Ngân sách khoa học công nghệ đầu tư cho ngành giáo dục ngày càng giảm

Giáo dục 24h

Thùy Linh

(GDVN) - Theo kết quả nghiên cứu, thực trạng tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ của các trường đại học hiện nay thực sự rất khiêm tốn.

Tại Hội nghị “Phát triển khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2017-2025" diễn ra ngày 29/7, Phó giáo sư Vũ Văn Tích - Trưởng nhóm nghiên cứu, Đại học Quốc gia Hà Nội đã thay mặt nhóm trình bày kết quả nghiên cứu khi tiến hành khảo sát hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2011 - 2016.

Theo kết quả nghiên cứu, thực trạng tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ của các trường đại học hiện nay thực sự rất khiêm tốn.

Nhóm nghiên cứu cũng chỉ rõ, đầu tư tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ trong cả nước bình quân cả giai đoạn 2011-2015 vào khoảng 1,7% ngân sách Nhà nước - tương đương 0,4% GDP, thấp so với các nước trong khu vực: Thái Lan là 0,48%; Malaysia 1,26% và Singapore là 2,2% GDP (theo tính toán của World Bank năm 2016).

Đầu tư tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ trong ngành Giáo dục trong tương quan với một số bộ, ngành của cả nước được thống kê bởi Ủy ban Khoa học công nghệ và Môi trường Quốc hội, ngày 6/10/2015 như sau:

Dưới đây là bảng Tổng chi ngân sách sự nghiệp khoa học công nghệ của các cơ quan trung ương giai đoạn 2011-2015 (Đơn vị: Triệu đồng):

TT

TÊN ĐƠN VỊ

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Giai đoạn
2011-2015

1

Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia HCM

38.490

33.050

40.480

28.580

21.660

162.260

2

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

781.314

822.480

693.540

683.280

743.590

3.724.204

3

Bộ Giao thông vận tải

57.320

62.240

58.630

59.130

54.870

292.190

4

Bộ Công thương

241.797

281.480

307.140

304.430

360.820

1.495.667

5

Bộ Xây dựng

69.780

80.440

81.260

89.050

149.500

470.030

6

Bộ Y tế

91.965

125.860

119.670

98.280

133.340

569.115

7

Bộ Khoa học và Công nghệ

549.455

1.263.660

1.260.780

1.395.900

2.528.920

6.998.715

8

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

27.140

32.490

30.490

29.330

31900

151.350

9

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

32.950

37.420

32.830

35.560

35.630

174.390

10

Bộ Tài nguyên và Môi trường

122.140

231.290

230.080

225.250

274.210

1.082.970

11

Bộ Thông tin và Truyền Thông

17.970

21.510

17.900

13.160

15.130

85.670

12

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

391.120

485.330

555.110

607.010

820.240

2.858.810

13

Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

224.280

233.460

282.490

279.170

366.980

1.386.380

14

Bộ Giáo dục và Đào tạo

272.749

326.940

239.060

238.790

206.370

1.283.909

15

Đại học Quốc gia Hà Nội

66.406

68.250

68.640

50.600

52.090

305.986

16

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

65.630

137.980

73.090

61.390

56.510

394.600

(Nguồn: Báo cáo Giám sát việc phân bổ và sử dụng ngân sách KHCN giai đoạn 2011- 2015, UB KHCN&MT, Quốc hội, ngày 6/10/2015)

Về thực trạng kinh phí đầu tư trực tiếp cho hoạt động khoa học công nghệ, ông Tích nêu rõ: “Kinh phí đầu tư của các trường đại học là ít nhưng số lượng các sản phẩm khoa học công nghệ lại nhiều hơn so với các viện nghiên cứu trong cả nước”.

Đáng chú ý, kinh phí ngân sách khoa học công nghệ đầu tư cho hoạt động khoa học công nghệ của ngành Giáo dục là thấp.

Ngân sách khoa học công nghệ đầu tư cho ngành Giáo dục trong những năm qua có xu thế giảm, trong khi số lượng các nhà khoa học trong ngành ngày càng tăng, số lượng các sản phẩm khoa học công nghệ của các trường đại học đóng góp cho tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia là lớn.

Đặc biệt với sự tiến bộ của khoa học công nghệ ngày càng nhanh, nhu cầu nghiên cứu trong các trường đại học ngày càng gia tăng.

Xét về tổng mức đầu tư, ngành Giáo dục được đầu tư thấp hơn một số bộ, ngành như Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương.

Nếu tính bình quân cho một đơn vị nghiên cứu của ngành Giáo dục, con số đầu tư sẽ thấp hơn nhiều so với các đơn vị nghiên cứu của một số bộ ngành khác.

Ngân sách khoa học công nghệ đầu tư cho ngành giáo dục ngày càng giảm (Ảnh minh họa: Báo Tiền phong)

Để phát triển các trường đại học nơi tạo ra phần lớn nguồn nhân lực khoa học công nghệ, thực trạng đầu tư thấp cho khoa học công nghệ cần được thay đổi, khoa học công nghệ trong các cơ sở giáo dục cần được chú trọng hơn và đầu tư nhiều hơn.

Có như vậy, chúng ta mới có thể bắt kịp được các nước trong khu vực về giáo dục đại học
”, nhóm nghiên cứu Đại học Quốc gia Hà Nội đề xuất.
 
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng cho biết, số liệu đầu tư cho tăng cường năng lực nghiên cứu của các đại học là thấp, đồng thời số lượng đầu tư phát triển cho khoa học công nghệ cũng không đáng kể, ngay cả đối với giáo dục đào tạo.

