Năm 2026, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) tuyển sinh 4.159 chỉ tiêu đối với 51 ngành/chương trình đào tạo theo hai phương thức: xét tuyển thẳng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và xét tuyển tổng hợp, sử dụng các tiêu chí gồm kết quả Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026, kết quả Kỳ thi Đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, kết quả học tập trung học phổ thông, thành tích học tập, hoạt động xã hội và các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế.
Trong đó, trường mở 4 ngành trình độ đại học mới, gồm: Quản trị nhân lực, Hán Nôm, Quan hệ công chúng, Quản lý phát triển đô thị và bất động sản. Riêng đối với ngành Hán Nôm và Quan hệ công chúng, trường tiếp tục khẳng định là cơ sở đào tạo có truyền thống và thế mạnh trong lĩnh vực khoa học xã hội.
Trường khẳng định diện tích đất vẫn đáp ứng được quy mô đào tạo
Điều 3, Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-BGDĐT ngày 9/12/2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy định điều kiện, trình tự, thủ tục mở ngành đào tạo, đình chỉ hoạt động của ngành đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ yêu cầu, cơ sở đào tạo có cơ sở vật chất, thiết bị, thư viện, giáo trình đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu theo yêu cầu của chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất theo quy định của chuẩn chương trình đào tạo của lĩnh vực, nhóm ngành, ngành đào tạo và các quy định tại Thông tư này.
Trong khi đó, theo Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT ban hành chuẩn cơ sở giáo dục đại học, từ năm 2030, đối với trường đại học nằm trong địa giới các quận của các thành phố trực thuộc Trung ương, diện tích đất tính bình quân trên một người học chính quy quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo không nhỏ hơn 10m2. Diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo trên số người học chính quy quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo không nhỏ hơn 2,8m2.
Theo nhà trường công bố trong các hồ sơ đề án mở ngành, trường có bình quân diện tích đất trên mỗi sinh viên đạt 15,8 m²/sinh viên; diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ công tác đào tạo đạt 3,4 m²/sinh viên; trong đó, bình quân diện tích sàn lớp học đạt 1,5 m²/sinh viên.
Trong văn bản trả lời Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, nhà trường cho biết, việc mở ngành đào tạo mới được Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện theo các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó có các yêu cầu về cơ sở vật chất và những điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo.
Căn cứ Phụ lục Thông tư số 03/2020/TT-BGDĐT, nhà trường đã đáp ứng chuẩn theo quy định. Các số liệu về diện tích đất bình quân 15,8 m²/sinh viên, diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo 3,4 m²/sinh viên được tính dựa trên diện tích đất, diện tích sàn xây dựng và số lượng sinh viên. Số liệu diện tích sàn lớp học 1,5 m²/sinh viên phù hợp với quy mô các lớp học hiện tại của nhà trường (phòng học từ 25 đến dưới 75 chỗ).
Để đánh giá mức độ đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT (bắt đầu áp dụng từ năm 2030), nhà trường đã cập nhật và rà soát lại các chỉ số theo phương pháp quy định tại Thông tư, bao gồm quy mô người học chính quy quy đổi, vị trí của từng khuôn viên, công năng của từng công trình và phạm vi sử dụng cơ sở vật chất dùng chung.
Nhà trường cho biết, theo số liệu được chốt tại ngày 11/6/2026, tổng diện tích đất thuộc phạm vi rà soát của hai cơ sở là 213.895 m² và quy mô người học chính quy sau quy đổi là khoảng 18.000 người học. Kết quả tự rà soát cho thấy các chỉ số về diện tích đất và diện tích sàn trực tiếp phục vụ đào tạo đáp ứng các ngưỡng tương ứng theo phương pháp và lộ trình quy định tại Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT.
Ngành Hán Nôm có tỷ lệ giảng viên cơ hữu trình độ tiến sĩ đạt 82,6%
Theo hồ sơ đề án mở ngành được đăng tải trên website nhà trường, ngành Hán Nôm (mã ngành 7220104) thuộc Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, có thời gian đào tạo 4 năm. Đây là năm đầu tiên Hán Nôm được tuyển sinh với tư cách một ngành đào tạo đại học độc lập, thay vì là chuyên ngành thuộc ngành Văn học như trước đây.
Điều 4 Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-BGDĐT, để mở ngành đào tạo trình độ đại học, cơ sở đào tạo cần có ít nhất 1 tiến sĩ ngành phù hợp là giảng viên cơ hữu, không trùng với giảng viên cơ hữu là điều kiện mở ngành đào tạo trình độ đại học của các ngành khác. Đồng thời, đáp ứng tối thiểu 5 tiến sĩ cơ hữu tham gia chủ trì giảng dạy chương trình.
Hồ sơ đề án mở ngành Hán Nôm cho thấy, đội ngũ giảng viên gồm 23 giảng viên cơ hữu và 4 giảng viên thỉnh giảng, ngoài ra còn 27 giảng viên tại Khoa Văn học và Ngôn ngữ và các giảng viên thỉnh giảng có chuyên ngành phù hợp tham gia giảng dạy. Trong 23 giảng viên cơ hữu có 5 phó giáo sư, 14 tiến sĩ và 4 thạc sĩ.
