EMagazine

Tiêu cực có thực sự do kỳ thi "2 trong 1"?

Tiêu cực có thực sự do kỳ thi "2 trong 1"?

20/07/2026 06:36
Doãn Nhàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Có một thời, không ít gia đình bán bò, lợn, gà,... để có tiền cho con lên thành phố thuê trọ, luyện thi. Những mùa tuyển sinh với cảnh chờ điểm, chen chúc rút, nộp hồ sơ đã trở thành ký ức khó quên của nhiều thế hệ thí sinh và phụ huynh.

Có ý kiến đề xuất tách kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học thành hai kỳ thi độc lập đang tiếp tục nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Một số ý kiến cho rằng việc sử dụng kết quả kỳ thi tốt nghiệp để xét tuyển đại học đã làm gia tăng áp lực, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực.

Tuy nhiên, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quý Thanh - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), chuyên gia về xã hội học, đo lường và đánh giá trong giáo dục khẳng định, tiêu cực không phải là hệ quả của mô hình kỳ thi "2 trong 1". Theo thầy, bất kỳ kỳ thi nào có giá trị sử dụng cao, gắn với quyền lợi lớn của người dự thi, đều tiềm ẩn nguy cơ gian lận.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quý Thanh - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), chuyên gia về xã hội học, đo lường và đánh giá trong giáo dục. Ảnh: Trần Hiệp
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quý Thanh - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), chuyên gia về xã hội học, đo lường và đánh giá trong giáo dục. Ảnh: Trần Hiệp
1-577.png

Nhiều người hôm nay bàn về việc tách kỳ thi nhưng lại không còn nhớ vì sao chúng ta từng quyết định gộp hai kỳ thi thành một.

Giáo sư Thanh nhắc lại, trước năm 2002, học sinh sau khi hoàn thành chương trình phổ thông phải trải qua hai kỳ thi hoàn toàn độc lập. Trước tiên là kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, sau đó là kỳ thi tuyển sinh đại học do từng trường tự tổ chức, từ khâu ra đề, coi thi đến chấm thi.

Đến giai đoạn 2002-2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai kỳ thi "3 chung" gồm chung đề, chung đợt và chung kết quả nhằm giảm tình trạng mỗi trường tổ chức một kỳ thi riêng. Tuy nhiên, dù đã thống nhất đề thi, mỗi mùa tuyển sinh vẫn là một cuộc "di chuyển khổng lồ" của hàng trăm nghìn thí sinh từ các địa phương về Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số trung tâm lớn để dự thi.

"Nếu còn nhớ giai đoạn đó sẽ thấy cả xã hội gần như vận hành theo mùa thi. Học sinh từ khắp các tỉnh phải khăn gói lên thành phố trước cả tháng để ôn luyện, thuê trọ, dự thi. Áp lực không chỉ đặt lên thí sinh mà còn lên gia đình, giao thông, an ninh trật tự và cả các đô thị lớn", Giáo sư Thanh chia sẻ.

e98dfba5-9dfa-4ff6-843e-4e80892d6db8.png
Hình minh họa một lò luyện thi tại Hà Nội năm 2013 được AI phục dựng từ ảnh tư liệu.

Theo thầy Thanh, nhiều người hiện nay đã quên mất bối cảnh xã hội khi đó.

Những "lò luyện thi" mọc lên dày đặc quanh các trường đại học; hàng nghìn gia đình phải đưa con lên thành phố thuê trọ nhiều tuần để ôn luyện và dự thi; cảnh chen chúc tại bến xe, nhà ga mỗi mùa tuyển sinh trở nên quen thuộc. Sau khi biết điểm thi, một "cuộc đua" khác lại bắt đầu. Thí sinh liên tục theo dõi điểm chuẩn dự kiến, cân nhắc rút hồ sơ khỏi trường này để nộp sang trường khác với hy vọng tăng cơ hội trúng tuyển. Có thời điểm, việc rút - nộp hồ sơ diễn ra dồn dập đến mức nhiều người ví von là "chơi chứng khoán", khi từng biến động nhỏ của điểm chuẩn đều có thể khiến thí sinh phải đưa ra quyết định ngay lập tức.

