EMagazine

Phải có bước chuyển mình thực sự, GD Việt Nam mới tiến gần hơn tới chuẩn mực tiên tiến của thế giới

Ngành giáo dục và đào tạo đang đứng trước thời cơ mới, vận hội mới

21/02/2026 06:38
Ngân Chi
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN-Theo ĐBQH Nguyễn Thị Mai Hoa, phải có bước chuyển mình thực sự, mới đưa giáo dục Việt Nam tiến gần hơn tới các chuẩn mực tiên tiến của thế giới.

Theo các chuyên gia giáo dục đánh giá, tới đây, sẽ là một thời cơ mới cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khi triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; đồng thời, năm 2026, cùng lúc thực thi 4 luật, 2 nghị quyết đặc thù cho ngành: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); Nghị quyết 248/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 249/2025/QH15 về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp đã có những chia sẻ về kỳ vọng đối với các chế độ, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Thuận lợi mang tính căn bản, định vị rõ hơn vai trò, vị thế, trách nhiệm và sứ mệnh

Phóng viên: Thưa Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa, đại biểu đánh giá như thế nào về thời cơ của giáo dục và đào tạo Việt Nam trong giai đoạn tới, khi có sự “mở đường” của Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và sự thể chế hóa từ các luật, nghị quyết trên của Quốc hội?

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa: Tôi cho rằng, ngành giáo dục và đào tạo đang đứng trước thời cơ mới, vận hội mới; mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo được xác định ở vị trí trọng tâm trong chiến lược, kế hoạch phát triển các lĩnh vực của quốc gia. Đây là thuận lợi mang tính căn bản, định vị rõ hơn vai trò, vị thế, trách nhiệm và sứ mệnh của giáo dục và đào tạo.

Gọi là thời cơ, bởi việc ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo chính là Đảng và Nhà nước thể hiện quyết tâm chính trị ở tầm cao nhất, đặt giáo dục vào vị trí “quốc sách hàng đầu”, “quyết định tương lai dân tộc”. Tiếp nối tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71 hướng tới một tầm cao hơn về mục tiêu, cụ thể hơn về giải pháp, mạnh mẽ hơn về quyết sách, quyết liệt hơn trong yêu cầu hành động.

Song song với Nghị quyết số 71 là một loạt nghị quyết quan trọng khác của Bộ Chính trị như: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân…, tất cả cùng tạo hiệu ứng tích cực đối với phát triển giáo dục và đào tạo.

bai-tet-1-4809.png

Thời cơ từ bước đột phá về xây dựng thể chế giáo dục theo hướng thông thoáng với 4 dự án luật quan trọng được Quốc hội thông qua: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) và Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); 4 nghị quyết quan trọng cũng được ban hành, hướng tới phổ cập giáo dục mầm non 3-5 tuổi, miễn học phí cho trẻ em mầm non và học sinh phổ thông, cơ chế chính sách đặc thù để thực hiện đột phá giáo dục; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục giai đoạn 2026-2035.

Những văn bản này tạo nền tảng pháp lý toàn diện, tháo gỡ các “điểm nghẽn”, “nút thắt” về cơ chế, chính sách, bảo đảm thông suốt trong quá trình thực thi; hỗ trợ vận hành một nền giáo dục hiện đại, đồng bộ và hiệu quả.

Tuy nhiên, bên cạnh thời cơ lớn, sẽ là những thách thức tương ứng như mục tiêu, yêu cầu phát triển giáo dục sẽ phải cao hơn, tốc độ đổi mới phải nhanh hơn; đòi hỏi phải phá bỏ những tư duy cũ, cách làm cũ; phát triển phải gắn với công bằng, khắc phục tình trạng chênh lệch về cơ hội tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền, địa bàn, đối tượng. Đây là thách thức có tính vĩ mô, cần giải pháp đồng bộ.

Phóng viên: Thưa đại biểu, những chính sách như: Nhà nước bảo đảm chi tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo; ưu tiên bố trí đủ quỹ đất cho cơ sở giáo dục và đào tạo... được kỳ vọng sẽ tạo ra những đột phá như thế nào?

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa: Đây là quy định có tính đột phá về ưu đãi đầu tư trong Nghị quyết số 248 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giai đoạn 2013-2024, tỉ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục chưa đạt mức tối thiểu 20%; và trong tổng chi cho giáo dục và đào tạo, chi thường xuyên chiếm tới 83,4%, còn chi đầu tư chỉ 17,6%; do vậy chưa đáp ứng nguồn kinh phí cần để cải tạo, nâng cấp và đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học theo yêu cầu phát triển và đổi mới giáo dục.

