EMagazine

Đào tạo nhân lực số và thu hút nhân tài cần chuyển từ “chứng chỉ” sang “thực chiến”
bai-tet-14.png

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hoàng Sơn - Phó Viện trưởng kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu tiên tiến quốc tế về trí tuệ nhân tạo ứng dụng, Viện Công nghệ thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhìn nhận: “Thế giới đang chứng kiến một “cuộc đại cách mạng” lớn trên thị trường lao động. Dưới tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) và các nghị quyết mới về chuyển đổi số, thị trường lao động năm 2026 không còn ở trạng thái “thích nghi” mà đã chuyển sang trạng thái “tái cấu trúc toàn diện”. AI không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một thành tố cộng tác trong quy trình làm việc.

Tác động của AI đã tạo biến động mạnh mẽ lên thị trường lao động và làm thay đổi nhu cầu nhân lực số từ “số lượng” sang “chất lượng cao và liên ngành”.

Đầu tiên đó là sự dịch chuyển từ “Kỹ năng cứng” sang “Năng lực cộng tác AI”. Nếu như trước đây, kỹ năng lập trình phần mềm là thế mạnh cho sinh viên ra trường đảm bảo có việc làm tại các doanh nghiệp; thì ngày nay thành thạo AI (như Copilot, ChatGPT-5) là yêu cầu bắt buộc. Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, nhu cầu tuyển dụng lập trình viên sơ cấp (Junior) giảm mạnh (ước tính khoảng 60% nhân sự hiện tại), thay vào đó là “cơn khát” các Kỹ sư Prompt và Chuyên gia tích hợp hệ thống AI - những người có khả năng sử dụng thành thạo AI để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.

Bên cạnh đó là sự trỗi dậy của lao động tự do và làm việc từ xa (Gig Economy 2.0). Công nghệ số cho phép thị trường lao động trở nên “không biên giới”. Các doanh nghiệp năm 2026 ưu tiên tuyển dụng theo dự án thông qua các nền tảng số hóa quản trị, nơi AI đóng vai trò khớp nối năng lực ứng viên với yêu cầu công việc.

Khi đó, áp lực đào tạo lại (reskilling) và nâng cao kỹ năng (upskilling) tại các cơ sở giáo dục đại học lớn, nhất là đào tạo AI theo các chuyên ngành như y tế và giáo dục càng trở nên cấp thiết. Các bác sĩ hay giáo viên hiện nay bắt buộc phải sở hữu kỹ năng số để vận hành các hệ thống chẩn đoán hỗ trợ từ AI hoặc các nền tảng giáo dục cá nhân hóa. Nếu không có sự “chuyển mình”, người lao động sẽ đối mặt với nguy cơ bị thay thế bởi những người biết sử dụng AI”.

bai-tet-7.png

Phó Giáo sư Lê Hoàng Sơn cũng cho biết, nhu cầu nhân lực số giai đoạn 2026-2030 dự kiến sẽ tập trung vào 3 nhóm chính:

Một là, nhân lực thiết kế và quản trị AI: Những chuyên gia và nhà khoa học trực tiếp xây dựng và phát triển các mô hình công nghệ AI lõi “Make in Vietnam”. Đây là nhóm nhân lực trình độ cao (thạc sĩ, tiến sĩ) mà Đại học Quốc gia Hà Nội đang tập trung phát triển trong chương trình đào tạo tinh hoa, để giải quyết các bài toán đặc thù dành cho người Việt.

Hai là, nhân lực số liên ngành: Thị trường cần những chuyên gia am hiểu nhiều lĩnh vực thay vì chuyên ngành hẹp. Một chuyên gia tài chính phải am hiểu về thuật toán AI để dự báo thị trường; một kỹ sư xây dựng phải biết sử dụng AI để tối ưu hóa vật liệu và mô hình 3D...

Ba là, nhân lực số đảm bảo an toàn và đạo đức AI: Khi AI can thiệp sâu vào đời sống, nhu cầu về nhân sự kiểm định thuật toán, bảo mật dữ liệu và đạo đức AI trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết để tuân thủ các quy định mới của Chính phủ.

“Để không bị bỏ lại phía sau, thị trường lao động cần một cuộc cách mạng về tư duy, trong đó thay đổi sâu sắc ở tư duy tuyển dụng.

Các doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với các cơ sở đào tạo tinh hoa để đặt hàng nhân lực theo mô hình đào tạo dựa trên bài toán thực tiễn. Qua đó, xây dựng văn hóa học tập suốt đời, nghĩa là doanh nghiệp cần coi việc đào tạo lại nhân viên là một khoản đầu tư trực tiếp vào tài sản, thay vì là chi phí.