"Đã từng có những câu chuyện rất đặc biệt. Có thí sinh ở Hà Tĩnh phải thuê xe cấp cứu vượt hơn 350 km ra Hà Nội chỉ để kịp rút hồ sơ từ một trường và nộp sang trường khác trong đợt xét tuyển đại học. Hay cảnh hàng nghìn phụ huynh, thí sinh chen kín hội trường các trường đại học, thấp thỏm chờ công bố điểm chuẩn để ngay khi biết mình không trúng tuyển có thể lập tức rút hồ sơ, chạy sang trường khác nộp với hy vọng giành được một suất học. Đó thực sự là một cuộc chạy đua nộp - rút hồ sơ đầy căng thẳng, tạo nên áp lực rất lớn cho thí sinh, gia đình và toàn xã hội. Nếu không trực tiếp trải qua giai đoạn ấy thì sẽ rất khó hình dung đầy đủ", Giáo sư Thanh chia sẻ.

Ảnh minh họa được tạo bởi AI.
Ảnh minh họa được tạo bởi AI.

Theo Giáo sư Thanh, chính trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định rõ yêu cầu đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng giảm áp lực, giảm tốn kém cho xã hội nhưng vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh và làm cơ sở cho tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.

Đây cũng là cơ sở để Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng kỳ thi trung học phổ thông quốc gia từ năm 2015, sau đó điều chỉnh thành kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông như hiện nay.

Chính vì vậy, kỳ thi “2 trong 1” là một giải pháp nhằm giải quyết những áp lực xã hội tồn tại suốt nhiều năm trước đó.

“Kỳ thi hiện nay nhằm mục đích vừa phục vụ xét công nhận tốt nghiệp, vừa cung cấp nguồn dữ liệu có độ tin cậy để các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng sử dụng trong tuyển sinh và cơ quan quản lý đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông", Giáo sư Thanh nhấn mạnh.

Thầy Thanh cũng lưu ý, điểm thi tốt nghiệp chỉ chiếm 50% tổng điểm xét tốt nghiệp, 50% còn lại được tính từ kết quả học tập ở bậc trung học phổ thông.

2-2385.png

Theo Giáo sư Nguyễn Quý Thanh, một trong những nguyên nhân khiến dư luận tranh luận gay gắt về việc có nên tách kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học là do chưa phân biệt rõ hai khái niệm cơ bản trong khoa học đo lường và đánh giá giáo dục: mục đích đánh giá và mục đích sử dụng kết quả đánh giá.

Mục đích đánh giá trả lời câu hỏi bài thi được thiết kế để đo lường kiến thức, kỹ năng hoặc năng lực nào. Trong khi đó, mục đích sử dụng kết quả đánh giá liên quan đến những quyết định được đưa ra dựa trên điểm số của người dự thi. Đây là hai vấn đề có liên quan nhưng không đồng nhất.

"Lấy ví dụ như bài thi IELTS. Mục đích của bài thi chỉ là đánh giá năng lực sử dụng tiếng Anh của người học. Nhưng kết quả IELTS lại được nhiều đơn vị sử dụng cho các mục đích khác nhau như tuyển sinh, tuyển dụng, xét học bổng hay đáp ứng điều kiện nhập cư. Việc kết quả được sử dụng vào đâu không làm thay đổi bản chất của bài thi", Giáo sư Thanh phân tích.

Tương tự, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông trước hết được thiết kế nhằm xác định người học đã đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông hay chưa. Việc các trường đại học sử dụng kết quả ấy làm một trong những căn cứ tuyển sinh thuộc về cách sử dụng kết quả đánh giá.

Theo Giáo sư Thanh, trong hệ thống giáo dục quốc dân, đầu ra của một cấp học đồng thời là đầu vào của cấp học tiếp theo. Vì vậy, việc sử dụng kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông làm một trong những căn cứ tuyển sinh đại học là phù hợp với nguyên lý vận hành của hệ thống giáo dục, miễn là kết quả đánh giá có đủ độ tin cậy và đáp ứng yêu cầu của cơ sở đào tạo.

