Chuyện về một vị Đại sứ đặc biệt của Việt Nam

19/02/2012 07:25
Thời kỳ sau chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Nghi thức ngoại giao đầu tiên đời anh bộ đội trẻ tuổi Vũ Hắc Bồng là cái bắt tay “thằng Tây” khi ở rừng ra.

Gần 50 năm cầm bút, nhà văn - nhà báo Nguyễn Thị Ngọc Hải có nhiều đầu sách thuộc nhiều thể loại, trong đó đặc biệt thành công là những tác phẩm khắc họa chân dung các nhân vật nổi tiếng: nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn, nhà chỉ huy tình báo Trần Quốc Hương, Đại tướng Mai Chí Thọ...

Xin trân trọng trích giới thiệu tác phẩm Chuyện đời đại sứ của bà viết về đại sứ Vũ Hắc Bồng, vị đại sứ mà cuộc đời ông gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử của đất nước.

Thời kỳ sau chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Nghi thức ngoại giao đầu tiên đời anh bộ đội trẻ tuổi Vũ Hắc Bồng là cái bắt tay “thằng Tây” khi ở rừng ra, chờ đoàn xe của Pháp chở về trạm tiếp nhận. Anh ở Phái đoàn QĐND trong Ban Thi hành hiệp định đình chiến Nam Bộ, làm việc với đoàn Pháp trong thời hạn 300 ngày thực hiện tập kết.

Nhiều cái đầu tiên

Từ chiến khu Dương Minh Châu, lên đến đường cái tỉnh lộ 13 đã có sẵn xe GMC của Pháp đón đưa về Dầu Tiếng rồi đi Phụng Hiệp. Sau 10 năm kháng chiến gian khổ, đây là lần gặp rất nhiều cái đầu tiên: Lần đầu ra đường nhựa một cách công khai, đi trên đường cái quan, lên xe của Pháp đưa đón, lần đầu tiên thay bộ bà ba đen để mặc quân phục mới, áo quần đại cán, cổ Tôn Trung Sơn miền Bắc gửi qua đường máy bay Pháp chuyển… Chân đi giày vải, đầu có mũ cứng. Một bộ duy nhất, không có để thay đổi. Lần đầu ăn trưa với Tây có cốc chén ly tách, muỗng nĩa, không có đũa.

“Đừng xúc miếng to, nó rơi, trăm con mắt nó nhìn mình. Nhớ mẹo nhỏ cụ Hồ dặn cán bộ ngoại giao, ra nước ngoài lần đầu, ăn chậm chậm, xem người ta ăn thế nào mình làm thế. Nghệ thuật học hỏi ngay phía đối phương. Còn về nói năng, biết ít, hãy tiết kiệm nói…” - ông Bồng nhớ lại “bữa tiệc ngoại giao” đầu tiên, dù lúc đó chưa là người chính thức của ngoại giao mà là quân đội biệt phái sang.

Thời hạn 300 ngày

Phái đoàn đóng ở Phụng Hiệp, Cần Thơ. Nơi họp là khu nhà gỗ do phía Pháp dựng ngay đầu kênh 7 ở thị trấn. Có hai cụm, một cho phía Việt Nam, một cho phía Pháp. Các phòng không trang trí, đoàn nào tự đem đồ ăn thức uống của mình. Trước cuộc họp, có nghi thức là hai đoàn xếp hàng đi qua đội danh dự gồm mỗi bên 10 lính cảnh vệ. Trưởng đoàn QĐND Việt Nam là Phạm Hùng, phía Pháp là Đại tá Le Duque, Chỉ huy trưởng vùng đồng bằng đóng tại Cần thơ.

Các cuộc họp tập trung hai việc chính: Một là từng bước tập kết lực lượng vũ trang ra miền Bắc đúng thời hạn 300 ngày; hai là đoàn Việt Nam luôn phản đối, tố cáo Pháp và chính quyền Sài Gòn bắt bớ trả thù những người kháng chiến cũ.

Tỉnh đội Hải Dương 1948. Ông Vũ Hắc Bồng (mặc quần soọc, cầm mũ cối đứng giữa) và người bạn thân Nguyễn Chất (áo đen, bên cạnh).

Tình hình lúc đó rất phức tạp, trước khi Hiệp định Genève ký 13 ngày, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về làm thủ tướng, viện trợ trực tiếp cho Pháp ký các hiệp định giao cả quyền hành chính, chính trị, quân sự cho Mỹ và Thủ tướng Diệm. Từ đó Ngô Đình Diệm mới dám tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử, tổ chức trưng cầu dân ý, phế truất Bảo Đại để mình lên làm tổng thống, bắt đầu những trang diệt cộng và trả thù đẫm máu ở miền Nam.

