển và hội nhập:

Trường đại học trở thành pháp nhân độc lập, hoạt động theo quy định của pháp luật, tự chủ và chịu trách nhiệm giải trình về các hoạt động của mình, có khả năng đáp ứng linh hoạt yêu cầu của thị trường lao động. 

Tự chủ đại học đồng nghĩa với việc không còn khái niệm "cơ quan chủ quản", đúng là như thế;

Nhưng tương tự như giao quyền tự chủ, việc xóa bỏ cơ chế cơ quan chủ quản cũng cần có lộ trình, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước, của từng ngành nghề và năng lực của từng cơ sở giáo dục, không nên và không thể xóa bỏ cơ chế cơ quan chủ quản đồng loạt.

Vì vậy, cần phải làm rõ mối quan hệ giữa Hội đồng trường và cơ quan chủ quản và Bộ Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn chuyển tiếp và giai đoạn xoá bỏ cơ chế cơ quan chủ quản.

Nếu áp dụng ngay việc bỏ cơ chế chủ quản và trao quyền quản trị và lãnh đạo trường đại học cho Hội đồng trường trong khi đa số các Hội đồng trường đều mới thành lập, vừa non vừa yếu, sẽ rất dễ hình thành nhóm lợi ích kiểm soát hoạt động của nhà trường, trong đó vai trò đứng đầu thuộc về hiệu trưởng.

Hơn nữa, khái niệm "chủ quản" ở đây cũng đã đến lúc hiểu không giống với khái niệm chủ quản trong cơ chế tập trung quan liêu thời bao cấp nữa, khi nhận thức của con người, trong đó có nhiều vị Bộ trưởng cũng đã thay đổi.

Tôi xin dẫn ra đây minh chứng về cách thể hiện sự "chủ quản" của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đối với Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Học viện).

Học viện có bộ chủ quản nhưng trên thực tế, Học viện đã được giải phóng ra khỏi cơ chế bộ chủ quản (kiểu cũ):

Bộ trưởng cho thành lập Hội đồng trường trước và ra quyết định phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng trường.

Sau khi có Quyết định phê chuẩn thành viên Hội đồng trường, Hội đồng trường tiến hành bầu chủ tịch, chủ tịch giới thiệu Thư ký Hội đồng; và Bộ trưởng ra Quyết định phê chuẩn kết quả bầu chủ tịch Hội đồng trường của Hội đồng Học viện, giao Hội đồng Học viện tổ chức giới thiệu và bầu hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, Trưởng khoa, Trưởng Ban, với điều kiên những người này phải có trong danh sách qui hoạch đã được Đảng ủy thông qua.

Sau khi có kết quả bầu, Bộ trưởng ban hành Quyết định Phê chuẩn kết quả bầu hiệu trưởng của Hội đồng Học viện; các chức danh từ phó hiệu trưởng trở xuống giao Hội đồng Học viện bổ nhiệm.

Bộ trưởng cũng giao quyền cho Học viên phê chuẩn Chiến lược phát triển và Kế họach hành động, Qui chế tổ chức và hoạt động, giao tự chủ hoàn toàn về công tác tổ chức và nhân sự, trong đó qui định tập thể lãnh đạo trường gồm Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng trường và Ban Giám hiệu.  

Về tài chinh, mặc dù gặp không ít phản đối vì không ít người cho rằng các quyết định của Bộ trưởng đi ngược lại với tinh thần Nghị quyết 77 của Chính phủ, Bộ trưởng vẫn khẳng định:

Tự chủ đại học không đồng nghĩa với tự chủ tài chính, mà cần phải đầu tư nhiều hơn theo cơ chế đặt hàng và giao việc trên cơ sở KPIs mà Học viện cam kết, tạo sức bật cho Học viện phát triển.

Vì vậy, Bộ trưởng đã phê duyệt kế hoạch đầu tư trung hạn, hỗ trợ mạnh mẽ sự phát triển của Học viện qua các dự án nâng cấp về cơ sở vật chất và hạ tầng theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn hàng trăm tỷ đồng, hướng theo mô hình các trường đại học nghiên cứu danh tiếng trong khu vực và trên thế giới.

Bộ trưởng luôn nhắc nhở Học viện phải quốc tế hóa trong giáo dục và đào tạo, trong khoa học và công nghệ càng sớm càng tốt, càng sâu rộng càng tốt.

