Hiện nay, Việt Nam có 13 đại học, bao gồm 2 đại học quốc gia, 3 đại học vùng và 8 đại học được nâng cấp lên từ trường đại học (trong đó có 6 đại học công và 2 đại học tư).
Theo Luật Giáo dục đại học, “trường đại học” và “đại học” là hai khái niệm khác nhau. Trong đó, trường đại học, học viện là cơ sở đào tạo và nghiên cứu đa ngành; còn đại học là cơ sở đào tạo, nghiên cứu đa lĩnh vực, gồm các trường đại học thành viên và khoa trực thuộc.
Hai đại học quốc gia và ba đại học vùng hiện nay được thành lập, hoạt động trên nền tảng các trường đại học thành viên, do Thủ tướng Chính phủ thành lập, có tư cách pháp nhân và quyền tự chủ theo quy định pháp luật.
Trong khi đó, các đại học được nâng cấp từ trường đại học (theo Luật 34/2018/QH14) hình thành trên cơ sở một cơ sở giáo dục đại học đã phát triển, đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định.
Khung pháp lý mới và yêu cầu mới ngày càng siết chặt
Theo Nghị định 99/2019/NĐ-CP, để được chuyển từ trường đại học lên đại học, cơ sở giáo dục đại học phải đáp ứng các điều kiện:
- Trường đại học đã được công nhận đạt chuẩn chất lượng cơ sở giáo dục đại học bởi tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục hợp pháp;
- Có ít nhất 3 trường thuộc trường đại học được thành lập theo quy định; có ít nhất 10 ngành đào tạo đến trình độ tiến sĩ; có quy mô đào tạo chính quy trên 15.000 người;
- Có ý kiến chấp thuận của cơ quan quản lý trực tiếp đối với trường đại học công lập; có sự đồng thuận của các nhà đầu tư đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp đối với trường đại học tư thục, trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận.
Ngày 2/12/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1512/QĐ-TTg, chuyển Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thành Đại học Bách khoa Hà Nội. Đây là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên chuyển đổi thành công từ mô hình trường đại học sang đại học theo Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018 (Luật 34).
Từ năm 2023 đến nay, sau Đại học Bách khoa Hà Nội, đã có thêm 7 cơ sở được nâng cấp lên đại học, gồm: Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học Trà Vinh và hai đại học tư thục là Đại học Duy Tân, Đại học Phenikaa.
Ngày 10/12/2025, Quốc hội thông qua Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) số 125/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Cuối tháng 3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 91/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học 125/2025/QH15.
Trong đó, Nghị định lần này đưa ra nhiều tiêu chí khắt khe hơn so với quy định trước đây về điều kiện được công nhận là đại học, đồng thời cũng đưa ra các điều kiện để được công nhận là đại học vùng, đại học quốc gia.
Đáng chú ý, các tiêu chí không chỉ dừng ở quy mô mà mở rộng mạnh sang chất lượng đội ngũ, nghiên cứu khoa học, quốc tế hóa và năng lực tài chính.
Cụ thể, số ngành đào tạo tiến sĩ tăng từ 10 lên 25; yêu cầu ít nhất 60% giảng viên có trình độ tiến sĩ; tối thiểu 5% giảng viên quốc tế; ít nhất 20% người học sau đại học; và nguồn thu từ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo phải đạt tối thiểu 20%.
Chi tiết các tiêu chí để trường đại học chuyển thành đại học như sau:
| Nhóm tiêu chí | Tiêu chí cụ thể | Nghị định 99/2019/NĐ-CP | Nghị định 91/2026/NĐ-CP |
| Tổ chức - quy mô | Số trường thành viên | Ít nhất 3 trường | Ít nhất 3 trường |
| Quy mô người học | 15.000 | 15.000 | |
| Ngành đào tạo tiến sĩ | 10 ngành | 25 ngành | |
| Đội ngũ giảng viên | Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ | Không quy định cụ thể | Ít nhất 60% |
| Tỷ lệ giảng viên quốc tế | Không quy định cụ thể | Ít nhất 5% | |
| Người học - quốc tế hóa | Tỷ lệ người học sau đại học | Không quy định cụ thể | Ít nhất 20% |
| Tỷ lệ sinh viên quốc tế | Không quy định cụ thể | Ít nhất 3% | |
| Nghiên cứu khoa học | Sản phẩm khoa học bình quân/giảng viên/năm | Không quy định cụ thể | Ít nhất 1 (bài báo WoS/Scopus, sách, sáng chế...) |
| Tài chính - đổi mới sáng tạo | Tỷ lệ thu từ Khoa học công nghệ & đổi mới sáng tạo | Không quy định cụ thể | Ít nhất 20% |
Điều kiện đối với trường thành viên trong đại học
Ngoài các tiêu chí chung, Nghị định 91/2026/NĐ-CP quy định cụ thể điều kiện đối với các trường thuộc cơ sở giáo dục đại học khi xét công nhận đại học:
| Nhóm điều kiện | Tiêu chí cụ thể | Yêu cầu |
| Điều kiện cơ bản | Ngành đào tạo | Có ít nhất 05 ngành đào tạo cùng lĩnh vực ở mỗi trình độ của giáo dục đại học |
| Quy mô đào tạo | Có quy mô đào tạo chính quy từ 3.000 người học trở lên | |
| Năng lực Khoa học công nghệ & đổi mới sáng tạo | Đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 2 | |
| Năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo | Chủ nhiệm nhiệm vụ Khoa học công nghệ | Có cán bộ cơ hữu là chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp bộ hoặc cấp quốc gia, duy trì liên tục trong 3 năm gần nhất |
| Sản phẩm khoa học bình quân | Bình quân mỗi giảng viên cơ hữu có ít nhất 01 sản phẩm khoa học/năm (bài báo WoS/Scopus, sách, bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích) | |
| Nhóm nghiên cứu mạnh | Có ít nhất 01 nhóm nghiên cứu mạnh được thành lập và công nhận theo quy định | |
| Yêu cầu về thời gian duy trì | Tính ổn định | Các điều kiện tại khoản 1 và khoản 2 phải được duy trì liên tục ít nhất 03 năm tính đến ngày 31/12 của năm liền kề trước năm nộp hồ sơ |
| Điều kiện bổ sung (khối ngành sức khỏe) | Cơ sở thực hành | Phải có cơ sở thực hành là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng yêu cầu theo quy định về tổ chức đào tạo thực hành trong khối ngành sức khỏe |
Nghị định yêu cầu, các đại học đã có quyết định chuyển từ trường đại học thành đại học xây dựng lộ trình đáp ứng các điều kiện mới trong thời hạn 5 năm kể từ khi Nghị định có hiệu lực.