Tiến sĩ Nguyễn Đông Triều – Trưởng ngành, Ngành Hán Nôm là Trưởng ban Biên soạn đề án.
Hệ thống các phòng nghiên cứu Hán Nôm đặt tại tòa nhà Nhân văn B1 cơ sở Linh Xuân. Nhà trường sở hữu mạng lưới thư viện lớn, đảm bảo nguồn tài liệu phong phú, trong đó trường bảo đảm quyền truy cập và khai thác các cơ sở dữ liệu quốc gia và quốc tế trực tuyến. Sinh viên và giảng viên ngành Hán Nôm được cấp tài khoản truy cập vào các kho tài liệu điện tử toàn văn, tạp chí khoa học quốc tế uy tín, phục vụ đắc lực cho công tác tra cứu tài liệu tương đương từ các thư viện lớn tại Trung Quốc, Nhật Bản.
Cũng theo hồ sơ đề án mở ngành, trường dự kiến tuyển sinh 40 - 50 sinh viên trong năm đầu tiên. Từ khóa tuyển sinh thứ hai, quy mô tuyển sinh dự kiến tăng lên từ 50 - 60 sinh viên mỗi khóa. Quy mô đào tạo của ngành được định hướng đạt khoảng 250 sinh viên trong vòng 5 năm và khoảng 500 sinh viên trong vòng 10 năm.
Trong Thông báo tuyển sinh năm 2026, số lượng chỉ tiêu cho ngành Hán Nôm là 50. Đáng chú ý, sinh viên năm thứ nhất của các ngành có điểm đầu vào cao hơn hoặc bằng điểm đầu vào của ngành Hán Nôm có thể thực hiện chuyển ngành vào năm thứ hai của chương trình đào tạo.
Năm 2026, ngành Hán Nôm sử dụng 4 tổ hợp xét tuyển, gồm: C00 (Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí), D01 (Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh), D04 (Toán, Ngữ văn, Tiếng Trung) và D14 (Ngữ văn, Lịch sử, Tiếng Anh).
Dự kiến, học phí năm học 2026-2027 của ngành là 729.000 đồng/tín chỉ, tương đương 23 - 33 triệu đồng/năm học.
Ngành Quan hệ công chúng hướng đến quy mô 500 sinh viên trong vòng 5 năm
Theo hồ sơ đề án mở ngành được đăng tải trên website nhà trường, ngành Quan hệ công chúng (mã ngành 7320108) thuộc Khoa Báo chí và Truyền thông, có thời gian đào tạo 3,5 năm, khối lượng 121 tín chỉ (không bao gồm các học phần ngoại ngữ, giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng).
Đội ngũ giảng viên cơ hữu của ngành Quan hệ công chúng là 22 người, trong đó có 1 phó giáo sư, 5 tiến sĩ và 17 thạc sĩ. Tiến sĩ Võ Thị Như Hằng chủ trì ngành.
Bên cạnh đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường cùng tham gia giảng dạy các môn học thuộc khối kiến thức đại cương – liên ngành trong chương trình đào tạo của ngành Quan hệ công chúng, Khoa còn có sự cộng tác thường xuyên của hơn 40 giảng viên thỉnh giảng là các nhà báo, chuyên gia truyền thông giàu kinh nghiệm thực tiễn.
Tất cả giảng viên cơ hữu đều đáp ứng yêu cầu tối thiểu là có bằng Thạc sĩ Truyền thông hay Báo chí, hoặc các ngành tương đương. Đội ngũ giảng viên thỉnh giảng đều có 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan.
Về cơ sở vật chất, ngoài hệ thống giảng đường, hội trường, phòng họp, phòng hội thảo, tọa đàm, phòng máy tính thực hành tin học chuyên ngành, thư viện trung tâm, trường có hệ thống các phòng lab đa phương tiện, phòng lab phát thanh - truyền hình của phòng thực hành nghiên cứu truyền thông đa phương tiện đặt tại tòa nhà Nhân văn B1 cơ sở Linh Xuân.
Theo kế hoạch, ngành tuyển 80 sinh viên trong khóa đầu tiên vào năm 2026. Từ khóa tuyển sinh thứ 2, quy mô tuyển sinh sẽ được nâng lên 100 - 120 sinh viên mỗi khóa. Trong dài hạn, quy mô đào tạo được định hướng đạt khoảng 400 - 500 sinh viên trong vòng 5 năm và khoảng 1.000 sinh viên trong vòng 10 năm.
Năm 2026, ngành Quan hệ công chúng sử dụng ba tổ hợp xét tuyển, gồm: D01 (Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh), D14 (Ngữ văn, Lịch sử, Tiếng Anh) và D15 (Ngữ văn, Địa lí, Tiếng Anh).
Dự kiến, học phí năm học 2026-2027 của ngành là 832.000 đồng/tín chỉ, tương đương 28 - 37 triệu đồng/năm học.