Hàng năm, ông đều về thăm và làm việc với Học viện ít nhất 2-3 lần, để lắng nghe, đối thoại và giao nhiệm vụ cho Học viện thực hiện các nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo phục vụ các nhiệm vụ chính trị của ngành, ông luôn đồng hành và hỗ trợ từng bước đi của Học viện.

Như vậy, cách quản lý của Bộ chủ quản ở đây là: Bộ chủ quản chỉ làm các việc (i) Về tổ chức và nhân sự: chỉ phê chuẩn kết quả bầu chủ tịch Hội đồng trường và hiệu trưởng;

Ủy quyền cho Hội đồng trường tổ chức bầu hoặc thi tuyển và bổ nhiệm các chức danh phó hiệu trưởng và các cán bộ lãnh đạo chủ chốt khác;

Giao cơ sở giáo dục toàn quyền trong việc thành lập mới, giải thể, sáp nhập đơn vị trực thuộc;

Tuyển dụng, xác định vị trí việc làm, định biên, chấm dứt hợp đồng, thi đua khen thưởng kỷ luật, lên lương, hạ lương, xây dựng quy chế hoạt động của Hội đồng trường, v.v...;

(ii) Xây dựng chính sách hỗ trợ, kể cả hỗ trợ về tài chính và đầu tư, để các trường phát huy cao nhất quyền làm chủ, lợi thế so sánh và các nguồn lực của họ trong việc thực hiện các nhiệm vụ chinh trị với hiệu suất và hiệu quả cao nhất;

Và (iii) Không can thiệp vào các công việc và các hoạt động thường ngày của cơ sở giáo dục, thay kiểm soát "đầu vào" bằng giám sát kết quả "đầu ra" của cơ sở giáo dục. 

Cách làm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoàn toàn tương tự như bỏ bộ chủ quản mà vẫn có bộ chủ quản; nhà trường hoàn toàn thoát ra khỏi cơ chế quan liêu, hành chính nặng nề của cơ chế chủ quản cũ.

Cán bộ viên chức nhà trường thấy là, có bộ chủ quản như vậy thì cơ sở giáo dục có tự do hơn nhiều so với bỏ bộ chủ quản!

4. Kiện toàn Hội đồng trường

Để vị trí và vai trò theo luật định của Hội đồng trường sớm trở thành hiện thực, cần:

4.1. Về tổ chức và thể chế

- Hội đồng trường là tổ chức đại diện cho chủ sở hữu cộng đồng, trong đó có nhà nước; vì thế có thể coi Hội đồng trường là tổ chức thay mặt nhà nước và các chủ thể cộng đồng khác quản trị trực tiếp trường đại học;

Vì thế, để tiến tới xóa bỏ cơ chế "bộ chủ quản" theo mô hình quản trị đại học của các nước tiên tiến, thì ngay bây giờ đề nghị Chính phủ cho áp dụng Điều 7 và Điều 8 của Thông tư số 03/2016/TT-BNV ngày 25 tháng 05 năm 2016 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về thành lập và hoạt động của hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể:

Hội đồng trường là đại diện của nhà nước (Bộ chủ quản, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) tại cơ sở giáo dục công lập.

Thay vì hiệu trưởng phải báo cáo, xin ý kiến Bộ chủ quản và Bộ Giáo dục và Đào tạo thì nay hiệu trưởng chỉ cần báo cáo và xin ý kiến Hội đồng trường về các lĩnh vực công tác được Nhà nước giao quyền hoặc được ủy quyền.

Nhà nước cần qui định rõ "chỉ giới đường đỏ": những hạng mục công việc nào hiệu trưởng chỉ cần báo cáo, xin ý kiến Hội đồng trường; những hạng mục công việc nào hiệu trưởng nhất thiết phải báo cáo, xin ý kiến Bộ chủ quản, Bộ Giáo dục và Đào tạo...

- Hội đồng trường phải bảo đảm quyền đại diện của tập thể, chứ không phải là bộ máy quản lý hành chính mở rộng của hiệu trưởng, nên có trách nhiệm mở rộng quyền làm chủ thực sự đến từng khoa, bộ môn, giáo viên...

Bộ máy hành chính của nhà trường phải phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu theo tinh thần ngày càng nâng cao vai trò của đội ngũ giảng viên, của bộ môn, của các khoa và các phòng, ban khác.

