Thay mặt Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Phó trưởng Ban chỉ đạo đã ký ban hành Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị.

Trong đó, Kế hoạch đề ra mục tiêu đến năm 2030 là đào tạo và xây dựng được đội ngũ 10.000 chuyên gia an ninh mạng trình độ cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế. [1]

Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, đây là mục tiêu đầy thách thức, nhưng sẽ khả thi nếu chúng ta có những bước đi chiến lược và quyết liệt.

Yêu cầu cấp thiết về đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực an ninh mạng

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, trong kỷ nguyên số, khi mọi hoạt động đều vận hành trên không gian mạng và dữ liệu trở thành tài sản quý giá nhất, thì an ninh mạng chính là yếu tố sống còn đối với sự an nguy của mọi đơn vị, tổ chức. Dưới sự chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Chính phủ về công tác chuyển đổi số quốc gia, việc đầu tư vào an ninh mạng không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp.

Theo thầy Trình, mục tiêu đến năm 2030 đào tạo và xây dựng được đội ngũ 10.000 chuyên gia an ninh mạng trình độ cao mà Việt Nam đang hướng tới không chỉ đơn thuần là để giải quyết các nhiệm vụ trong nước, mà còn để hình thành lực lượng nòng cốt để Việt Nam tham gia vào "cuộc chơi chung" về an ninh mạng trên toàn cầu.

"Đào tạo và xây dựng được đội ngũ 10.000 chuyên gia an ninh mạng vào năm 2030 là một con số đầy thách thức nhưng hoàn toàn khả thi nếu chúng ta có những bước đi chiến lược và quyết liệt. Tuy nhiên, việc vươn tầm quốc tế đòi hỏi những tiêu chuẩn cực kỳ khắt khe về mặt chất lượng. Điều này yêu cầu những người làm an ninh mạng tại Việt Nam phải sở hữu tư duy toàn cầu với kỹ năng và kiến thức chuyên môn đạt trình độ quốc tế để có thể giải quyết những vấn đề, thách thức xuyên biên giới.

Vì vậy, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần thực hiện chiến lược nhân sự toàn diện gồm ba mũi nhọn. Trước hết, là không ngừng bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ chuyên gia đang công tác tại các địa phương và doanh nghiệp. Đồng thời, thực hiện chính sách thu hút, trải thảm đỏ đón những cán bộ giỏi từ nước ngoài trở về.

Ngoài ra, việc đẩy mạnh vai trò của các cơ sở giáo dục đào tạo trong nước để hình thành thế hệ kế cận hội tụ đủ cả tâm và tầm cho nền công nghệ nước nhà cần được chú trọng", thầy Trình bày tỏ.

Thầy Trình cũng nhấn mạnh, các cơ sở giáo dục cần tập trung xây dựng chương trình chuẩn quốc tế, chú trọng kỹ năng thực chiến và đẩy mạnh đào tạo sau đại học để hình thành đội ngũ chuyên gia tự chủ về công nghệ an ninh mạng.

Về mặt chính sách, không nên chỉ dừng lại ở việc cho phép cơ sở giáo dục đại học tự chủ mở ngành mà cần có cơ chế "giao nhiệm vụ" cụ thể, gắn liền với các chỉ tiêu xã hội hóa và ưu tiên nguồn lực cho những cơ sở đào tạo có thế mạnh về an ninh mạng.

Đặc biệt, chiến lược truyền thông sâu rộng là rất cần thiết để xã hội nhận thức đúng vai trò của an ninh mạng, từ đó tạo dựng niềm tin cho phụ huynh và học sinh về một tương lai nghề nghiệp hấp dẫn, bền vững và có đóng góp quan trọng cho quốc gia. Khi các nút thắt về cơ chế, chất lượng đào tạo và định hướng xã hội được tháo gỡ đồng bộ, Việt Nam hoàn toàn có thể sở hữu đội ngũ nhân lực đủ sức gánh vác an ninh mạng trong bối cảnh toàn cầu hóa.