Trong quá trình đào tạo, vai trò của các Trung tâm nghiên cứu ứng dụng rất quan trọng. Đây là cầu nối giúp thị trường lao động “chuyển mình” nhanh nhất. Các trung tâm này không chỉ cung cấp công nghệ AI tiên tiến, mà còn cung cấp các khóa đào tạo ngắn hạn, chuyển giao tri thức để người lao động làm chủ công nghệ ngay tại doanh nghiệp của mình” - Phó Giáo sư Lê Hoàng Sơn bày tỏ.

Cùng chia sẻ về vấn đề này, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Lào Cai, Đại biểu Quốc hội đoàn Lào Cai cũng đề cập: “Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các lĩnh vực công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ thông tin, an ninh mạng, tài chính số, hay ứng dụng IoT trong sản xuất và vận hành ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng đang phát triển nhanh, đòi hỏi lực lượng lao động cần phải có những kỹ năng chuyên sâu và có khả năng thích ứng cao. Do vậy, nhu cầu về nhân lực số hiện đang tăng lên rất nhanh, lan tỏa rộng khắp tất cả các ngành kinh tế và đặt ra yêu cầu nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng nguồn nhân lực.

Mặt khác, thị trường lao động cũng đang có sự phân hóa rất rõ rệt. Nếu người lao động không được trang bị kỹ năng số, kỹ năng mềm và khả năng học tập suốt đời, sẽ rất dễ đứng trước nguy cơ bị đào thải hoặc buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp. Ngược lại, những nhóm lao động có trình độ cao, thành thạo công nghệ, có khả năng sáng tạo và thích ứng nhanh, sẽ có nhiều cơ hội việc làm và dễ dàng nâng cao thu nhập.

Bối cảnh này vừa mở ra cơ hội, vừa đặt ra thách thức lớn đối với nguồn nhân lực của Việt Nam, đặc biệt là lao động trẻ, lao động ở miền núi, vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số - những nhóm còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và thích ứng với các kỹ năng số”.

Chính vì vậy, theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Lan Anh, trước những yêu cầu mới của nền kinh tế số, việc đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo theo hướng gắn chặt với nhu cầu doanh nghiệp và xu thế công nghệ mới là nhiệm vụ cấp thiết. Các chương trình đào tạo cần được cập nhật thường xuyên và tăng cường kỹ năng số, tư duy sáng tạo và khả năng việc làm trong môi trường số, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đồng thời, cần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đào tạo, đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho người lao động.

Ở góc độ đơn vị sử dụng lao động, bà Đặng Thị Ánh Tuyết - Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần MedCAT cũng chia sẻ: “Dưới góc nhìn của tôi, nhu cầu nhân lực số của thị trường lao động trong giai đoạn tới sẽ tăng mạnh cả về quy mô lẫn chất lượng. Đây không còn là “xu hướng tự chọn” mà đã trở thành mục tiêu quốc gia có chỉ tiêu cụ thể.

Theo Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, đến năm 2025 Việt Nam đặt mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GDP, đồng thời mở rộng mạnh dịch vụ công trực tuyến và xử lý hồ sơ trên môi trường số; đến năm 2030, mục tiêu nâng lên kinh tế số chiếm 30% GDP và mức độ số hóa trong khu vực công tiếp tục tăng sâu. Những mục tiêu này kéo theo nhu cầu rất lớn về nhân lực có thể thiết kế-triển khai-vận hành các hệ thống số, và quan trọng hơn là tái cấu trúc quy trình, dữ liệu, quản trị rủi ro để chuyển đổi số đi vào thực chất.

Chính phủ cũng đã xác định rõ trọng tâm phát triển nhân lực số trong Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số: tập trung vào các kỹ năng mới như điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, kiến trúc hệ thống, kỹ nghệ phần mềm, thiết kế giao diện & trải nghiệm người dùng, an toàn thông tin mạng; đồng thời thúc đẩy mô hình đào tạo gắn với nhu cầu thực tế, kết nối cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và đào tạo lại cho lực lượng lao động.

Với động lực phát triển số của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp rõ ràng, với tốc độ rất nhanh sẽ đẩy nhu cầu nhân lực số giai đoạn tới tăng trưởng mạnh, với yêu cầu cao. Trong khi đó, bối cảnh cả thế giới đang ở trong một guồng quay rất mạnh về chuyển đổi số và phát triển, ứng dụng các công nghệ mới sẽ tiếp tục là yếu tố thúc đẩy thị trường nhân lực số tăng trưởng và cạnh tranh”.

bai-tet-13.png

Đại biểu Nguyễn Thị Lan Anh cũng cho rằng: “Cần thực hiện một “cuộc cách mạng” trong đào tạo dựa trên nền tảng công nghệ, triển khai quyết liệt nhiệm vụ đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho nguồn nhân lực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, song song với đó, đẩy mạnh thu hút các nhà khoa học giỏi và hình thành đội ngũ khoa học đỉnh cao để dẫn dắt các hướng nghiên cứu mới.

