Dự kiến ít nhất 7 tiến sĩ chủ trì mỗi CTĐT: Cần làm rõ vai trò “chủ trì”, tránh hợp thức hóa hồ sơ

20/04/2026 06:25
ĐÀO HIỀN
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo chuyên gia, quy định mỗi chương trình đào tạo phải có 7 giảng viên trình độ tiến sĩ chủ trì sẽ góp phần nâng cao chuẩn chất lượng đào tạo.

Một trong những nội dung đang thu hút nhiều sự quan tâm trong Dự thảo Thông tư về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học là quy định mỗi chương trình đào tạo trình độ đại học phải có tối thiểu 7 giảng viên có trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì trong đó có 02 giảng viên được giao chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo. Riêng đối với chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, pháp luật phải có ít nhất 07 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành đúng hoặc ngành gần chủ trì.

Đây được xem là tiêu chí quan trọng nhằm nâng cao chuẩn chất lượng đào tạo, đồng thời hướng tới chuẩn hóa đội ngũ giảng viên theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Nguy cơ “đủ số, thiếu chất” nếu thiếu cơ chế giám sát thực chất

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Đỗ Văn Đỉnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sao Đỏ cho rằng, quy định phải có tối thiểu 7 giảng viên có trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì chương trình đào tạo là một chủ trương tích cực, thể hiện định hướng nâng cao chất lượng giáo dục đại học theo chiều sâu.

Theo thầy, yêu cầu này giúp bảo đảm mỗi hợp phần của chương trình đều có giảng viên có chuyên môn phù hợp phụ trách, qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện, tăng cường năng lực học thuật, năng lực nghiên cứu và góp phần cải thiện chất lượng đào tạo trong suốt quá trình triển khai.

Tuy nhiên, thầy Đỉnh cũng cho rằng cần làm rõ hơn khái niệm “chủ trì chương trình đào tạo”. Nếu quy định 7 tiến sĩ phải chủ trì các chương trình riêng biệt, không được đồng thời phụ trách các ngành gần, sẽ tạo áp lực đáng kể đối với nhiều cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là những trường còn hạn chế về nguồn nhân lực trình độ cao. Điều này có thể gây khó khăn trong việc duy trì các chương trình đào tạo hiện có.

Bên cạnh đó, việc thu hút, đào tạo và giữ chân đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ cũng đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn cùng với cơ chế, chính sách phù hợp.

Theo Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sao Đỏ, nếu quy định chỉ dừng lại ở điều kiện đủ về số lượng mà chưa kiểm soát chặt chẽ mức độ tham gia thực chất của giảng viên trong quá trình xây dựng và triển khai chương trình đào tạo, rất dễ dẫn đến tình trạng “hợp thức hóa” đội ngũ.

“Trong thực tế, nếu thiếu cơ chế giám sát phù hợp, có thể phát sinh tình trạng giảng viên chỉ tham gia mang tính hình thức nhằm đáp ứng điều kiện hồ sơ, thay vì đóng góp thực chất vào hoạt động đào tạo”, thầy Đỉnh nhấn mạnh.

Để khắc phục, Tiến sĩ Đỗ Văn Đỉnh đề xuất một số giải pháp cụ thể. Thứ nhất, cần quy định rõ trách nhiệm, phạm vi công việc và các minh chứng về mức độ tham gia của giảng viên chủ trì, như tham gia xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, khối lượng giờ giảng, số học phần đảm nhiệm, hoạt động nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên…

Thứ hai, cơ quan quản lý và các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục cần tăng cường kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất, đặc biệt sau khi cho phép mở ngành, nhằm đánh giá đúng mức độ tham gia thực chất của đội ngũ giảng viên.