"Tất nhiên, đối với một số ngành đặc thù như mỹ thuật, kiến trúc, nghệ thuật biểu diễn hay những ngành cần đánh giá năng lực chuyên biệt, các trường hoàn toàn có thể tổ chức thêm bài thi năng khiếu hoặc hình thức đánh giá riêng. Nhưng điều đó không có nghĩa phải tách toàn bộ kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh thành hai kỳ thi độc lập", thầy nói.

Thực tế nhiều năm qua, các cơ sở giáo dục đại học vẫn chủ động lựa chọn phương thức tuyển sinh phù hợp với đặc thù đào tạo của mình. Có trường chỉ sử dụng điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông; có trường kết hợp với học bạ; nhiều trường tổ chức thêm kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy hoặc xét tuyển năng khiếu.

Điều đó cho thấy quyền tự chủ tuyển sinh của các cơ sở giáo dục đại học không hề bị hạn chế bởi sự tồn tại của kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông.

"Lập luận cho rằng phải tách kỳ thi mới tạo điều kiện cho các trường tự chủ tuyển sinh là chưa thật sự thuyết phục. Ngay cả khi, Bộ không cấm tổ chức kỳ thi riêng thì cũng không phải trường nào có đủ nguồn lực để xây dựng ngân hàng câu hỏi, tổ chức khảo thí và bảo đảm chất lượng của một kỳ thi quy mô lớn", Giáo sư Thanh nhận định.

3-5594.png

Giáo sư Nguyễn Quý Thanh phân tích, trước đây số lượng chỉ tiêu đại học rất hạn chế so với nhu cầu học tập. Kỳ thi tuyển sinh khi đó mang tính cạnh tranh rất cao, bởi hàng trăm nghìn thí sinh chỉ tranh nhau một số lượng suất học hữu hạn.

Trong khi đó, hệ thống giáo dục đại học hiện nay đã chuyển sang cơ chế tự chủ tuyển sinh; quy mô đào tạo liên tục mở rộng. Chỉ tiêu tuyển sinh tăng đều qua các năm và hiện đã xấp xỉ số lượng thí sinh đăng ký xét tuyển.

"Nếu trước đây 100 người dự thi chỉ chọn khoảng 10 người thì việc tổ chức một kỳ thi tuyển sinh độc lập là điều cần thiết. Nhưng hiện nay, khi số lượng chỉ tiêu gần tương đương số lượng người đăng ký, câu hỏi đặt ra là liệu có cần thiết để hàng trăm cơ sở giáo dục đại học cùng tổ chức những kỳ thi riêng hay không?", Giáo sư Thanh đặt vấn đề.

Theo ông, thực tế hiện nay phần lớn thí sinh đều có cơ hội học đại học. Sự cạnh tranh chủ yếu tập trung ở một số trường có mức độ chọn lọc cao hoặc một số ngành "hot", chứ không còn là cuộc cạnh tranh để giành lấy một suất học đại học như trước.

Đó cũng là lý do nhiều trường đại học vẫn lựa chọn sử dụng kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông làm một trong những phương thức tuyển sinh, thay vì tổ chức kỳ thi riêng vốn đòi hỏi nguồn lực rất lớn về ngân hàng đề thi, nhân lực, cơ sở vật chất và kinh phí.

"Trong bối cảnh hiện nay, nếu quay trở lại mô hình hai kỳ thi như trước đây, chúng ta cần cân nhắc rất kỹ giữa lợi ích đạt được với chi phí xã hội phải bỏ ra", Giáo sư Thanh nhận định.

4-905.png

Một lập luận khác thường được đưa ra sau mỗi vụ gian lận thi cử là vì kỳ thi tốt nghiệp đồng thời được sử dụng để tuyển sinh đại học nên mới xuất hiện tiêu cực.

Giáo sư Thanh không đồng tình với cách nhìn này. Thầy cho rằng, trong khoa học khảo thí, bất kỳ kỳ thi nào có giá trị sử dụng cao (high-stakes examination) đều luôn tiềm ẩn nguy cơ gian lận.

