EMagazine

Giáo viên tiếng Anh tại Trung tâm Ngoại ngữ Enspire sử dụng kết hợp các trò chơi tương tác với màn hình và trò chơi trong giờ học tiếng Anh.

Xã hội hóa là "đòn bẩy" để thực hiện mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai

31/03/2026 06:46
Thi Thi
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Xã hội hóa nâng chất lượng dạy tiếng Anh được xem là một trong những giải pháp cần thiết để hiện thực hóa mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga - Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng cho rằng, xã hội hóa nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh là một giải pháp và hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 71-NQ/TW cũng như các đề án về nâng cao năng lực ngoại ngữ. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tiếng Anh không còn là một môn học đơn thuần mà đã trở thành một công cụ thiết yếu để tiếp cận tri thức, công nghệ và cơ hội phát triển.

Xã hội hóa được triển khai đúng sẽ giúp huy động thêm nguồn lực để bổ sung cho hệ thống công lập

Đại biểu Việt Nga dẫn chứng, thực tế cho thấy, hệ thống giáo dục công lập hiện nay, dù đã có nhiều cải thiện, nhưng vẫn còn những "điểm nghẽn" nhất định, đặc biệt là về đội ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc tế, phương pháp giảng dạy hiện đại và môi trường sử dụng tiếng Anh thường xuyên. Trong khi đó, nhu cầu của người học và phụ huynh lại ngày càng cao, không chỉ dừng lại ở ngữ pháp mà hướng đến năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh.

Chính vì vậy, xã hội hóa nếu được hiểu đúng và triển khai đúng sẽ giúp huy động thêm nguồn lực từ xã hội, đặc biệt là từ khu vực tư nhân và hợp tác quốc tế, để bổ sung cho hệ thống công lập. Đây là một cơ chế phối hợp, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiểm soát chất lượng, còn xã hội đóng góp nguồn lực, giải pháp và sáng kiến.

z7658797951651-91bc0d66db768ed29c7971e488b63294.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga. Ảnh: NVCC.

Tuy nhiên, theo đại biểu Việt Nga, điều quan trọng là phải thiết kế được "hàng rào chính sách" đủ chặt chẽ. Xã hội hóa không thể đồng nghĩa với buông lỏng quản lý hay thương mại hóa giáo dục. Nếu thiếu kiểm soát, rất dễ dẫn đến tình trạng chất lượng không đồng đều, chi phí bị đẩy lên cao, hoặc thậm chí làm gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục.

Tôi ủng hộ xã hội hóa để nâng cao chất lượng dạy tiếng Anh, nhưng phải đi kèm với ba nguyên tắc: Công bằng trong tiếp cận, minh bạch trong triển khai và kiểm soát chặt chẽ về chất lượng".

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga.

Đồng quan điểm, Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh - Đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Lâm Đồng nhìn nhận, việc xã hội hóa nâng chất lượng giảng dạy tiếng Anh không chỉ là một giải pháp tình thế mà là một chiến lược then chốt để chúng ta hiện thực hóa mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai. Trong bối cảnh ngân sách nhà đầu tư cho giáo dục dù đã được ưu tiên nhưng vẫn khó lòng bao phủ toàn diện các yêu cầu khắt khe về công nghệ, trí tuệ nhân tạo và giáo trình quốc tế, việc huy động các nguồn lực ngoài ngân sách là một hướng đi cần thiết.

"Chúng ta cần nhìn nhận xã hội hóa dạy học tiếng Anh như một "luồng gió mới" giúp phá vỡ những rào cản xơ cứng trong phương pháp dạy học truyền thống. Sự tham gia của các tổ chức giáo dục uy tín, các doanh nghiệp EdTech không chỉ mang lại nguồn vốn mà quan trọng hơn là mang lại công nghệ giảng dạy hiện đại và môi trường tương tác thực tế. Điều này giải quyết trực tiếp nhu cầu cấp thiết của người học về một môi trường ngôn ngữ sống động, nơi tiếng Anh không còn là những trang sách ngữ pháp khô khan mà trở thành công cụ để tiếp cận tri thức nhân loại.