Thứ ba, cần nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo. Các trường phải cam kết và chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý về tính trung thực của hồ sơ đội ngũ; đồng thời, nếu phát hiện sai phạm, cần áp dụng các chế tài đủ mạnh để đảm bảo tính răn đe và minh bạch.

thay-dinh.jpg
Tiến sĩ Đỗ Văn Đỉnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sao Đỏ. Ảnh: website nhà trường.

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng cũng cho rằng, quy định yêu cầu tối thiểu 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì mỗi chương trình đào tạo thể hiện rõ định hướng siết chặt điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục đại học. Cụ thể, quy định này buộc các cơ sở đào tạo phải đầu tư nghiêm túc hơn vào năng lực học thuật, nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiên cứu và khả năng dẫn dắt, qua đó thúc đẩy gắn kết giữa đào tạo và nghiên cứu, cải thiện chất lượng đầu ra của sinh viên.

Tuy nhiên, trong ngắn hạn, quy định cũng tạo áp lực đáng kể, đặc biệt với các trường tư thục hoặc ở địa phương, do còn hạn chế về nguồn lực tài chính, môi trường nghiên cứu và khả năng thu hút, giữ chân giảng viên trình độ tiến sĩ. Vì vậy, thầy Quỳnh đề xuất cần có lộ trình triển khai hợp lý, kèm theo cơ chế linh hoạt đối với một số ngành đặc thù, nhằm vừa nâng cao tiêu chuẩn vừa đảm bảo tính khả thi và ổn định hệ thống.

Liên quan đến lo ngại “hợp thức hóa” đội ngũ, thầy Quỳnh cho rằng đây là nguy cơ có thật nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ. Do đó, cần quy định rõ trách nhiệm và minh chứng tham gia thực chất của giảng viên, bao gồm giảng dạy, hướng dẫn sinh viên, tham gia xây dựng chương trình và có sản phẩm nghiên cứu gắn với chuyên môn.

Đồng thời, cần đẩy mạnh số hóa dữ liệu để phục vụ quản lý, tăng cường hậu kiểm định kỳ và đột xuất, áp dụng chế tài nghiêm minh với các trường hợp vi phạm.

Bên cạnh đó, việc công khai, minh bạch thông tin về đội ngũ giảng viên của từng chương trình cũng rất cần thiết, nhằm mở rộng giám sát từ xã hội, người học và các bên liên quan, qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình và đảm bảo chất lượng đào tạo một cách bền vững.

img-2437.jpg
Quy định yêu cầu tối thiểu 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì mỗi chương trình đào tạo sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Ảnh minh hoạ: Trường ĐH Lạc Hồng.

Tránh “chạy chỉ tiêu” công bố khoa học, tăng đánh giá thực chất năng lực học thuật

Không chỉ dừng lại ở yêu cầu về trình độ học thuật, Dự thảo Thông tư còn đặt ra các tiêu chí cụ thể hơn đối với đội ngũ giảng viên chủ trì chương trình đào tạo. Theo đó, giảng viên không chỉ cần có kinh nghiệm trong giảng dạy và nghiên cứu mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về công bố khoa học, như có bài báo thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sở hữu các sản phẩm học thuật như sách chuyên khảo, sáng chế.

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh, yêu cầu này là đúng hướng và cần thiết, bởi nó buộc đội ngũ giảng viên chủ trì phải có năng lực học thuật thực chất, gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động đào tạo với nghiên cứu khoa học, đồng thời tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm giảng dạy thuần túy.

Việc đặt ra tiêu chí về công bố khoa học, như bài báo thuộc danh mục Web of Science, Scopus, hay các sản phẩm học thuật như sách chuyên khảo, sáng chế, cũng góp phần nâng cao chất lượng chương trình đào tạo và uy tín của cơ sở giáo dục đại học.

Tuy nhiên, thầy cũng nhìn nhận rằng trong thực tế triển khai, quy định này sẽ tạo ra áp lực không nhỏ, đặc biệt đối với các trường tư thục hoặc các cơ sở đào tạo ở địa phương - nơi đội ngũ giảng viên còn hạn chế về năng lực nghiên cứu và điều kiện hỗ trợ khoa học chưa thực sự đầy đủ.