526618868-1211717517422392-2244565605727157193-n.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

Cùng bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Đặng Trọng Hợp - Hiệu trưởng Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Công nghiệp Hà Nội cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ cả trên toàn cầu lẫn tại Việt Nam, an ninh mạng đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững của Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Hầu hết các hoạt động kinh tế – xã hội hiện nay đều phụ thuộc vào hạ tầng công nghệ thông tin và hệ thống mạng, từ dịch vụ công trực tuyến, ngân hàng – tài chính, thương mại điện tử, y tế, giáo dục cho tới các hệ thống hạ tầng quan trọng như năng lượng, giao thông, viễn thông.

Do đó, các sự cố an ninh mạng không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội và quyền riêng tư của người dân.

Điều này khẳng định tầm quan trọng chiến lược của việc đầu tư cho an ninh mạng và phát triển đội ngũ chuyên gia trình độ cao, nhằm chủ động phòng thủ, phát hiện sớm và ứng phó hiệu quả với các mối đe dọa ngày càng tinh vi trong kỷ nguyên số.

Theo thầy Hợp, mục tiêu xây dựng đội ngũ 10.000 chuyên gia an ninh mạng trình độ cao đến năm 2030 là một định hướng chiến lược, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Tuy nhiên, để mục tiêu này khả thi và đạt hiệu quả, cần hội tụ đồng thời nhiều điều kiện nền tảng, cũng như triển khai các nhóm giải pháp đồng bộ từ thể chế, đào tạo, nghiên cứu khoa học đến hợp tác với doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Cụ thể, cần chuẩn hóa chương trình đào tạo theo hướng “chuẩn năng lực – thực hành – thực chiến”. Điều này có nghĩa là phải xây dựng khung chương trình đào tạo an ninh mạng thống nhất ở bậc đại học, sau đại học và các chương trình ngắn hạn, chuyên sâu, gắn với các chuẩn nghề nghiệp quốc tế. Tăng số lượng các học phần thực hành, mô phỏng tấn công – phòng thủ, lồng ghép các chủ đề mới như an ninh AI, bảo mật dữ liệu lớn, an ninh cloud,…

Cùng với đó, cần phát triển mạnh mô hình hợp tác “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp”. Đưa doanh nghiệp an ninh mạng, doanh nghiệp công nghệ số tham gia sâu vào quá trình đào tạo, cùng xây dựng chương trình, cùng tổ chức phòng lab, SOC thực hành, nhận sinh viên thực tập, đặt hàng đề tài nghiên cứu – phát triển. Điều này sẽ rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động.

Hơn nữa, việc khuyến khích đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho nhân lực công nghệ thông tin hiện có cũng cần được chú trọng. Đây là nguồn lực quan trọng để đạt được con số 10.000 chuyên gia an ninh mạng trình độ cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế.

Ngoài ra, việc đẩy mạnh hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức đào tạo quốc tế trong lĩnh vực an ninh mạng để trao đổi giảng viên, nghiên cứu sinh, chương trình đào tạo liên kết cũng cần được ưu tiên.

492000116-646540478140585-9049158015319456489-n.jpg
Tiến sĩ Đặng Trọng Hợp - Hiệu trưởng Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Công nghiệp Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

Đồng tình với quan điểm trên, Tiến sĩ Võ Tá Hoàng - Phó trưởng bộ môn Mạng và An toàn thông tin, Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Thủy lợi bày tỏ, việc đến năm 2030 đào tạo và xây dựng được đội ngũ 10.000 chuyên gia an ninh mạng trình độ cao theo Kế hoạch số 04 là một bước đi rất tham vọng nhưng hoàn toàn có cơ sở nếu nhìn vào tốc độ chuyển đổi số và quyết tâm chính trị hiện nay.