Cụ thể, bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015 kinh phí đầu tư cho tăng cường năng lực nghiên cứu từ ngân sách sự nghiệp khoa học công nghệ vào khoảng 30-50 tỷ cho 61 đơn vị trực thuộc Bộ.

Nhóm nghiên cứu đánh giá, việc phân bổ kinh phí này chưa là chưa hợp lý, phần lớn dựa vào số cấp ban đầu và chưa theo nguyên tắc gắn theo sản phẩm đầu ra, chưa phân bổ theo số lượng cán bộ nghiên cứu, do vậy khó có thể dẫn tới đạt được mục tiêu cho chiến lược phát triển tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia, cũng như thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất nước.

Đồng tình với những ý kiến nêu lên thực trạng của nghiên cứu khoa học trong trường đại học, Nhà giáo ưu tú Lê Công Cơ – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường Đại học Duy Tân – trường đại học Việt Nam xếp thứ 4 về số lượng bài báo khoa học quốc tế được công bố chia sẻ: 

Biết rằng nghiên cứu khoa học và công nghệ sẽ nâng chất lượng giảng dạy đại học vì giáo dục đại học là phải tạo ra tri thức mới, mà muốn như vậy bắt buộc phải nghiên cứu nhưng khi bắt tay vào các trường, đặc biệt là trường đại học dân lập gặp nhiều khó khăn về kinh phí, nguồn vốn, cơ sở phòng thí nghiệm thực hiện nghiên cứu.

Bộ trưởng Nhạ: “Muốn được cá to thì phải có cần câu tốt”

Từ đó, ông Cơ nêu cụ thể một số hướng giải quyết cho các vấn đề mà chính trường phải đối mặt trong 5 năm gần đây.

5 năm qua nhà trường luôn huy động tối đa nguồn lực, sẵn sàng đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho giảng viên sang nghiên cứu với nhóm nhà khoa học ở nước ngoài; mở rộng nhóm nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Qua đó, tận dụng được cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu.

Hiện, Trường Đại học Duy Tân cũng đang sử dụng phòng thí nghiệm của các đại học ở Đài Loan, Hàn Quốc, Mỹ. Thực sự ngân sách của trường không đủ để đầu tư 100%
”, ông Cơ chia sẻ.

Do đó, thầy Cơ đề xuất, Bộ nên chăng có chính sách cho các trường đại học sử dụng chung phòng thí nghiệm.
 
Và một trong những quyết sách của trường là: Nếu giảng viên không nghiên cứu, sẽ giảm dần giờ dạy. Nếu trong nhiều năm liền không nghiên cứu sẽ chuyển sang bộ phận khác.
 
Về vấn đề này, ông Francisco Marmolejo, chuyên gia cao cấp về lĩnh vực giáo dục đại học tại Ngân hàng Thế giới cũng mang đến hội nghị nhiều bài học kinh nghiệm phát triển khoa học công nghệ của các trường đại học trên thế giới.

Vị chuyên gia người Mỹ này cho rằng, một trong các giải pháp đầu tiên là cần thực hiện đổi mới cơ chế tài chính với sự quản lý mạnh mẽ và quá trình ứng dụng rõ ràng để đẩy mạnh đầu tư vào khu vực tư nhân trong nghiên cứu và phát triển.

Thứ hai, cần gây dựng ngân sách để khởi xướng những thay đổi trong văn hóa hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp.

Thứ ba, thành lập các văn phòng chuyển giao công nghệ để khuyến khích các nhà nghiên cứu thương nghiệp hóa nghiên cứu và phát triển công, đồng thời kích thích các nghiên cứu ứng dụng.

Cuối cùng là một chính sách cấp ngân sách nghiên cứu dựa trên chất lượng, sự rõ ràng và đơn giản sẽ giúp thu hút các nhà khoa học đang làm việc ở nước ngoài.

Ngoài ra, ông Francisco cũng đưa ra gợi ý một số lĩnh vực nghiên cứu nên ưu tiên như: công nghệ sinh học và thực phẩm, y tế, sản xuất và thiết kế, công nghệ truyền thông và thông tin, phát triển bền vững, kinh doanh, Chính phủ và giáo dục.

Phản hồi kiến nghị của các trường đại học, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ chỉ rõ: việc lựa chọn định hướng nghiên cứu trọng tâm, xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh và tìm thị trường cho sản phẩm nghiên cứu là trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học. 

Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đứng ra đặt hàng các mặt hàng nhà nước cần chứ không đứng ra đặt hàng tất cả. Cơ chế ưu tiên, đãi ngộ các nhà khoa học cũng phải là chính sách chiến lược của nhà trường.

Theo ông Nhạ, phải hình thành nhận thức trong lãnh đạo, trong nhà khoa học, trong giảng viên thì hoạt động nghiên cứu khoa học mới có bước tiến vượt bậc được.

Tuy nhiên, Bộ trưởng khuyến cáo các nhà trường: Không phải trường nào cũng có chiến lược nghiên cứu khoa học đỉnh cao, mà phải tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện của trường, nhưng đã là trường đại học phải có nghiên cứu khoa học. 

Trước hết nghiên cứu chuyển giao công nghệ đào tạo, không phải cứ to tát mới là nghiên cứu, tùy lộ trình nhưng phải đưa văn hóa nghiên cứu vào trường đại học. Từng bước đưa hoạt động nghiên cứu khoa học một cách có chiến lược và thiết thực, đưa ra được cơ chế tạo ra nguồn lực và động lực cho người thực hiện.
 


































Thùy Linh
Từ khóa :
kinh phí , nghiên cứu khoa học , động lực , nguồn lực , chuyển giao công nghệ
Ngân sách khoa học công nghệ đầu tư cho ngành giáo dục ngày càng giảm
Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
Xem thêm bình luận
Tin khác