Nhìn lại lịch sử các kỳ thi quốc gia gần 20 năm qua cũng cho thấy tiêu cực xuất hiện ở hầu hết các giai đoạn, bất kể mô hình tổ chức kỳ thi. Từ vụ gian lận tại Trường Trung học phổ thông Phú Xuyên A năm 2006 với tình trạng buông lỏng coi thi, vụ Đồi Ngô năm 2012 đưa bài giải vào phòng thi, các vụ nâng điểm tại Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình năm 2018, đến vụ lộ đề thi môn Sinh học năm 2021 hay vụ gian lận điểm thi môn Toán tại Tuyên Quang năm 2026, mỗi vụ việc phản ánh một lỗ hổng khác nhau trong công tác tổ chức, từ xây dựng đề thi, coi thi, chấm thi đến quản lý kết quả thi.

"Tôi từng thực hiện một nghiên cứu về tính trung thực học thuật. Kết quả cho thấy khoảng 12% sinh viên thừa nhận từng sử dụng tài liệu trong phòng thi", Giáo sư Thanh chia sẻ. Theo ông, điều này cho thấy hành vi gian lận không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà xuất hiện trong nhiều hệ thống giáo dục trên thế giới khi kết quả của kỳ thi có giá trị.

5-649.png

Theo Giáo sư Thanh, nhìn lại những năm đầu triển khai kỳ thi trung học phổ thông quốc gia, một trong những yếu tố góp phần hạn chế tiêu cực là sự tham gia trực tiếp của các trường đại học trong công tác tổ chức. Khi đó, giảng viên đại học được phân công làm giám thị cùng giáo viên phổ thông; lực lượng thanh tra của các trường đại học thường xuyên có mặt tại các điểm thi để giám sát độc lập quá trình tổ chức.

Tuy nhiên, theo thời gian, vai trò của các trường đại học dần thu hẹp. Nhiều khâu của kỳ thi được giao cho địa phương chủ trì, trong khi lực lượng thanh tra của các trường đại học chủ yếu thực hiện nhiệm vụ giám sát ở vòng ngoài. Mô hình này tạo thuận lợi trong tổ chức nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải có cơ chế kiểm soát độc lập mạnh hơn.

Vì vậy, Giáo sư Thanh cho rằng cần tăng cường trở lại vai trò của các trường đại học trong toàn bộ quy trình khảo thí, bởi đây cũng là những đơn vị trực tiếp sử dụng kết quả kỳ thi để tuyển sinh.

"Chất lượng của kỳ thi cũng chính là chất lượng đầu vào của các trường đại học", ông nói.

Giảng viên Trường Đại học Ngoại thương trước khi lên đường thực hiện nhiệm vụ kiểm tra công tác tổ chức coi thi Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 tại Ninh Bình. Ảnh: Trường Đại học Ngoại thương.
Giảng viên Trường Đại học Ngoại thương trước khi lên đường thực hiện nhiệm vụ kiểm tra công tác tổ chức coi thi Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 tại Ninh Bình. Ảnh: Trường Đại học Ngoại thương.

Theo Giáo sư Thanh, thay vì để địa phương chịu trách nhiệm chính như hiện nay, có thể nghiên cứu mô hình phối hợp, trong đó Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục xây dựng đề thi, còn các trường đại học giữ vai trò chủ đạo trong tổ chức khảo thí.

Cụ thể, công tác coi thi vẫn được thực hiện với sự phối hợp giữa giảng viên đại học và giáo viên phổ thông, nhưng trưởng điểm thi nên là cán bộ của trường đại học nhằm bảo đảm tính độc lập với địa phương. Đối với công tác chấm thi, ông cũng đề xuất chuyển vai trò chủ trì từ địa phương sang các trường đại học.