Chia sẻ về tình hình đào tạo nhân lực an ninh mạng tại trường, thầy Hoàng cho biết, ngành An ninh mạng đã được nhà trường tuyển sinh và đào tạo 4 khóa, hiện chưa có khóa nào tốt nghiệp. Qua quá trình đào tạo thực tiễn, nhà trường nhận thấy có những tín hiệu rất tích cực. Ngay từ năm đầu tiên triển khai đào tạo, trường đã thành lập Câu lạc bộ An ninh mạng nhằm hỗ trợ sinh viên học tập và rèn luyện kỹ năng thực hành. Nhiều sinh viên có kiến thức và kỹ năng tốt, là sinh viên năm thứ 3 hoặc năm thứ 4 nhưng đã được giao các công việc chuyên môn sâu về an ninh mạng tại doanh nghiệp. Điều đó thể hiện rõ năng lực và sự đam mê của sinh viên với lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên của trường thường xuyên cập nhật kiến thức về an ninh mạng thông qua nghiên cứu các tài liệu chuyên ngành uy tín, tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu và hợp tác với doanh nghiệp trong các dự án thực tế.

Hơn nữa, hằng năm trường đều tổ chức hướng dẫn sinh viên tham gia các cuộc thi về An ninh mạng, nghiên cứu khoa học. Những kết quả này cho thấy định hướng đào tạo ngành An ninh mạng gắn với thực hành và năng lực thực tiễn là phù hợp và đang đi đúng hướng.

Song, nhà trường cũng đối mặt với một số thách thức trong công tác đào tạo. Hiện nay, tốc độ thay đổi của công nghệ và các mối đe dọa an ninh mạng rất cao, trong khi việc cập nhật chương trình, giáo trình và đầu tư hạ tầng thực hành cần thời gian và kinh phí. Việc xây dựng các phòng lab, hệ thống mô phỏng mạng đạt chuẩn đòi hỏi chi phí lớn và nhân lực vận hành chuyên sâu. Ngoài ra, việc tuyển giảng viên chuyên sâu còn khó do nhân lực chất lượng cao thường chọn làm ở doanh nghiệp, cơ chế thu hút vào đại học chưa thật sự hấp dẫn. Đặc biệt, môi trường thực tập cho sinh viên còn hạn chế vì lĩnh vực an ninh mạng khá nhạy cảm, nhiều đơn vị còn e ngại cho sinh viên tham gia trực tiếp vào hệ thống thật.

Trong thời gian tới, Trường Đại học Thủy lợi sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp và cơ quan chuyên trách, mở rộng các mô hình đào tạo gắn với thực tế, cập nhật chương trình theo chuẩn quốc tế và đầu tư có trọng điểm cho hạ tầng thực hành. Mục tiêu là đào tạo ra những sinh viên không chỉ vững kiến thức nền tảng mà còn có năng lực làm việc thực tế và khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu của lĩnh vực an ninh mạng đang thay đổi rất nhanh hiện nay.

thay-vo-ta-hoang.jpg
Tiến sĩ Võ Tá Hoàng - Phó trưởng bộ môn Mạng và An toàn thông tin, Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Thủy lợi. Ảnh website nhà trường.

Khẳng định vị thế quốc gia, giảm phụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài

Đáng chú ý, Kế hoạch số 04 cũng nêu rõ mục tiêu: “Tỷ trọng sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng Make in Vietnam chiếm trên 50% thị trường trong nước và bắt đầu hình thành năng lực xuất khẩu đạt chuẩn quốc tế”.

Đánh giá về nội dung này, thầy Chử Đức Trình cho rằng, đây là mục tiêu hoàn toàn khả thi và mang tính chiến lược cao.

"An ninh mạng là lĩnh vực có đặc thù riêng biệt, nếu Việt Nam xây dựng được những công cụ tốt với năng lực vận hành cạnh tranh sòng phẳng với thế giới, sức lan tỏa và sự tín nhiệm sẽ tự động hình thành. Việc làm chủ công nghệ không chỉ giúp bảo vệ hệ thống dữ liệu quốc gia mà còn tạo tiền đề vững chắc để Việt Nam khẳng định vị thế trên bản đồ công nghệ khu vực về an ninh mạng.

