EMagazine

8 "đại học" được nâng cấp từ "trường đại học" đang cách chuẩn bao xa?

8 "đại học" được nâng cấp từ "trường đại học" đang cách chuẩn bao xa?

21/04/2026 06:25
Doãn Nhàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Khảo sát 8 đại học chuyển từ mô hình “trường đại học” cho thấy sự phân hóa rõ rệt, với nhiều tiêu chí còn khoảng cách đáng kể.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15.

Trong đó, Nghị định số 91/2026/NĐ-CP đưa ra nhiều tiêu chí cụ thể hơn so với quy định trước đây về điều kiện được công nhận là đại học.

Việc nâng chuẩn không chỉ là “điều kiện đầu vào” cho các trường đang có ý định chuyển đổi, mà còn trở thành thước đo ngược để nhìn lại 8 đại học đã “lên đời” từ trường đại học, gồm: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học Trà Vinh, Đại học Duy Tân và Đại học Phenikaa.

Nghị định yêu cầu, các đại học đã có quyết định chuyển từ trường đại học thành đại học xây dựng lộ trình đáp ứng các điều kiện mới trong thời hạn 5 năm kể từ khi Nghị định có hiệu lực.

Theo quy định tại Nghị định 91, để trở thành “đại học”, cơ sở giáo dục phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí khắt khe về tổ chức, đội ngũ, đào tạo, nghiên cứu và tài chính.

So với quy định năm 2019 (theo Nghị định 99/2019/NĐ-CP), điểm đáng chú ý là lần đầu tiên các tiêu chí về chất lượng được định lượng rõ ràng, đặc biệt ở các trục: 25 ngành đào tạo tiến sĩ, tối thiểu 60% giảng viên có trình độ tiến sĩ, tối thiểu 1 công bố khoa học/giảng viên/năm, tối thiểu 20% nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Chi tiết các tiêu chí để trường đại học chuyển thành đại học như sau:

Nhóm tiêu chí
Tiêu chí cụ thể
Nghị định 99/2019/NĐ-CP
Nghị định 91/2026/NĐ-CP
Tổ chức - quy mô
Số trường thành viên
Ít nhất 3 trường
Ít nhất 3 trường
Quy mô người học
15.000
15.000
Ngành đào tạo tiến sĩ
10 ngành
25 ngành
Đội ngũ giảng viên
Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ
Không quy định cụ thể
Ít nhất 60%
Tỷ lệ giảng viên quốc tế
Không quy định cụ thể
Ít nhất 5%
Người học - quốc tế hóa
Tỷ lệ người học sau đại học
Không quy định cụ thể
Ít nhất 20%
Tỷ lệ sinh viên quốc tế
Không quy định cụ thể
Ít nhất 3%
Nghiên cứu khoa học
Sản phẩm khoa học bình quân/giảng viên/năm
Không quy định cụ thể
Ít nhất 1 (bài báo WoS/Scopus, sách, sáng chế...)
Tài chính - đổi mới sáng tạo
Tỷ lệ thu từ khoa học công nghệ & đổi mới sáng tạo
Không quy định cụ thể
Ít nhất 20%

Phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam thực hiện khảo sát dữ liệu công khai (tính đến tháng 4/2026, bao gồm dữ liệu công khai trên website và Báo cáo thường niên năm 2025) của 8 đại học đã chuyển đổi từ mô hình “trường đại học” (theo Luật 34/2018/QH14) gồm: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học Trà Vinh, Đại học Duy Tân và Đại học Phenikaa cho thấy một bức tranh phân hóa rõ rệt, với rất ít đơn vị tiệm cận và nhiều tiêu chí còn khoảng cách đáng kể.

nang-cap-truong-dh-thanh-dh-6.png
Số liệu tính đến tháng 4/2026, bao gồm dữ liệu công khai trên website và Báo cáo thường niên năm 2025. Thực hiện: Doãn Nhàn

Nhiều đại học mới đạt nửa số ngành tiến sĩ, công bố có nơi chỉ 0,2 bài/giảng viên/năm

nang-cap-truong-dh-thanh-dh.png

Tiêu chí mới yêu cầu các đại học phải có ít nhất 25 ngành đào tạo tiến sĩ và mỗi giảng viên phải đạt bình quân tối thiểu 1 công bố khoa học/năm.

Khảo sát từ báo cáo thường niên (công bố năm 2025) và thông tin công khai cho thấy, có trường mạnh nghiên cứu nhưng thiếu quy mô đào tạo tiến sĩ; ngược lại, có trường mở rộng ngành học nhưng chưa theo kịp về chất lượng công bố.