Đối với đội ngũ giáo viên, đây là cơ hội để chúng ta thực hiện một cuộc cách mạng về năng lực sư phạm. Thay vì chỉ trông chờ vào các đợt tập huấn định kỳ đôi khi còn mang tính hình thức, việc đẩy mạnh xã hội hóa và tự chủ tại các cơ sở giáo dục sẽ tạo điều kiện để giáo viên được nhúng mình trong môi trường chuyên nghiệp, được đào tạo bởi các chuyên gia quốc tế và tiếp cận với các bộ học liệu chuẩn hóa toàn cầu. Đây chính là cách ngắn nhất để chúng ta "nâng chuẩn" một cách thực chất, giúp thầy cô không chỉ giỏi ngoại ngữ mà còn đủ năng lực để giảng dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh", Đại biểu Tú Anh nhấn mạnh.

Cần trao quyền tự chủ mạnh mẽ hơn cho các nhà trường

Cũng theo Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh, vấn đề đưa giáo viên nước ngoài và giáo viên từ các đơn vị liên kết vào trường học là một trong những giải pháp giúp giải quyết bài toán "tiếng Anh câm" vốn đã tồn tại bấy lâu nay trong hệ thống giáo dục công lập.

Đại biểu cũng cho rằng, cần trao quyền tự chủ mạnh mẽ hơn cho các nhà trường trong việc thực hiện chính sách này, bởi thực tế cho thấy mỗi cơ sở giáo dục có một đặc thù riêng về trình độ học sinh, nhu cầu phụ huynh và điều kiện cơ sở vật chất mà không một thông tư chung nào có thể bao quát hết được.

Việc để các nhà trường chủ động lựa chọn đối tác liên kết chính là cách chúng ta thực hiện tinh thần "tự chịu trách nhiệm". Khi được trao quyền, hiệu trưởng sẽ có động lực và áp lực phải chọn lọc những đơn vị có chất lượng giáo viên bản ngữ thực chất, có phương pháp sư phạm hiện đại thay vì chỉ chạy theo những bản hợp đồng mang tính hình thức.

Sự hiện diện của các giáo viên nước ngoài hay chuyên gia từ các trung tâm không chỉ mang lại môi trường giao tiếp chuẩn xác cho học sinh mà còn tạo ra một sự cọ xát tích cực ngay trong đội ngũ giáo viên tại chỗ, giúp thầy cô Việt Nam cập nhật phong cách giảng dạy quốc tế và tự tin hơn trong việc triển khai các môn học bằng tiếng Anh.

Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh.

z7658702814970-dc333207a6ea5e745921bf65a5a32961.jpg
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh - Đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Lâm Đồng.

"Tuy nhiên, quyền tự chủ của nhà trường phải luôn song hành với một cơ chế hậu kiểm minh bạch và bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đầu ra khắt khe từ phía ngành giáo dục. Chúng ta cần một "màng lọc" pháp lý đủ tinh để loại bỏ những giáo viên nước ngoài không có bằng cấp sư phạm phù hợp hoặc các đơn vị liên kết chỉ coi giáo dục là mảnh đất kinh doanh thuần túy.

Bên cạnh đó, khi trao quyền cho các trường, chúng ta cũng cần tính đến bài toán liên kết vùng. Các trường ở vùng thuận lợi có thể đi nhanh hơn, nhưng chính những mô hình thành công này cần được đúc kết để tạo ra các nền tảng học tập trực tuyến hoặc chia sẻ học liệu cho các trường ở vùng khó khăn. Việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai sẽ chỉ thực sự thành công khi chúng ta khơi thông được sức sáng tạo của từng ngôi trường, biến mỗi lớp học thành một không gian hội nhập thực thụ, nơi học sinh được tương tác và tư duy bằng ngoại ngữ một cách tự nhiên nhất", Đại biểu Tú Anh nhìn nhận thêm.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phân tích thêm, việc đưa giáo viên nước ngoài, giáo viên bản ngữ hoặc giáo viên từ các đơn vị liên kết vào giảng dạy trong nhà trường là một giải pháp có tính thực tiễn cao, đặc biệt trong giai đoạn chúng ta đang hướng tới mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai.