Song, an ninh mạng là lĩnh vực khó và kén chọn nhân lực. Vì vậy, để hiện thực hóa tầm nhìn này, các cơ sở giáo dục đại học cần đóng vai trò "trụ cột và nền tảng", bởi đây là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu, làm chủ và phát triển các công nghệ mới, công nghệ cốt lõi cho lĩnh vực an ninh mạng", thầy Trình nhấn mạnh.

Trong khi đó, thầy Võ Tá Hoàng cho rằng, đây là mục tiêu đầy thách thức, bởi lĩnh vực an ninh mạng đòi hỏi công nghệ cao, đầu tư lớn và phải cạnh tranh trực tiếp với nhiều đơn vị tại nước ngoài đã phát triển trước từ rất lâu.

Song, mục tiêu về sản phẩm và dịch vụ an ninh mạng này cho thấy, Việt Nam không chỉ mua giải pháp mà còn muốn tự làm chủ công nghệ, tự bảo vệ trên không gian mạng quốc gia. Nếu nhìn ở góc độ chiến lược, thì đây là hướng đi tất yếu, bởi không thể nhắc đến chủ quyền số và tự chủ an ninh mạng nếu Việt Nam vẫn phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ và sản phẩm bên ngoài.

Khi đạt được mục tiêu này, Việt Nam sẽ chủ động hơn về công nghệ và an ninh, giảm phụ thuộc vào nhà cung cấp nước ngoài, nâng cao năng lực phòng thủ và ứng cứu sự cố nhờ các sản phẩm phù hợp với đặc thù trong nước.

Đồng thời, hệ sinh thái công nghiệp an ninh mạng trong nước cũng được thúc đẩy và từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Còn theo thầy Đặng Trọng Hợp, mục tiêu này phản ánh xu hướng tất yếu trong việc giảm phụ thuộc vào công nghệ an ninh mạng nước ngoài. Thực tiễn quốc tế cho thấy các sản phẩm an ninh mạng lõi như hệ thống giám sát an ninh, phát hiện xâm nhập, quản lý danh tính, bảo mật hạ tầng số thường gắn với dữ liệu nhạy cảm và hạ tầng quan trọng quốc gia. Việc phụ thuộc hoàn toàn vào giải pháp nước ngoài tiềm ẩn rủi ro về an ninh, chủ quyền dữ liệu và khả năng tự chủ khi xảy ra xung đột công nghệ hoặc địa chính trị.

anm-dh-cong-nghiep.jpg
Sinh viên Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Công nghiệp Hà Nội trong 1 tiết học về an ninh mạng. Ảnh NTCC.

Bên cạnh đó, hệ sinh thái an ninh mạng “Make in Vietnam” đã bước đầu hình thành. Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp công nghệ trong nước đã phát triển thành công các nền tảng, sản phẩm an ninh mạng như hệ thống SOC, giám sát an toàn thông tin, phòng chống mã độc, xác thực – định danh số, bảo vệ hạ tầng số cho cơ quan nhà nước và doanh nghiệp.

Mặt khác, mục tiêu về tỷ trọng sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng chiếm trên 50% thị phần trong nước là mục tiêu "tham vọng" nhưng khả thi nếu có chính sách đồng bộ về đặt hàng công nghệ, ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước trong các dự án chuyển đổi số của khu vực công, cũng như cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, thử nghiệm, đánh giá và chứng nhận sản phẩm an ninh mạng đạt chuẩn quốc tế. Kinh nghiệm của các quốc gia có ngành an ninh mạng phát triển cho thấy, vai trò “khách hàng đầu tiên” của Nhà nước là yếu tố quyết định để doanh nghiệp trong nước trưởng thành và từng bước vươn ra thị trường quốc tế.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://nhandan.vn/bao-dam-an-ninh-mang-bao-mat-thong-tin-va-an-ninh-du-lieu-trong-he-thong-chinh-tri-post941287.html

Mạnh Dũng