- Nhà nước cần quy định rõ chức năng nhiệm vụ của Hội đồng trường (xây dựng chiến lược định hướng phát triển trường; bổ nhiệm/tuyển dụng hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, và các chức danh chủ chốt, phù hợp với nghị quyết của Đảng ủy về công tác qui hoạch cán bộ; công tác tài chính; giám sát việc tổ chức thực hiện chiến lược của Ban Giám hiệu, v.v… ) sao cho Hội đồng trường thực sự là cơ quan quyền lực cao nhất của trường đại học (nên chăng, Hội đồng trường trường công lập cũng nên có nhiều quyền như Hội đồng quản trị các trường tư thục hay của các doanh nghiệp?), thực thi các chức năng về quản trị đại học một cách có hiệu quả nhất; trong đó làm rõ mối quan hệ giữa Đảng ủy - Hội đồng trường - Ban Giám hiệu, cũng như trách nhiệm của Hội đồng trường với cơ quan quản lý nhà nước, với nhà trường, đảm bảo tính thống nhất và khả năng hợp tác giữa Đảng ủy- Hội đồng trường-Ban Giám hiệu.

Trên cơ sở sự vững mạnh của Hội đồng trường, từng bước giảm sự can thiệp và tiến tới xoá bỏ chế độ chủ quản cũng như cơ chế "cấp phép" về công tác chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Để hoàn thành các nhiệm vụ, Hội đồng trường không thể làm việc hời hợt kiểu mỗi năm họp vài ba lần.

Trên thực tế, nếu làm tròn vai trò và trách nhiệm, khối lượng công việc của Hội đồng trường rất lớn, nhưng lại không thể triệu tập họp thường xuyên tất cả các thành viên nhiều lần/năm.

Từ thực tiễn của một số cơ sở giáo dục, nên cho phép thành lập Thường trực Hội đồng trường, để thực hiện các nhiệm vụ của Hội đồng giữa các kỳ họp.  

- Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ chủ quản, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ...) ở rất "xa", làm sao có thể biết những việc này cụ thể, sâu sát, rõ ràng như cơ sở giáo dục, nên cơ quan quản lý nhà nước cứ đòi giữ quyền "duyệt" với "phê chuẩn" là không phù hợp, hãy để cơ sở giáo dục tự chịu trách nhiệm về các quyết định của họ.

Nhà nước cần dứt khoát thay kiểm soát "đầu vào" nặng tính xin cho hiện nay bằng cơ chế giám sát kết quả "đầu ra" của cơ sở giáo dục theo các chỉ số đầu ra (KPIs) mà cơ sở giáo dục đã cam kết.

KPIs thường được chia thành 4 nhóm là: (i) Thành tựu KHCN (ii) Chất lượng đào  (iii) Mức độ quốc tế hóa (iv) Cơ sở vật chất và thu nhập của cán bộ viên chức.

Việc giám sát này nên được giao cho một cơ quan, tổ chức độc lập tiến hành, đó không phải là công việc quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 

4.2. Về nhân sự

- Trường đại học là môt tổ chức học thuật, có đặc thù riêng, không thể và không nên lấy các tiêu chuẩn và thước đo của các cơ quan hành chính nhà nước "áp" vào công tác nhân sự ở đây.

Vì vậy, trong quá trình lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ, lấy hiệu lực quản lý, hiệu quả công tác, năng suất lao động làm thước đo quyết định, các tiêu chuẩn hiện hành khác về bằng cấp, trình độ, tuổi tác, nhiệm kỳ, v.v.. chỉ nên được xem là các tiêu chí tham khảo quan trọng.

- Cần có quy định tiêu chuẩn, điều kiện, trách nhiệm, nghĩa vụ của các thành viên Hội đồng trường, bãi bỏ tư cách công chức ở các trường đại học tự chủ, bãi bỏ quy định tuổi của chủ tịch Hội đồng trường và hiệu trưởng, nhưng họ cũng không được làm quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp.

- Hội đồng trường ở các nước chủ yếu là những người bên ngoài trường có kiến thức, có uy tín xã hội, có kinh nghiệm hoạt động xã hội, có tiền bạc và thiện tâm, họ là những người có tầm hiểu biết rộng, đóng góp hữu hiệu về kiến thức, mối quan hệ và cả tiền bạc khi tham gia hoạch định chính sách, đường hướng cho sự phát triển của nhà trường.

Còn ở Việt Nam, các thành viên Hội đồng trường thường là người trong trường, còn các thành viên bên ngoài, nếu có, cũng nặng về quan hệ "chiến hữu", chứ không phải để phản biện thực sự.