Điểm nhấn trong chủ trương lần này chính là ở giải pháp mạnh mẽ: ngân sách cho phát triển giáo dục sẽ bố trí từ nguồn tăng thu; quỹ đất cho giáo dục sẽ được ưu tiên từ khâu quy hoạch đến ưu tiên sử dụng quỹ đất do cơ quan, tổ chức nhà nước quản lý, trụ sở công dôi dư - rất rõ vai trò chủ đạo của Nhà nước; đồng thời, bảo đảm chính sách ưu đãi về tài chính, đất đai, thuế, tín dụng, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tạo cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người dân.

Và điều này đáng để chúng ta kỳ vọng vào những đột phá lớn trong cơ chế, chính sách để phát triển giáo dục và đào tạo.

Đối với các địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, quy định trên chính là giải pháp thiết thực để tạo đột phá trong việc hoàn thành mục tiêu kiên cố hóa trường lớp học; mua sắm trang thiết bị phục vụ đổi mới phương pháp dạy học; thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục, tạo điều kiện để mọi công dân đều có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao.

Phóng viên: Việc trao quyền tuyển dụng, sử dụng nhân sự theo cho ngành giáo dục và đào tạo được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều đột phá; vậy, cần có những lưu ý gì để đảm bảo quyền lợi cho nhà giáo trong thời gian tới, thưa đại biểu?

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa: Việc trao quyền tuyển dụng, sử dụng nhân sự giáo dục cho ngành giáo dục và đào tạo là một bước đột phá từ Luật Nhà giáo, và tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 248 của Quốc hội.

Quy định này giúp ngành giáo dục và đào tạo chủ động quản lý, nâng cao chất lượng và chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo; cơ sở giáo dục tự chủ, linh hoạt trong tuyển dụng, đảm bảo chọn đúng người, giao đúng việc, bảo đảm xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về chất lượng.

Tất nhiên, để thực hiện tốt khâu đột phá này, ngành giáo dục phải chuẩn bị kỹ lưỡng văn bản hướng dẫn khâu tuyển chọn, sử dụng nhà giáo, bảo đảm công khai, minh bạch về quy trình, rõ ràng về tiêu chuẩn, linh hoạt trong quản lý, sử dụng, điều động, luân chuyển giáo viên.

Động lực phát triển mạnh mẽ cho các cơ sở giáo dục đại học

Phóng viên: Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, quan điểm về tự chủ đã có sự thay đổi lớn. Điều này có thể tạo ra “luồng gió mới” và “cú hích” như thế nào đối với sự phát triển của các cơ sở giáo dục đại học trong giai đoạn tới, thưa đại biểu?

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa: Một trong những “rào cản” trên hành trình thực hiện tự chủ đại học chính là cách tư duy xác định năng lực tự chủ cao hay thấp phụ thuộc mức độ tự lo về tài chính (bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư) của mỗi trường.

Do vậy, tính chất đột phá trong cơ chế, chính sách đối với giáo dục đại học lần này chính là chuyển dịch từ “tự chủ là tự lo” sang chia sẻ trách nhiệm Nhà nước và cơ sở giáo dục đại học. Theo đó, Nhà nước có thể đặt hàng đào tạo, giao nhiệm vụ đào tạo tập trung vào các ngành chiến lược; hỗ trợ tài chính đối với người học; có chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao (trọng dụng nhân tài, bồi dưỡng giảng viên).

Khi thay đổi cách tiếp cận về tự chủ đại học, việc xác định mức độ tự chủ đại học không phụ thuộc vào mức độ “tự lo về tài chính”, các cơ sở giáo dục đại học sẽ được trao quyền tự chủ rộng rãi hơn, bao gồm tự chủ về xác định chỉ tiêu, lựa chọn phương thức tuyển sinh, tự chủ trong tuyển dụng nhà giáo, tổ chức đào tạo,…

Điều này chắc chắn sẽ tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho các cơ sở giáo dục đại học trong giai đoạn tới.

bai-tet-2-171.png

Phóng viên: Việc cho phép cơ sở giáo dục hợp tác với tổ chức khoa học, công nghệ, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các tổ chức khác để thực hiện chương trình giáo dục và đào tạo gắn nhu cầu thị trường lao động, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo… được kỳ vọng sẽ mở ra những cơ hội mới như thế nào?