"Đề thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng; các trường đại học chịu trách nhiệm chính trong coi thi và chấm thi; địa phương thực hiện nhiệm vụ phối hợp, bảo đảm điều kiện tổ chức và bàn giao dữ liệu. Cơ chế kiểm soát chéo như vậy sẽ hạn chế nguy cơ xung đột lợi ích và nâng cao độ tin cậy của kết quả thi", Giáo sư Thanh phân tích.

Bên cạnh việc hoàn thiện cơ chế tổ chức, Giáo sư Thanh cho rằng cần đẩy nhanh lộ trình tổ chức thi trên máy tính. Theo thầy, hình thức này không chỉ rút ngắn thời gian xử lý kết quả mà còn tạo điều kiện áp dụng các công nghệ khảo thí hiện đại. Khi hạ tầng công nghệ đáp ứng yêu cầu, việc tổ chức nhiều đợt thi trong năm cũng sẽ khả thi hơn thay vì chỉ tập trung vào một kỳ thi duy nhất.

Cùng với đó, thầy đề xuất nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giám sát kỳ thi. AI có thể hỗ trợ phân tích hình ảnh từ camera để phát hiện hành vi bất thường, đối chiếu dữ liệu đăng nhập, nhận diện dấu hiệu truy cập trái phép,... Tất nhiên, Giáo sư Thanh nhấn mạnh AI chỉ là công cụ hỗ trợ, giúp mở rộng năng lực giám sát chứ không thể thay thế trách nhiệm của người đứng đầu, cán bộ làm thi và cơ quan quản lý.

truoc-khi-de-xuat-quay-lai-hai-ky-thi-hay-nho-vi-sao-chung-ta-tung-phai-thay-doi.png
Hệ thống hỗ trợ tuyển sinh chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp thí sinh đăng ký nguyện vọng trên một nền tảng thống nhất, đồng thời hỗ trợ các cơ sở đào tạo thực hiện xét tuyển và lọc ảo trên phạm vi toàn quốc.
Hệ thống hỗ trợ tuyển sinh chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp thí sinh đăng ký nguyện vọng trên một nền tảng thống nhất, đồng thời hỗ trợ các cơ sở đào tạo thực hiện xét tuyển và lọc ảo trên phạm vi toàn quốc.

Theo Giáo sư Nguyễn Quý Thanh, nền tảng đăng ký và xét tuyển chung hiện nay đã giải quyết được nhiều bất cập từng tồn tại trong tuyển sinh đại học.

Thí sinh có thể đăng ký, sắp xếp nguyện vọng trên một hệ thống và được xét vào nguyện vọng cao nhất đủ điều kiện. Các trường chia sẻ dữ liệu tuyển sinh trên cùng nền tảng, qua đó hạn chế tình trạng thí sinh phải trực tiếp đến từng trường để nộp, rút hồ sơ hoặc đồng thời chiếm chỗ tại nhiều cơ sở đào tạo.

Nếu mỗi trường tổ chức một kỳ thi và vận hành một hệ thống tuyển sinh hoàn toàn độc lập, những lợi ích đó có thể bị suy giảm. Thí sinh một lần nữa phải theo dõi nhiều lịch thi, nhiều loại hồ sơ, nhiều quy trình và chịu thêm chi phí.

Theo Giáo sư Nguyễn Quý Thanh, những bất cập trong tổ chức kỳ thi hiện nay cần được nhìn nhận nghiêm túc để có giải pháp khắc phục, nhưng không nên vì những vụ việc tiêu cực mà phủ nhận những giá trị của mô hình kỳ thi đã góp phần giảm đáng kể áp lực, chi phí và tạo thuận lợi cho hàng triệu thí sinh trong hơn một thập kỷ qua.

"Nếu quay trở lại mô hình hai kỳ thi như trước đây, chúng ta có thể lại đối mặt với những áp lực xã hội mà Nghị quyết 29 từng hướng tới giải quyết. Điều cần làm không phải là quay về điểm xuất phát, mà là tiếp tục hoàn thiện mô hình hiện có bằng cách tăng cường kiểm soát độc lập, nâng cao tính liêm chính của kỳ thi và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong khảo thí", Giáo sư Nguyễn Quý Thanh nhấn mạnh.

Doãn Nhàn