Thực tế cho thấy, các thành viên ngoài trường có đóng góp rất ít cho sự phát triển của nhà trường.

Do đó Hội đồng trường không thể có tầm bao quát rộng lớn. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, ta vẫn chưa thể áp dụng như "Tây" được, nên Hội đồng trường vẫn bao gồm các đại diện thành viên trong trường là chủ yếu (Đảng ủy, Ban giám hiệu, Công đoàn, Thanh niên, giảng viên…) và các thành viên ngoài trường (đại diện của cơ quan quản lý, các cựu lãnh đạo nhà nước có uy tín, các nhà giáo dục, nhà khoa học, nhà văn hóa nổi tiếng, các doanh nhân tiêu biểu, các cựu sinh viên thành đạt,…), các thanh viên ngoài trường này chưa nên chiếm quá 1/3 số thành viên Hội đồng trường;

Tuy nhiên, để bảo đảm tính khách quan của các quyết nghị của Hội đồng trường (không bị chi phối bởi các lợi ích cục bộ) thành phần ngoài trường từng bước phải chiếm đa số.

Các thành viên đương nhiên của Hội đồng trường nên bổ sung những người đại diện cho các nhóm lĩnh vực đào tạo, các giáo sư đầu ngành, những người có nhiều thành tích và kinh nghiệm quản lý cũng như có những đóng góp nổi trội về chuyên môn, để Hội đồng trường có năng lực dẫn dắt sự phát triển của nhà trường.

Cũng có thể cứ sau nửa nhiệm kỳ thì bầu lại một tỷ lệ thành viên nào đó (25-30% chẳng hạn) để đảm bảo tính đổi mới, kế thừa và hiệu quả hoạt động của Hội đồng trường; chủ tịch vẫn nên là người trong trường.

- Hội đồng trường là cơ quan quyền lực, không phải cơ quan thực hiện, nên sinh viên cũng không nhất thiết phải tham gia, vì ý kiến của sinh viên có thể chưa đủ chín chắn, dễ dẫn tới sự có mặt thành phần này mang tính hình thức. 

- Khi Hội đồng trường là một chủ thể thực sự có quyền lực thì chủ tịch Hội đồng trường phải là những nhân vật tầm cỡ, là nhân vật lãnh đạo số 1 của nhà trường chứ không phải bầu lên để trang trí như hiện nay. 

Vì vậy, Chủ tịch Hội đồng trường phải là người có "tầm cỡ" cao hơn hiệu trưởng, có uy tín cao với tập thể giáo viên, có uy tín cao với xã hội, có tầm nhìn chiến lược, am hiểu về cơ sở giáo dục, được hiệu trưởng nể trọng và tin tưởng, vừa giỏi chuyên môn vừa dày dạn kinh nghiệm quản lý hơn hiệu trưởng, có tính cách mạnh mẽ, có phẩm chất thẳng thắn và trung thực.

Ví dụ, ngoài các qui định theo các văn bản pháp qui hiện hành, tiêu chuẩn chủ tịch Hội đồng trường của một trường đại học "thí điểm" tự chủ còn bổ sung thêm một số tiêu chuẩn sau:

(i) Đã từng là giáo sư thỉnh giảng (visiting professor) ít nhất 1 học kỳ (semester) hoặc nghiên cứu viên cao cấp (Senior Research Fellow) của một trung tâm nghiên cứu từ 6 tháng trở lên của một trong những trường đại học thuộc top 100 trên thế giới theo xếp loại của THE hay QS;

(ii) Vào năm được giới thiệu hay năm liền kề trước đó của năm được giới thiệu có chỉ số H (Hirsch Index) tối thiểu phải đạt 20, và có công bố quốc tế trên ISI và tương đương ít nhất gấp 2 lần hiệu trưởng.

Vì yêu cầu tiêu chuẩn và điều kiện chủ tịch Hội đồng trường cao hơn hiệu trưởng, nhất là uy tín và kinh nghiệm quản lý, nên cơ sở giáo dục này cũng cho phép tuổi của chủ tịch được tính như tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Nghị định số 141/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ, và đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý bằng văn bản.

- Bộ chủ quản xem xét và phê chuẩn kết quả bầu 2 chức danh là chủ tịch Hội đồng trường và hiệu trưởng; các chức danh quản lý, lãnh đạo còn lại giao cơ sở giáo dục thực hiện giới thiệu, bầu và bổ nhiệm theo qui trình công khai, rõ ràng, được Hội đồng trường thông qua (như cách làm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn giao quyền cho Học viện Nông nghiệp Việt Nam).