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa: Mối quan hệ hợp tác giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp là xu hướng tích cực, tạo cơ hội nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; vừa giải quyết được bài toán của doanh nghiệp, tăng hàm lượng ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất, kinh doanh để tăng năng suất lao động, phát triển bền vững.

Mục tiêu chung là gắn phát triển khoa học - công nghệ với phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu và ứng dụng chất lượng cao, hình thành cơ chế hợp tác nghiên cứu, khai thác, sử dụng sản phẩm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; phát triển, chuyển giao và ứng dụng các ý tưởng sáng tạo vào thực tiễn; qua đó, tạo động lực và cầu nối thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.

Trong mối quan hệ hợp tác này, các trường đại học, viện nghiên cứu có cơ hội ứng dụng hiệu quả kiến thức vào thực tiễn, nâng cao chất lượng đào tạo; doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao, ứng dụng thành tựu nghiên cứu mới để nâng cao năng suất và chất lượng hoạt động sản xuất - kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh.

Đây cũng là quy trình phối hợp, cộng sinh nguồn lực để đào tạo, nghiên cứu và phát triển, đầu vào gắn với đầu ra, tăng giá trị thương hiệu và doanh thu cho các bên, để thúc đẩy đất nước đạt mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Phóng viên: Để mô hình trên được triển khai hiệu quả, cần lưu ý những gì, thưa đại biểu?

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa: Để việc hợp tác giữa doanh nghiệp - trường đại học, viện nghiên cứu - cơ quan nhà nước thực sự hiệu quả, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Một là, cần xây dựng cơ chế chia sẻ nguồn nhân lực giữa các bên; giúp các trường đại học, viện nghiên cứu có cơ hội tăng thêm đội ngũ chuyên gia chuyên sâu, có năng lực giải quyết bài toán thực tiễn của doanh nghiệp. Ngược lại, khối doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực tư nhân được hỗ trợ nhân sự có khả năng hấp thụ, tiếp nhận, đánh giá và triển khai áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học.

Hai là, cần sớm hình thành thiết chế trung gian, như trung tâm chuyển giao công nghệ, vườn ươm tạo… để tăng tính bền vững trong hợp tác giữa trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp. Đồng thời, phát huy vai trò kiến tạo và hỗ trợ kinh phí nghiên cứu ban đầu của cơ quan nhà nước nhằm kết dính và thúc đẩy nhu cầu hợp tác giữa trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bảo đảm tính thực chất, thiếu tính chiến lược và động lực thúc đẩy hợp tác giữa hai chủ thể này.

Ba là, cần xác định rõ bản quyền và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền đồng sở hữu, phân chia lợi ích hoặc chuyển giao tài sản trí tuệ đối với sản phẩm nghiên cứu trong mối quan hệ trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Có cơ chế, chính sách hấp dẫn để khuyến khích đồng tài trợ giữa doanh nghiệp và trường đại học, viện nghiên cứu trong thực hiện nhiệm vụ khoa học - công nghệ.

bai-tet-3-2939.png

Kỳ vọng về một hệ thống giáo dục hiện đại, chất lượng

Phóng viên: Đại biểu có kỳ vọng gì đối với việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong năm 2026, cũng như trong giai đoạn tới?

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa: Trước mắt, hy vọng có thể nhanh chóng tháo gỡ “rào cản” về nguồn lực và cơ chế, bố trí ngân sách nhà nước kết hợp huy động các nguồn lực từ xã hội để xây dựng, kiên cố hoá trường lớp học; đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất, thiết bị trường học theo hướng hiện đại để nâng cao chất lượng dạy học. Xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, chuẩn về chất lượng; đổi mới chương trình đến chuyển đổi số và hợp tác quốc tế - hướng tới một nền giáo dục chất lượng, hiện đại và hội nhập.

Về lâu dài, có thể kỳ vọng về một hệ thống giáo dục hiện đại, chất lượng; đáp ứng cơ hội học tập cho mọi người dân, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, quyền được học tập suốt đời; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Phải có bước chuyển mình thực sự mới đưa giáo dục Việt Nam tiến gần hơn tới các chuẩn mực tiên tiến của thế giới; đóng góp nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp phát triển đất nước.

bai-tet-4.png

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn những chia sẻ của đại biểu!

Ngân Chi