Công tác đào tạo nhân lực số và thu hút nhân tài cũng cần chuyển từ “chứng chỉ” sang “thực chiến”, lấy năng lực thực hành và hiệu quả công việc làm thước đo. Kỹ năng số cần trở thành công cụ làm việc hằng ngày gắn với từng vị trí việc làm, thậm chí được xem là tiêu chí để bổ nhiệm và đánh giá thi đua trong quá trình công tác.

Thứ hai, cần phải hoàn thiện thể chế, chính sách về lao động, việc làm trong bối cảnh kinh tế số, đòi hỏi các khung pháp lý linh hoạt, để vừa bảo vệ quyền lợi người lao động vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, đồng thời cơ chế phải tạo điều kiện cho người lao động vừa được đào tạo vừa có cơ hội việc làm, đặc biệt là quan tâm đến lao động thuộc nhóm yếu thế.

Thứ ba, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp số. Cần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ số, chuyển đổi số; đồng thời có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài và chuyên gia ở nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam.

Thứ tư, công tác dự báo cung - cầu lao động cần được nâng cao, hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu thị trường lao động thống nhất, hiện đại và có tính kết nối giữa các bộ, ngành, địa phương để hoạch định chính sách dài hạn”.

bai-tet-10.png

Đồng tình với quan điểm trên, bà Đặng Thị Ánh Tuyết cũng chia sẻ: “Trong thời gian tới, công tác đào tạo nhân lực số cần được triển khai theo hướng lấy chuẩn năng lực và chuẩn đầu ra làm trọng tâm, gắn chặt với yêu cầu của từng vị trí việc làm.

Nội dung đào tạo cần ưu tiên thực hành trên bài toán và dữ liệu thực tế, tăng cường mô hình dự án, thực tập và kèm cặp để người học hình thành năng lực làm việc ngay sau đào tạo.

Đồng thời, cần trang bị đồng bộ các kỹ năng nền tảng cho mọi học viên, gồm tư duy dữ liệu, khả năng ứng dụng công cụ số một cách an toàn, hiệu quả và nhận thức về an toàn, bảo mật thông tin.

Bên cạnh đó, chương trình phải được cập nhật thường xuyên, phát huy cơ chế phối hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp và đánh giá chất lượng dựa trên năng lực thực hiện công việc, sản phẩm đầu ra, mức độ đáp ứng nhu cầu tuyển dụng, thay vì chỉ dựa trên kết quả kiểm tra lý thuyết”.

bai-tet-11.png
bai-tet-12.png

Bên cạnh đó, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh cũng phân tích về vai trò kết nối của cơ sở đào tạo với đơn vị sử dụng lao động trong công tác đào tạo nhân lực số: “Trong công tác đào tạo, vai trò của các cơ sở đào tạo với đơn vị sử dụng lao động/doanh nghiệp cần phải đồng hành với nhau, không thể tách rời.

Do đó, doanh nghiệp cần phải tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo, các nội dung đào tạo phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và phải có sự đặt hàng của doanh nghiệp, theo tinh thần của Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) vừa được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10. Doanh nghiệp cũng có thể tham gia vào giảng dạy, hướng dẫn thực hành, đánh giá năng lực người học, đánh giá kết quả đầu ra.

Cùng với đó, các cơ sở đào tạo cần đẩy mạnh mô hình đào tạo gắn liền với thực tiễn, tạo điều kiện cho người học đi thực tế môn học, thực tập tốt nghiệp tại doanh nghiệp; liên kết đào tạo, nghiên cứu chuyển giao công nghệ. Mỗi sinh viên cần phải được va chạm ngay với môi trường làm việc thực tế ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, để góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo của nhà trường với yêu cầu của đơn vị sử dụng lao động.

Ngoài ra, các trường đại học cần chủ động hợp tác với doanh nghiệp trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa “ba nhà” (Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp). Trong đó, nhà trường giữ vai trò quản trị và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo; doanh nghiệp tham gia đặt hàng đào tạo, đầu tư, đồng tài trợ chương trình, phối hợp đánh giá và cùng nghiên cứu phát triển. Sự phối hợp chặt chẽ này sẽ góp phần tạo ra những kết quả đào tạo thiết thực, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động”.

bai-tet-6-6811.png

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hoàng Sơn phân tích, trong kỷ nguyên AI và chuyển đổi số, công tác đào tạo không còn là việc “truyền thụ kiến thức” đơn thuần mà là “kiến tạo năng lực thích ứng”.