“Nếu áp dụng một cách cứng nhắc trong thời gian ngắn, rất dễ dẫn đến tình trạng chạy theo số lượng công bố hoặc phát sinh các biểu hiện hình thức, làm sai lệch mục tiêu nâng cao chất lượng thực chất”, thầy Quỳnh cho hay.

Từ đó, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng cho rằng, dù quy định có tính khả thi, nhưng cần được triển khai theo lộ trình phù hợp. Cụ thể, nên phân tầng yêu cầu dựa trên định hướng phát triển của từng cơ sở đào tạo hoặc từng ngành học, đồng thời dành thời gian chuyển tiếp hợp lý để các trường từng bước thích ứng.

Bên cạnh đó, cần đi kèm với các chính sách hỗ trợ thiết thực cho hoạt động nghiên cứu như giảm tải giờ giảng, xây dựng quỹ phát triển khoa học, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh… Khi đó, áp lực từ quy định sẽ được chuyển hóa thành động lực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo một cách bền vững và thực chất.

Trên thực tế, khi gắn điều kiện mở ngành với số lượng công bố khoa học, không loại trừ khả năng một số cơ sở đào tạo sẽ chạy theo chỉ tiêu, tìm cách “làm đẹp” hồ sơ thông qua các công bố chất lượng thấp, tình trạng đồng tác giả mang tính hình thức, thậm chí phát sinh hiện tượng mua bán bài báo khoa học, thay vì đầu tư thực chất cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu. Theo thầy Quỳnh, để Thông tư thực sự đi vào chiều sâu và phát huy hiệu quả, cần có cách tiếp cận phù hợp trong đánh giá năng lực học thuật.

Cụ thể, nên chuyển từ việc chú trọng số lượng sang đánh giá chất lượng và mức độ đóng góp thực tế của các công bố khoa học, dựa trên những tiêu chí như uy tín của tạp chí, vai trò của tác giả trong công trình, cũng như mức độ liên quan trực tiếp tới ngành đào tạo. Đồng thời, cần gắn hoạt động công bố với nhiệm vụ đào tạo cụ thể, như tham gia giảng dạy, hướng dẫn sinh viên, cập nhật và phát triển học phần, qua đó bảo đảm sự liên thông giữa nghiên cứu và đào tạo.

Ngoài ra, việc tăng cường công tác hậu kiểm theo cả hình thức định kỳ và đột xuất trên nền tảng dữ liệu số hóa được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. Cùng với đó, cần đẩy mạnh minh bạch hóa hồ sơ học thuật của giảng viên để xã hội, người học và các bên liên quan có thể tham gia giám sát. Đặc biệt, phải xây dựng các chế tài đủ mạnh để xử lý nghiêm các hành vi mang tính hình thức hoặc vi phạm quy định.

Bên cạnh các yêu cầu siết chặt, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh cũng nhấn mạnh sự cần thiết của một lộ trình triển khai hợp lý, đi kèm với các cơ chế hỗ trợ thiết thực như giảm tải giờ giảng, xây dựng quỹ nghiên cứu, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh. Khi đó, những áp lực từ quy định sẽ được chuyển hóa thành động lực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu một cách bền vững, thay vì chỉ dừng lại ở việc đáp ứng tiêu chí trên giấy tờ.

img-5150.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng. Ảnh: website nhà trường.