Điều kiện riêng cho đại học quốc gia, đại học vùng
Bên cạnh tiêu chí chung, Nghị định cũng đặt ra yêu cầu riêng đối với đại học quốc gia và đại học vùng.
| Nhóm điều kiện | Tiêu chí cụ thể | Yêu cầu |
| Phê duyệt đề án | Đề án phát triển | Được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển thành đại học vùng hoặc đại học quốc gia |
| Nội dung đề án | Phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm, quy hoạch vùng; xác định rõ sự cần thiết, mục tiêu, chỉ tiêu phát triển, nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực và lộ trình thực hiện | |
| Tổ chức thành viên | Số lượng trường thành viên | Có ít nhất 05 trường đại học thành viên |
| Chất lượng và điều kiện | Các trường thành viên phải đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học (đối với cơ sở có đào tạo tiến sĩ) hoặc đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 5 | |
| Yêu cầu duy trì | Các điều kiện phải được duy trì liên tục ít nhất 03 năm tính đến ngày 31/12 của năm liền kề trước năm nộp hồ sơ | |
| Lĩnh vực đào tạo | Đối với đại học quốc gia | Tổ chức đào tạo ở tất cả các trình độ của giáo dục đại học đối với các lĩnh vực: khoa học tự nhiên; toán và thống kê; kỹ thuật; máy tính và công nghệ thông tin; khoa học xã hội và hành vi; nhân văn; kinh doanh và quản lý; sức khỏe |
| Điều kiện chung | Đối với đại học vùng | Tổ chức đào tạo ở tất cả các trình độ của giáo dục đại học, nhiều ngành thuộc các lĩnh vực khác nhau, phù hợp với chiến lược phát triển nguồn nhân lực của vùng hoặc liên kết vùng |
| Tiêu chí đại học | Đồng thời phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được công nhận là đại học theo quy định tại Điều 4 Nghị định |
Từ “nâng cấp” đến “nâng chất”
Tiến sĩ Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường Đại học Thành Đô cho rằng, định hướng siết chặt tiêu chí công nhận đại học là phù hợp với thông lệ quốc tế.
Theo chuyên gia, các yêu cầu mới tập trung vào chất lượng đội ngũ, năng lực nghiên cứu khoa học và mức độ quốc tế hóa là cần thiết, bởi đại học đúng nghĩa phải là mô hình đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó nghiên cứu và đào tạo sau đại học giữ vai trò trung tâm.
Đây cũng là cơ hội để hệ thống giáo dục đại học Việt Nam tái cấu trúc theo hướng tinh gọn và phân tầng rõ ràng hơn, trong đó các đại học thực sự đóng vai trò dẫn dắt về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
“Đã có mục tiêu thì các cơ sở phải nỗ lực phấn đấu, từng bước nâng cao năng lực học thuật, nghiên cứu và hội nhập để xứng với danh xưng đại học”, Tiến sĩ Phạm Hiệp nhấn mạnh.
Theo Quyết định số 452/QĐ-TTg về quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, mục tiêu đặt ra là tiếp tục phát triển các đại học quốc gia theo định hướng nghiên cứu, vươn tầm châu Á; đồng thời từng bước nâng cấp Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng thành đại học quốc gia.
Ở cấp vùng, nhiều cơ sở như Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Nha Trang, Trường Đại học Tây Nguyên, Đại học Cần Thơ được định hướng trở thành nòng cốt để phát triển các đại học vùng, gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từng khu vực.
Tầm nhìn đến năm 2050, hệ thống đại học Việt Nam được kỳ vọng hình thành các trung tâm đào tạo, nghiên cứu đạt đẳng cấp quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ và y dược.
Như vậy, việc chuyển đổi từ “trường đại học” sang “đại học” không đơn thuần là thay đổi tên gọi hay mô hình tổ chức, mà đi kèm với những yêu cầu cao hơn về chất lượng, năng lực nghiên cứu và mức độ hội nhập quốc tế.