Để đáp ứng các nghị quyết mới về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đào tạo nhân lực số cần chuyển dịch theo các trụ cột sau:

Thứ nhất, tập trung đào tạo nguồn nhân lực số “chất lượng cao” là yêu cầu bắt buộc tại các cơ sở giáo dục đại học.

Tại các cơ sở giáo dục đại học, chuyển dịch từ đào tạo kỹ năng sang đào tạo tư duy (mindset) nghĩa là nhân lực chất lượng cao không chỉ là người giỏi lập trình (code) hay giỏi vận hành hệ thống, mà họ phải có tư duy thiết kế (design thinking) và tư duy dữ liệu (data-driven thinking).

Họ cần hiểu rõ bản chất của thuật toán để có thể làm chủ AI thay vì lệ thuộc vào nó. Tính liên ngành là yêu cầu bắt buộc, trong đó nhân lực số xuất sắc năm 2026 phải là những chuyên gia, không chỉ am hiểu chuyên ngành, mà còn phải có kiến thức nền tảng về y tế hoặc kinh tế để giải quyết các bài toán thực tế của xã hội.

Bên cạnh đó, họ cần bảo đảm đạo đức số và cam kết thực hiện trách nhiệm xã hội. Trong bối cảnh AI tạo sinh bùng nổ, việc đào tạo về bảo mật, tính minh bạch của thuật toán và đạo đức nghề nghiệp là bắt buộc. Sản phẩm công nghệ không lấy mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu duy nhất, mà đảm bảo cơ hội tham gia cho tất cả mọi người, không bỏ ai ở lại phía sau.

Thứ hai, cần xác định yêu cầu bắt buộc về triển khai mô hình gắn kết giữa cơ sở giáo dục và đơn vị sử dụng lao động để xóa bỏ “khoảng cách kỹ năng”.

Trong các chương trình đào tạo hiện tại tại các trường đại học, sinh viên thường có một số môn chuyên đề thực tập doanh nghiệp. Nhưng khối lượng và sự tham gia là chưa nhiều dẫn đến doanh nghiệp còn e dè trong việc kết hợp với các trường trong sử dụng lao động. Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp cần được nâng cấp từ “tham quan, thực tập” sang “hợp tác hữu cơ” qua cơ chế đồng kiến tạo chương trình (Co-curriculum).

Các đơn vị sử dụng lao động không chỉ đứng ngoài “đặt hàng”, mà phải trực tiếp cùng Nhà trường xây dựng chương trình đào tạo và phải được cập nhật hàng năm dựa trên tốc độ thay đổi của công nghệ. Mô hình “Giảng đường trong doanh nghiệp” và “Dự án trong Lab” là những sáng kiến có thể giúp tối ưu hóa triển khai các bài toán thực tế của doanh nghiệp.

Tại Viện Công nghệ thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội), nhiều bài toán từ doanh nghiệp như tối ưu hóa chuỗi cung ứng bằng AI, hay xử lý ảnh y tế đã được đưa thẳng cho các trung tâm nghiên cứu để làm đề tài nghiên cứu cho học viên. Ngược lại, các chuyên gia từ nhà trường có thể trực tiếp hỗ trợ đào tạo lại đội ngũ nhân sự tại chỗ cho doanh nghiệp để họ có thể tiếp nhận công nghệ mới ngay lập tức qua đó tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở trong đó nhà trường đóng vai trò là “trạm trung chuyển tri thức”. Các đơn vị sử dụng lao động cung cấp dữ liệu thực và môi trường thử nghiệm; nhà trường cung cấp thuật toán và nguồn nhân lực sáng tạo.

Thứ ba, vai trò tiên phong của các “đại học tinh hoa”.

Các đại học lớn (có lợi thế thực hiện sứ mệnh đào tạo nhân lực số chất lượng cao) cần triển khai đào tạo cá nhân hóa linh hoạt với các khóa học về AI và chuyển đổi số, cho phép người học tích lũy kỹ năng nhanh chóng để đáp ứng ngay nhu cầu thị trường. Thế mạnh liên ngành được triển khai trong hệ sinh thái để đào tạo nhân lực số có khả năng thực chiến trong mọi lĩnh vực.

Năm 2026 là thời điểm của hành động quyết liệt. Để hiện thực hóa các nghị quyết về chuyển đổi số và AI, việc đầu tư vào con người là khoản đầu tư mang lại giá trị gia tăng cao nhất. Đào tạo nhân lực số chất lượng cao, có tư duy liên ngành, sẵn sàng cùng các doanh nghiệp và tổ chức khai phá những giá trị mới là yêu cầu quan trọng trong chuyển đổi mô hình đào tạo tại các đại học, để thích nghi với tình hình và tạo nên những kỳ tích mới cho Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Mộc Trà