- Nhà nước giao cơ sở giáo dục xem xét việc bổ nhiệm lại, cho kéo dài thời gian giữ chức vụ lãnh đạo quản lý, bổ nhiệm người quá tuổi lao động theo qui định vào các vị trí lãnh đạo, quản lý; hợp đồng làm việc với các chuyên gia trong và ngoài nước, trong và quá tuổi lao động, tùy thuộc vào hiệu lực quản lý, hiệu quả quản trị, hiệu suất công tác của đối tượng xem xét bổ nhiệm, ký hợp đồng.  

4.3. Có nên kiêm nhiệm các chức vụ Bí thư, Chủ tịch Hội đồng trường và hiệu trưởng?

Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay, đang tồn tại một thực tế: Có cơ sở giáo dục 3 vị trí lãnh đạo, quản lý chủ chốt là Bí thư, Chủ tịch Hội đồng trường, hiệu trưởng do 3 người nắm giữ, có trường Bí thư kiêm hiệu trưởng, có trường Bí thư kiêm Chủ tịch, có trường một người làm luôn cả 3 chức vụ. 

Thực tế cho thấy, chủ tịch Hội đồng trường cũng là hiệu trưởng khiến quyền lực của hiệu trưởng càng lớn và dễ dẫn đến tình trạng thiếu dân chủ và "vừa đá bóng vừa thổi còi", cac quyết nghị của Hội đồng mang tính cá nhân nhiều hơn; hiệu trưởng vẫn có thể tha hồ "tự tung tự tác" mà không vấp phải một "phản biện" nào, một sự "cân đối quyền lực" nào.

Ở những cơ sở giáo dục này chỉ có dân chủ hình thức, khó hạn chế được những sai lầm khi quyền lực tập trung vào một người.

Còn nếu một người kiêm nhiệm luôn cả 3 chức vụ thì tốt nhất là bỏ luôn thiết chế Hội đồng trường, sự tồn tại Hội đồng trường ở đây chỉ là minh họa cho một thứ dân chủ không có thật. 

Bí thư cấp ủy cũng không nên kiêm chủ tịch Hội đồng trường, vì Đảng ủy đại diện cho tổ chức Đảng trong trường, còn Hội đồng trường là đại diện của chủ sở hữu cộng đồng thuộc phạm vi rộng lớn hơn bên ngoài nhà trường; và như vậy, mô hình Bí thư kiêm chủ tịch Hội đồng trường sẽ làm mất đi tính đại diện cộng đồng của Hội đồng trường.

Hơn nữa Hội đồng trường là cơ quan quyền lực, lãnh đạo cụ thể, Hội đồng trường của một trường cũng đóng vai trò  như quốc hội của một nước, còn Đảng ủy là cơ quan lãnh đạo về chính trị tư tưởng.

Vì vậy, nếu Bí thư kiêm chủ tịch Hội đồng, thì các quyết nghị của Hội đồng cũng sẽ mang tính cục bộ vì quyền lợi của cơ sở giáo dục nhiều hơn, rất khó tránh khỏi thiên vị, sẽ làm cho tính độc lập của Hội đồng trường với Đảng ủy giảm đi và do đó, tính "tự chủ” cũng sẽ bị suy giảm, và thậm chí là bị triệt tiêu.

Mặt khác, như đã đề cập ở trên, Bí thư cũng thường vốn chỉ là một phó hiệu trưởng, do hiệu trưởng lựa chọn và "giới thiệu" ra đại hội đảng bộ để bầu, nên trên thực tế Bí thư có thể cũng chỉ là cái bóng của hiệu trưởng.

Nên nhớ là, Bí thư các trường đại học ở Trung Quốc là nhân vật do cấp ủy cấp trên phái cử về, và là người có quyền lực cao nhất, tương tự như Bí thư cấp ủy của các cơ quan quản lý nhà nước hay cơ quan hành chính của ta, điều này khác hoàn toàn với Bí thư cấp ủy trong các trường đại học Việt Nam, họ chỉ là nhân vật có quyền lực đứng thứ 2 sau hiệu trưởng.