Cụ thể, Đại học Bách khoa Hà Nội là trường hợp duy nhất trong 8 đại học vượt cả hai tiêu chí. Nhà trường hiện có 32 ngành đào tạo tiến sĩ, đồng thời đạt mức bình quân 1,03 công bố/giảng viên/năm, tức cơ bản đáp ứng yêu cầu của yêu cầu tại Nghị định 91.

Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) dù đã vượt ngưỡng về quy mô với 26 ngành tiến sĩ, song năng lực công bố quốc tế vẫn là điểm nghẽn. Mức bình quân hiện chỉ khoảng 0,5 bài/giảng viên/năm, tương đương hiện mới đạt một nửa yêu cầu.

Một trường hợp đáng chú ý khác là Đại học Cần Thơ. Với 22 chương trình đào tạo tiến sĩ (trong đó có 1 chương trình quốc tế), đơn vị này đang tiệm cận ngưỡng quy định. Năng lực nghiên cứu của Đại học Cần Thơ cũng tiệm cận với yêu cầu của Nghị định 91 đặt ra. Cụ thể, năm 2024, bình quân công bố WoS, Scopus của giảng viên Đại học Cần Thơ (theo Báo cáo thường niên năm 2025) đạt 0,9 bài/người.

"Năm 2025, Đại học Cần Thơ lần đầu tiên vượt mốc 2.500 công bố khoa học, cụ thể 2.644 bài báo, gồm 1.335 bài báo quốc tế (trong đó hơn 700 bài báo thuộc Scopus/WoS) và 1.309 bài báo trong nước", trích Báo cáo thường niên năm 2025 - Đại học Cần Thơ.

Sinh viên và Giảng viên Đại học Cần Thơ. Ảnh: website nhà trường
Sinh viên và Giảng viên Đại học Cần Thơ. Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, phần lớn các cơ sở như Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Trà Vinh, Đại học Duy Tân hay Đại học Phenikaa vẫn đang ở khá xa chuẩn mới (theo Nghị định số 91/2026/NĐ-CP) về số ngành đào tạo tiến sĩ, khi mới dừng ở khoảng 10-11 ngành, tức chưa đạt một nửa yêu cầu.

Tuy nhiên, nếu xét về năng lực công bố khoa học, bức tranh lại cho thấy sự phân hóa rõ nét. Một số đại học dù quy mô đào tạo tiến sĩ còn khiêm tốn nhưng đã hình thành nền tảng nghiên cứu tương đối tốt. Cụ thể, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đạt bình quân khoảng 1,3 công bố/giảng viên/năm; Đại học Duy Tân đạt 1,24 công bố/giảng viên/năm, tức vượt chuẩn yêu cầu; còn Đại học Phenikaa đạt khoảng 1 công bố/giảng viên/năm, chạm ngưỡng tiêu chí.

Ở chiều ngược lại, khoảng cách với yêu cầu của Nghị định 91 vẫn còn rất lớn tại một số cơ sở. Đại học Công nghiệp Hà Nội hiện chỉ đạt khoảng 0,38 công bố/giảng viên/năm (413 công bố trên 1.091 giảng viên). Thấp nhất trong nhóm khảo sát là Đại học Trà Vinh với mức bình quân khoảng 0,2 công bố/giảng viên/năm, tương đương 1/5 chuẩn.

Bài toán 60% giảng viên trình độ tiến sĩ

2.png

Tiêu chí tiếp tục nâng “trần” yêu cầu đội ngũ lên mức ít nhất 60% giảng viên có trình độ tiến sĩ, cao hơn đáng kể so với Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT, vốn quy định ngưỡng tối thiểu 50% đối với các cơ sở đào tạo tiến sĩ (không thuộc lĩnh vực đặc thù) từ năm 2030.

Dữ liệu khảo sát cho thấy, trong số 8 đại học trên, chỉ có 2 đơn vị đã hình thành được đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ ở mức đáp ứng yêu cầu là Đại học Bách khoa Hà Nội với 76,19% và Đại học Kinh tế Quốc dân đạt 63,87%.

Tiệm cận ngưỡng là Đại học Cần Thơ với 58,5%, chỉ còn thiếu một khoảng cách ngắn để đạt chuẩn.

Trong khi đó, phần lớn các đại học còn lại vẫn ở khá xa so với yêu cầu mới. Cụ thể, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đạt 44,14%, Đại học Phenikaa đạt 45,62%; và 3 đại học còn lại mới chỉ đạt khoảng một nửa yêu cầu: Đại học Duy Tân (33,82%), Đại học Công nghiệp Hà Nội (33,45%), Đại học Trà Vinh (33,30%).