Ở góc độ chính sách, Quyết định 3454/QĐ-BGDĐT ngày 17/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch năm 2026 tại các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Đề án "Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045" đã nhấn mạnh việc phát huy cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục trong lựa chọn mô hình phù hợp. Điều này là rất quan trọng, bởi mỗi địa phương, mỗi trường có điều kiện khác nhau về nguồn lực, học sinh và nhu cầu.

"Tôi cho rằng, cần trao quyền nhiều hơn cho nhà trường, nhưng không phải là trao quyền "tuyệt đối", mà là trao quyền trong khuôn khổ có giám sát. Nhà trường là đơn vị hiểu rõ nhất nhu cầu học sinh, điều kiện giảng dạy và khả năng tổ chức. Khi được chủ động lựa chọn đối tác, xây dựng chương trình, họ sẽ linh hoạt hơn trong việc tạo môi trường học tập hiệu quả.

Việc có thêm giáo viên bản ngữ hoặc giáo viên có trình độ cao từ bên ngoài sẽ góp phần khắc phục hạn chế về phát âm, phản xạ ngôn ngữ và tạo môi trường giao tiếp tự nhiên - điều mà nhiều chương trình hiện nay còn thiếu. Đây là yếu tố then chốt nếu chúng ta muốn chuyển từ "học để thi" sang "học để sử dụng".

Cùng với việc trao quyền, cần thiết lập hệ thống kiểm định chất lượng, cơ chế giám sát và đánh giá độc lập để đảm bảo mọi hoạt động liên kết đều phục vụ mục tiêu giáo dục", Đại biểu Việt Nga khẳng định.

Liên kết trên nguyên tắc tự nguyện, minh bạch và chất lượng

Đại biểu Việt Nga cũng bày tỏ, thực tế hiện nay, chi phí học tiếng Anh tại các trung tâm bên ngoài không hề thấp, đặc biệt với những chương trình chất lượng cao. Điều này tạo ra áp lực tài chính đáng kể cho nhiều gia đình, và vô hình trung dẫn đến sự chênh lệch trong cơ hội tiếp cận giáo dục ngoại ngữ giữa các nhóm học sinh.

Do đó, khi chương trình được tổ chức ngay trong nhà trường, với quy mô lớp học ổn định, chi phí có thể được phân bổ hợp lý hơn. Đây là một cách tiếp cận mang tính "chia sẻ chi phí" trong xã hội hóa, giúp giảm gánh nặng cho phụ huynh mà vẫn đảm bảo chất lượng.

Ở góc độ học sinh, lợi ích còn rõ ràng hơn. Việc được tiếp xúc với tiếng Anh một cách thường xuyên, liên tục, đặc biệt là từ sớm, sẽ giúp hình thành phản xạ ngôn ngữ tự nhiên. Ngoài ra, tiếng Anh còn mở ra khả năng tiếp cận tri thức toàn cầu, hình thành tư duy mở, khả năng giao tiếp và sự tự tin.

"Mọi chương trình liên kết cần phải đặt lợi ích của học sinh lên hàng đầu. Không thể vì mục tiêu xã hội hóa mà tạo thêm áp lực học tập hoặc chi phí không cần thiết. Do đó, cần bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, minh bạch và phù hợp với lứa tuổi. Nhà trường cần có sự lựa chọn linh hoạt, tôn trọng nhu cầu và điều kiện của từng học sinh", đại biểu nhấn mạnh.

Ngoài ra, theo đại biểu Việt Nga, việc các cơ sở giáo dục phối hợp với các đơn vị uy tín để triển khai các chương trình tiếng Anh tăng cường hoặc bổ trợ ngay trong nhà trường mang lại nhiều thuận lợi rất rõ rệt.

Thuận lợi về tiếp cận. Khi chương trình được đưa vào trong trường học, học sinh không cần di chuyển, không bị gián đoạn giữa các môi trường học khác nhau. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với học sinh ở các khu vực chưa có nhiều trung tâm chất lượng hoặc gia đình không có điều kiện đưa đón.