Chủ tịch Hội đồng và hiệu trưởng kiêm Bí thư hay không kiêm thì để cơ sở giáo dục chủ động lựa chọn cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục, vì mỗi cơ sở giáo dục có đặc thù khác nhau, vấn đề là cơ sở giáo dục ấy là một tập thể đoàn kết, vững mạnh, phát triển, được quản lý tốt, đào tạo và nghiên cứu khoa học có chất lượng, đáp ứng nhu cầu xã hội.

4.4. Nhiệm vụ trung tâm của Hội đồng trường 

- Xây dựng chiến lược và định hướng phát triển; trong đó có việc phê chuẩn Bộ qui chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục, giống như "bộ quy tắc ứng xử" hay "bộ luật" của trường;

Trong đó quy định rõ quy trình thành lập mới, chia tách, sáp nhập, giải thể một tổ chức, qui trình tuyển người, tiêu chuẩn và điều kiện của cán bộ chủ chốt, phân bổ thu nhập, tăng nguồn thu, cân đối tài chính, đầu tư cơ bản, đánh giá thi đua, khen thưởng, v.v...

Bộ quy tắc đó phải được xây dựng, thông qua tập thể cán bộ, giảng viên nhà trường, Hội đồng trường lấy đó làm căn cứ để thực hiện giám sát nội bộ, giải trình trách nhiệm với xã hội.

- Một trong các khía cạnh dân chủ (và tự chủ) trong xã hội nói chung và trong giáo dục đại học nói riêng chính là cách thức bổ nhiệm (và miễn nhiệm) người đứng đầu.

Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của Hội đồng trường là lựa chọn/tuyển dụng được hiệu trưởng, đó là người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để trở thành CEO (Chief Executive Officer) đứng đầu bộ máy điều hành nhà trường;

Và Hội đồng trường cũng là tổ chức có thẩm quyền miễn nhiệm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và các chức danh lãnh đạo, quản lý khác nếu họ không hoàn thanh nhiệm vụ, dựa trên việc đánh giá những quyết định mà hiệu trưởng đưa ra có phù hợp với nỗ lực của nhà trường trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu hay không và hiệu quả (outputs và outcomes) của các quyết định ấy.

- Để có thể giám sát, đánh giá và hỗ trợ hoạt động điều hành thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, các quyết nghị của Hội đồng trường của bộ máy điều hành (Ban Giám hiệu), Hội đồng trường có nhiệm vụ xây dựng cơ chế kiểm soát và giám sát cũng như xử lý (nếu có sai phạm) các hoạt động độc lập, tự chủ, thực hiện trách nhiệm của các đơn vị và cá nhân trong nhà trường.

Để tạo môi trường trong sáng và lành mạnh, người ta thường dùng các chỉ số KPIs để đánh giá một tổ chức, một con người, một sự kiện, khắc phục hạn chế của việc dựa vào phiếu bầu, thực ra là "phiếu vừa lòng".

Chúng ta đã mất bao nhiêu mồ hôi nước mắt mới bỏ được "chế độ tem" vào năm 1985, khi Nhà nước thi hành chính sách "giá lương tiền", bây giờ đã đến lúc không nên nhìn người nhìn vật quá thiên theo lăng kính "chế độ phiếu" nữa!

Để cơ chế giám sát của Hội đồng trường thành hiện thực, Hội đồng trường cần có bộ máy hoạt động riêng, do Hội đồng trả lương và phụ cấp, độc lập tương đối với Ban Giám hiệu, trước hết là bộ phận có nhiệm vụ giám sát các hoạt động của nhà trường, trong đó có đủ năng lực về giám sát tính hợp pháp và hợp qui các quyết định của hiệu trưởng, và khả năng kiểm toán độc lập các hoạt động tài chính của nhà trường.

4.5. Trách nhiệm

Để Hội đồng trường thực hiện đúng chức năng và vai trò theo luật định, cần trao thực quyền cho họ, nhưng quyền cũng đi liền với trách nhiệm; nghĩa là cùng với hiệu trưởng, Hội đồng trường (mà đại diện là vị chủ tịch) cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhà nước, trước xã hội, trước cán bộ viên chức và người học về tất cả các lĩnh vực hoạt động của cơ sở giáo dục.

Theo qui định hiện hành, mọi "tội", nếu có, đều đổ lên đầu hiệu trưởng, nên hiệu trưởng có nhiều quyền cũng là lẽ đương nhiên, bao nhiêu thành tích hiệu trưởng hưởng hết cũng là lẽ đương nhiên.