“Điểm nghẽn 20%” doanh thu khoa học công nghệ

3.png

Trong các tiêu chí ở Nghị định 91 đặt ra, yêu cầu tối thiểu 20% nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là “thước đo khó nhất”, bởi nó không chỉ phản ánh năng lực nghiên cứu mà còn cho thấy khả năng thương mại hóa và chuyển giao tri thức của các đại học.

Dữ liệu khảo sát cho thấy, chỉ duy nhất Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh vượt ngưỡng này với tỷ lệ 27,6%. Năm 2024, tổng thu của trường đạt khoảng 1.887 tỷ đồng, trong đó nguồn thu từ khoa học và công nghệ lên tới 520,85 tỷ đồng.

Các chỉ số đánh giá về hoạt động khoa học và công nghệ của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, theo Báo cáo thường niên năm 2025. Ảnh chụp màn hình
Các chỉ số đánh giá về hoạt động khoa học và công nghệ của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, theo Báo cáo thường niên năm 2025. Ảnh chụp màn hình

Tiếp đến là Đại học Cần Thơ là đơn vị tiệm cận nhất với 19% (khoảng 215,7 tỷ đồng trên tổng thu hơn 1.115 tỷ đồng năm 2024).

Trong khi đó, phần lớn các trường còn lại đều ở mức thấp, chủ yếu dưới 10%.

Cụ thể, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết tỉ trọng thu từ các hoạt động khoa học và công nghệ trên tổng thu tính trung bình trong 3 năm gần nhất, tính đến năm 2024 đạt 9,3%. Năm 2024, tổng thu hoạt động của đại học này đạt 1.502,68 tỷ đồng, trong đó thu khoa học và công nghệ đạt 101,1 tỷ đồng.

Đại học Phenikaa đạt 7,72%, Đại học Kinh tế Quốc dân đạt 5%, còn Đại học Công nghiệp Hà Nội đạt 4,4% (năm 2024, tổng thu hoạt động của Đại học Công nghiệp Hà Nội đạt 925.872 tỷ đồng, trong đó thu khoa học và công nghệ đạt 29.125,0 tỷ đồng).

Thấp nhất là Đại học Trà Vinh với 3,3% và Đại học Duy Tân chỉ 0,64%.

Trong đó, Đại học Trà Vinh cho biết tỉ trọng thu từ các hoạt động khoa học và công nghệ trên tổng thu, tính trung bình trong 3 năm gần nhất, tính đến năm 2024 đạt 3,3%. Năm 2024, tổng thu hoạt động của đại học này đạt 934 tỷ đồng, trong đó thu khoa học và công nghệ đạt 12 tỷ đồng.

Tại Báo cáo thường niên năm 2025, Đại học Duy Tân cho biết tỉ trọng thu khoa học - công nghệ đạt 0,64%. Năm 2024, tổng thu hoạt động của đại học này đạt 894,606 tỷ đồng, trong đó thu khoa học và công nghệ đạt 12,688 tỷ đồng.

Một điểm đáng chú ý là cả Đại học Kinh tế Quốc dân và Đại học Phenikaa đều công bố tỷ lệ phần trăm nhưng không cung cấp chi tiết cơ cấu tổng thu và các nguồn thu thành phần trong báo cáo thường niên (đăng tải trên website) khiến việc đối sánh đầy đủ gặp khó khăn.

Nhìn tổng thể, bức tranh tài chính cho thấy nguồn thu của các đại học vẫn phụ thuộc lớn vào học phí, trong khi hoạt động khoa học - công nghệ chưa thực sự trở thành động lực tạo nguồn thu bền vững.

Trong bối cảnh đó, để đạt những yêu cầu của Nghị định 91 đặt ra trong vài năm tới, các đại học sẽ phải tái cấu trúc mô hình tài chính theo hướng giảm phụ thuộc vào đào tạo thuần túy, đồng thời đầu tư mạnh hơn cho nghiên cứu ứng dụng và đổi mới sáng tạo - lĩnh vực đòi hỏi thời gian tích lũy dài và chiến lược phát triển nhất quán.

Ngoài ra, Nghị định còn bổ sung các tiêu chí mới như tỷ lệ người học sau đại học (≥20%), giảng viên quốc tế (≥5%) và sinh viên quốc tế (≥3%), vốn là những yêu cầu trước đây chưa được quy định cụ thể. Đây tiếp tục là những “bài toán” mới đối với các đại học trong lộ trình nâng để đạt chuẩn.

Ngoài các tiêu chí chung, Nghị định 91/2026/NĐ-CP còn quy định cụ thể điều kiện đối với các trường thuộc cơ sở giáo dục đại học khi xét công nhận đại học.

Doãn Nhàn