Nhiệm vụ của Phái đoàn QĐND Việt Nam trong Ban Thi hành hiệp định đình chiến Nam Bộ lúc này phải tố cáo những hành vi đàn áp đó. Các cuộc họp ngày nào cũng diễn ra cảnh “đấu đá” căng thẳng gay gắt. Đồng bào các tỉnh phải giả vờ đi chợ bằng thuyền để gặp phái đoàn, cung cấp tình hình thực tế các địa phương, tố cáo chính quyền lập danh sách những người đi tập kết, dân phải giấu giếm khai chồng con chết, đi làm ăn xa, đi lính cộng hòa ở đâu không liên lạc với gia đình, không ai biết. Có nơi chính quyền gắn biển ở nhà các gia đình có người đi tập kết để tạo lý do bắt bớ, giết hại. Có loại ghét nhau trả thù, lợi dụng xã hội rối ren. “Dù ai có nói gì thì lịch sử còn nguyên đó không thể xóa đi những vi phạm nhân quyền khủng khiếp nhất khi Mỹ bắt đầu nuôi dưỡng Ngô Đình Diệm và cách hành xử ở miền Nam” - ông Bồng nhớ lại giai đoạn quá xa nhưng không thể quên trong cuộc đời hơn 80 năm của mình.

Sẻ chia gian khó

Phái đoàn đã đưa nhiều trường hợp như thế để đấu tranh trên bàn ngoại giao. Ông Phạm Hùng là người phát ngôn, ông Nguyễn Kim Cương làm phiên dịch. Phía Pháp đuối lý nhưng họ lảng tránh trách nhiệm vì đã biết rõ số phận của mình. Tâm trạng của kẻ thất thế, ở chiến trường thì vừa thua to, trên chính trường thì Mỹ đang ép và ráo riết thế chân. Các cuộc họp kéo dài mãi cho đến năm 1955, thời kỳ 300 ngày kết thúc. Đơn vị của ông Bồng chuẩn bị ra Bắc, chia tay bà con Phụng Hiệp, Cần thơ.

Họ đón cái tết cuối cùng ở Nam Bộ. Cơ quan tổ chức cuộc trưng bày hình ảnh và tư liệu về miền Bắc xây dựng trong hòa bình, miền Nam trong chiến đấu. Đơn vị cho dân dỡ nhà của phái đoàn để ai lấy được gì thì đem về dùng. Người dân lưu luyến, âu lo nhưng vẫn hy vọng hai năm sẽ gặp lại.

Tình cảm của người dân Nam Bộ khiến ông Bồng không bao giờ quên, là giai đoạn để lại trong ông nhiều cảm xúc nhất trong những ngày đầu làm ngoại giao, sống cùng với dân một nhà, gian khổ và yêu thương. “Họ cũng rất nghèo nhưng chia sẻ, nằm đất, nhường giường cho bộ đội của phái đoàn. Vợ chồng tôi may còn có chiếc giường 1 m đã mục nát, nhà bên cạnh nơi vợ chồng anh Hoàng Văn Lợi ở thì còn khổ hơn, không có giường. Vợ ông Lợi lại cao hơn chồng, hai người nằm co trong cái nong để phơi lúa, khoai”.

Công việc hối hả, chạy đua với thời hạn 300 ngày. Tiếp dân, ai cũng bồn chồn trước cảnh sắp xa đồng bào ở lại trong gian khổ đau thương.

Tập kết ra Bắc

Phái đoàn rời Phụng Hiệp, không đi tàu thủy như số đông người đi tập kết. Vợ ông Bồng, bà Phạm Thị Cúc, có thai, không chờ được phải đi trước cũng bằng tàu thủy. Ông Bồng đi với đoàn bằng máy bay. Ông còn nhớ trên chuyến bay nhà binh Pháp, đi từ Sóc Trăng. Đó là chiếc máy bay ném bom hai thân B36, không ghế. Chỉ có băng dài cho lính nhảy dù. Không ăn uống nước nôi gì. Tự lo lấy. Lương thực chuẩn bị là loại bánh kẹp. Nước đun sôi để nguội đổ vào can như can dầu. Cán bộ ta hầu hết chưa đi máy bay bao giờ.

“Ông bà Phạm Hùng ôm đứa con trai đầu lòng, bé Hà lúc đó mới đầy năm. Nay cậu ấy là giám đốc Sở Thương mại, có thời kỳ là phó chủ tịch tỉnh Bình Dương” - ông nhớ lại.

Tiễn đoàn là các sĩ quan trong phái đoàn. Viên trung tá Pháp đọc danh sách, bắt tay ông Phạm Hùng. Đơn giản. Rồi đi. Tạm biệt Nam Bộ anh dũng và gian truân, chưa biết bao giờ trở lại.

Đại sứ Vũ Hắc Bồng (tên thật là Đậu Đình Phức, sinh năm 1927 tại Nghệ An) được phong hàm đại sứ đợt đầu tiên vào năm 2000. Ông từng tham gia nhiều sự kiện trong các hoạt động quốc tế thi hành Hiệp định Genève; là vị đại sứ nhận lệnh ký cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đi làm đại sứ ở các nước châu Phi. Ông cũng là người chứng kiến cuộc đảo chính đẫm máu ở Chile năm 1973.

Từ năm 1982 đến 2002, ông làm giám đốc Sở Ngoại vụ TP.HCM. Sau đó, ông làm cố vấn cho Bộ Ngoại giao cho đến khi chính thức nghỉ hưu vào năm 2006. Cũng trong năm này, ông được Chính phủ Chile trao tặng huy chương Bernardo O’Higgins hạng Gran Cruz, huy chương cao quý nhất Chile dành tặng cho người nước ngoài.

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI/Pháp luật TPHCM

Kỳ tới: Những ngày làm việc với Ủy ban Quốc tế.