Chủ tịch Hội đồng trường không có thực quyền gì, nên họ không chịu trách nhiệm cụ thể nào. Những bất cập này cần phải được thay đổi.

Có lẽ, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thực trạng đáng tiếc là trong khi nỗ lực đòi hỏi được tự do (tự chủ) nhiều hơn trong việc ra quyết định, thì nhiều trường đại học lại không có hành động tương thích trong trách nhiệm giải trình, họ tỏ ra miễn cưỡng, hình thức trong việc minh bạch hóa các thông tin về tài chính, đào tạo và việc làm;

Đồng thời họ cũng không phải chịu trách nhiệm về điều kiện đào tạo kém, chất lượng đào tạo yếu, khả năng tìm việc làm và hòa nhập thị trường lao động thấp của sinh viên trường mình.

Nhưng trong tuyển sinh, hầu hết các trường đều có khuynh hướng chủ động (tự chủ) hạ thấp yêu cầu, lấy cho đủ chỉ tiêu, thậm chí sẵn sàng vượt chỉ tiêu để thu được nhiều học phí.

Quá trình đào tạo hầu như không sàng lọc, người học đã vào được trường thì sẽ tốt nghiệp, chủ yếu cũng để tránh giảm thu của trường.

Sinh viên ra trường thất nghiệp được coi là vấn đề của xã hội, không gắn với trách nhiệm của nhà trường.

Chất lượng đội ngũ yếu, xu hướng đào tạo chạy theo số lượng phục vụ lợi ích kinh tế và trách nhiệm giải trình thấp là những hạn chế lớn của các trường đại học, một mặt khiến nhà nước ngại ngần trong việc trao quyền tự chủ đầy đủ cho các trường;

Đồng thời, điều đó còn làm cho xu hướng thương mại hóa giáo dục phát triển, trong khi chất lượng nguồn nhân lực đào tạo ra ngày càng thấp.

Hội đồng trường cùng với Ban Giám hiệu phải chịu trách nhiệm toàn diện về các hoạt động của nhà trường, tăng cường vai trò giám sát của Hội đồng trường đối với hoạt động của Ban Giám hiệu, và Hội đồng trường chịu trách nhiệm giải trình tường minh với người học, với cán bộ viên chức, với nhà nước và với xã hội.

Chỉ có như thế mới mong có được tự chủ thực sự. Nếu thiếu vắng vai trò giám sát của Hội đồng trường, các hiệu trưởng sẽ tiếp tục điều hành dạy, học và giải trình như hiện nay.

4.6. Cơ chế hoạt động

- Trong bối cảnh hiện nay, khi Hội đồng trường là chủ sở hữu cộng đồng, muốn mô hình Hội đồng trường hoạt động hiệu quả, cần cho phép Hội đồng trường hoạt động như một hội đồng quản trị, và trên thực tế trường Đại học tự chủ đang hoạt động như một đơn vị sự nghiệp có thu, thì Hội đồng trường cũng phải điều hành các hoạt động tài chính của nhà trường như một công ty (thực hiện quản lý, kế toán theo mô hình doanh nghiệp), nhưng không can thiệp vào chi tiết, chỉ đưa ra định hướng, ràng buộc để nhà trường tuân thủ.

Nếu vận dụng cách quản lý theo mô hình doanh nghiệp, thì thành viên Hội đồng trường phải là những người không dính đến các hoạt động thường ngày của nhà trường (không phải cán bộ quản lý nhà trường, dưới quyền hiệu trưởng, thậm chí hiệu trưởng tham gia Hội đồng trường nhưng không được bỏ phiếu).

Trong điều kiện ấy, Nhà nước vẫn giám sát và điều chỉnh được hoạt động của Hội đồng trường nhưng không cần phải can thiệp quá sâu vào hoạt động của nhà trường, vì trong số các thành viên của Hội đồng trường luôn có người đại diện của Nhà nước. 

- Mối quan hệ giữa Hội đồng trường và Ban Giám hiệu phải tương đối độc lập, tăng cường vai trò của Hội đồng trường, nhưng Hội đồng trường không phải là bộ chủ quản thu nhỏ, quản lý Ban Giám hiệu, làm ảnh hưởng đến hoạt động của Ban Giám hiệu, mà chỉ làm nhiệm vụ xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, kế hoạch phát triển tổng thể, giám sát và hỗ trợ Ban Giám hiệu hoàn thanh tốt nhất chức năng và nhiệm vụ của họ.