Trong khi đó, theo Tiến sĩ Đỗ Văn Đỉnh, việc gắn trách nhiệm chủ trì chương trình đào tạo với kinh nghiệm giảng dạy, năng lực nghiên cứu và công bố khoa học sẽ mang lại nhiều tác động tích cực. Trước hết, quá trình xây dựng, phát triển và triển khai chương trình đào tạo sẽ do đội ngũ giảng viên có trình độ cao, giàu kinh nghiệm đảm nhiệm, qua đó bảo đảm chương trình được thiết kế khoa học, có chất lượng và tính thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

Bên cạnh đó, quy định này còn thúc đẩy giảng viên không ngừng nâng cao năng lực nghiên cứu, gia tăng các công bố khoa học có giá trị, đồng thời tạo động lực để các cơ sở giáo dục đại học đầu tư mạnh mẽ hơn cho hoạt động khoa học và công nghệ.

Tuy nhiên, quy định trên đặt ra không ít áp lực trong thực tiễn. Đối với nhiều cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường định hướng ứng dụng, số lượng giảng viên có công bố quốc tế (WoS/Scopus) còn hạn chế. Điều kiện nghiên cứu như kinh phí, môi trường học thuật hay cơ hội hợp tác quốc tế giữa các trường cũng chưa đồng đều, dẫn đến sự chênh lệch trong khả năng đáp ứng yêu cầu. Ngoài ra, quy định này có thể gây khó khăn trong việc duy trì hoặc mở mới một số ngành đào tạo, nhất là các ngành đặc thù.

Từ đó, thầy Đỉnh cho rằng cần xây dựng lộ trình phù hợp để các cơ sở đào tạo từng bước nâng cao năng lực đội ngũ. Đồng thời, nên đa dạng hóa hình thức minh chứng năng lực học thuật, không chỉ giới hạn ở các bài báo WoS/Scopus mà có thể tính đến các sản phẩm như sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu, hoạt động chuyển giao công nghệ, sáng chế… nhằm phản ánh đầy đủ và thực chất hơn năng lực của giảng viên.

Về lo ngại “chạy theo chỉ tiêu công bố” và giải pháp để Thông tư đi vào thực chất, Tiến sĩ Đỗ Văn Đỉnh cho rằng đây là mối lo hoàn toàn có cơ sở, bởi nếu việc đánh giá chủ yếu dựa trên số lượng công bố có thể dẫn đến tình trạng công bố mang tính đối phó, lựa chọn tạp chí chất lượng chưa cao, thậm chí làm lệch trọng tâm khỏi nhiệm vụ cốt lõi là giảng dạy và nghiên cứu.

Tuy nhiên, thầy cũng nhấn mạnh yêu cầu về công bố khoa học là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao chất lượng học thuật và thúc đẩy hội nhập quốc tế. Vì vậy, để bảo đảm tính thực chất, cần chuyển từ cách tiếp cận “đếm số lượng” sang đánh giá toàn diện chất lượng công bố, bao gồm uy tín tạp chí, mức độ trích dẫn, giá trị học thuật và khả năng ứng dụng, chuyển giao vào thực tiễn.

Đồng thời, cần đa dạng hóa tiêu chí đánh giá năng lực học thuật, không chỉ giới hạn ở các bài báo WoS/Scopus mà còn ghi nhận các sản phẩm như đề tài nghiên cứu, sáng chế, chuyển giao công nghệ, sách chuyên khảo hay đóng góp cho địa phương và doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cần gắn nghiên cứu với giảng dạy và nhu cầu xã hội, khuyến khích các nghiên cứu phục vụ trực tiếp cho đổi mới chương trình đào tạo và giải quyết bài toán thực tiễn. Việc tăng cường kiểm định và hậu kiểm cũng rất quan trọng, bảo đảm đánh giá không chỉ dựa trên hồ sơ mà còn dựa trên minh chứng thực tế như chất lượng đào tạo, sản phẩm đầu ra của người học và mức độ gắn kết với doanh nghiệp.

“Cuối cùng, cần có cơ chế đầu tư phù hợp, giảm tải hành chính và xây dựng môi trường học thuật thuận lợi để giảng viên có thể tập trung vào nghiên cứu có chiều sâu, tạo ra giá trị thực chất cho giáo dục đại học”, thầy Đỉnh cho hay.

ĐÀO HIỀN