4. THAY CHO LỜI KẾT

Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới, có thể thấy, tự chủ đại học là xu hướng tất yếu, không thể đảo ngược.

Với Việt Nam, người ta tin là, tự chủ đại học là một động lực, là chìa khóa thành công của quá trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế của nước nhà.

Vấn đề còn lại là hình thành khung pháp lý, thiết kế mối quan hệ giữa nhà nước và nhà trường, xây dựng và thực hành các quy chế quản trị nội bộ của trường đại học, thiết kế qui tắc giám sát của nhà nước và của xã hội, trách nhiệm giải trình hai chiều, ... đó là các yếu tố quyết định sự thành bại của quá trinh tự chủ đại học.

Chỉ có tự chủ mới giúp cho các nhà trường phát huy tối đa các lợi thế, các nguồn lực (rõ nhất ở các trường thí điểm tự chủ ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại là tiết kiệm chi tối đa và giảm biên chế tối đa) để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của xã hội và lợi ích của chính cơ sở giáo dục với hiệu quả cao nhất.

Vì các cơ sở giáo dục nhờ tự chủ mà có không gian phát triển rộng mở hơn, khơi dậy những sáng tạo, đổi mới hơn của từng cán bộ, giảng viên, sinh viên, để giáo dục đại học Việt Nam trở thành một phần bình đẳng của giáo dục đại học thế giới.

Bởi vì, nếu chỉ học theo cách cũ, làm theo cách cũ, trong thời đại 4.0, chúng ta sẽ mãi đi sau và bị bỏ lại phía sau rất nhanh.

Trong một thế giới phẳng, tự chủ cùng với cơ chế thị trường sẽ sàng lọc và loại bỏ những giả dối, trả lại các giá trị thật cho các trường đại học.  

Xây dựng Đại học tự chủ hoàn toàn là hình thức chuyển biến cả về chất và lượng trong mối quan hệ giữa Chính phủ với cơ sở giáo dục đại học và thay đổi mối quan hệ bên trong từng cơ sở giáo dục, thông qua việc Chính phủ hỗ trợ và cho phép các trường đại học thay đổi hoàn toàn hệ thống cấu trúc và quản trị đại học.

Trên cơ sở đó đại học tự chủ có thể tự quyết và chịu trách nhiệm giải trình về hầu hết các vấn đề liên quan đến sự phát triển của cơ sở giáo dục;

Và Nhà nước, xã hội giám sát các hoạt động và sự vận hành của cơ sở giáo dục qua các chỉ số KPIs mà cơ sở giáo dục đã cam kết.

Trường đại học chỉ tự chủ thực sự khi quyền quyết định chuyên môn thuộc về đại học, quyền quyết định nhân sự-tài chính thuộc về Hội đồng trường với sự giám sát của vị đại diện vốn nhà nước nằm trong Hội đồng trường. 

Mục đích cuối cùng mà đại học Việt Nam hướng tới là tự trị đại học; khi ấy Đại học tự trị chỉ cam kết 3 vấn đề: không vi phạm hình sự, không tham nhũng, bảo đảm hoạt động của nhà trường hiệu quả, minh bạch và bền vững.

Một khi đại học cam kết và làm đúng như vậy, không một cơ quan nhà nước hay cá nhân nào can thiệp vào các hoạt động của Nhà trường.

Tự chủ là một quá trình đầy thử thách và cơ hội, cần những con người dũng cảm, có tinh thần sáng tạo, dám dấn thân vì khát vọng đổi mới, thực tâm thực lòng với công cuộc đổi mới; đó là những con người dám nghĩ, dám làm và biết làm, và có thể làm được những việc lớn.

Để đảm bảo qúa trình tự chủ đại học thắng lợi, các cơ quan quản lý nhà nước cần tôn trọng quyền tự chủ của các trường, đồng hành cùng các trường, thông qua ban hành các văn bản pháp lý, các hướng dẫn mang tính mở đường, kiến tạo, hỗ trợ và đó chính là cách tốt nhất để các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thành nhiệm vụ của họ trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục đại học của chúng ta.

Trần Đức Viên (Học viện Nông nghiệp Việt Nam)
Từ khóa :
tự chủ đại học , đại học công lập , hội đồng trường , quyền tự chủ , lạm quyền , độc đoán
Hội đồng trường ở Đại học công lập: Nhu cầu tự thân hay dân chủ hình thức?
Bình luận
Xem thêm bình luận
Tin khác