Thuận lợi về tính liên tục và đồng bộ. Việc học ngoại ngữ đòi hỏi quá trình tích lũy lâu dài, nếu chỉ học rời rạc ở các trung tâm bên ngoài thì khó đạt hiệu quả cao. Khi chương trình được tích hợp trong nhà trường, việc học sẽ được thiết kế liên thông, phù hợp với độ tuổi và chương trình chính khóa.

Thuận lợi về chất lượng và phương pháp. Các trung tâm uy tín thường có giáo trình hiện đại, phương pháp giảng dạy chú trọng kỹ năng giao tiếp và ứng dụng thực tiễn. Khi kết hợp với nền tảng giáo dục chính quy, sẽ tạo ra sự bổ trợ lẫn nhau, giúp học sinh phát triển toàn diện hơn.

Thuận lợi về chi phí và công bằng xã hội. Khi triển khai theo mô hình tập thể trong nhà trường, chi phí thường được tối ưu hơn so với học riêng lẻ. Điều này giúp nhiều học sinh có cơ hội tiếp cận chương trình chất lượng.

Đặc biệt, trong bối cảnh Quyết định 2732/QĐ-TTg của Thủ tướng Phê duyệt Đề án tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045 nêu một trong giải pháp thực hiện đề án là khuyến khích đẩy mạnh xã hội hóa và huy động các nguồn lực, thì mô hình liên kết nếu được tổ chức bài bản sẽ là một "đòn bẩy" quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai.

fafxm.png
Ảnh minh họa: AI.

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cho rằng, việc phối hợp giữa nhà trường và các trung tâm uy tín không chỉ là thêm giờ học mà là giải pháp chiến lược, giúp tối ưu thời gian, chi phí, tạo môi trường học tập thuận tiện, an toàn cho học sinh và giảm gánh nặng cho phụ huynh. Đồng thời, sự tham gia của đội ngũ chuyên gia, học liệu hiện đại góp phần nâng cao chất lượng dạy học, hỗ trợ giáo viên trong quá trình chuyển đổi sang giảng dạy bằng tiếng Anh.

Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh, xã hội hóa giáo dục phải dựa trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện, minh bạch và chất lượng. Mọi hình thức gây áp lực hay bố trí chương trình làm mất quyền lựa chọn của học sinh đều không thể chấp nhận.

Về tài chính, cần kiểm soát chặt chẽ các khoản thu, công khai minh bạch và tăng cường giám sát từ cơ quan quản lý, nhà trường và phụ huynh. Quyền tự chủ phải đi kèm trách nhiệm giải trình, không để môi trường giáo dục bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận.

Để phát triển bền vững, cần cơ chế kiểm soát đủ mạnh, xử lý nghiêm vi phạm, đồng thời phát huy vai trò của Hội đồng trường và phụ huynh nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa nhu cầu học tập và khả năng chi trả, trên cơ sở tự nguyện và công bằng.

Ở góc độ một đại biểu dân cử, đại biểu Tú Anh nhìn nhận xã hội hóa giáo dục tiếng Anh là một giải pháp mang tính nhân văn và sát thực tế, nếu thực hiện đúng bản chất.

Về kinh tế và tính bền vững, học ngoại ngữ là quá trình dài hạn, nên việc học đều đặn với chi phí hợp lý ngay tại trường sẽ góp phần "bình dân hóa" giáo dục tiếng Anh chất lượng cao, mở rộng cơ hội tiếp cận cho đa số học sinh, qua đó thúc đẩy công bằng trong giáo dục.

Về lợi ích cho học sinh, giai đoạn phổ thông là "thời điểm vàng" để phát triển ngôn ngữ. Khi tiếng Anh được lồng ghép khéo léo vào môi trường học đường quen thuộc, các em sẽ tiếp thu một cách tự nhiên, giảm bớt áp lực tâm lý so với việc phải đi học thêm ở những môi trường xa lạ sau giờ chính khóa.

"Để gánh nặng tài chính của phụ huynh thực sự được giảm bớt như mong đợi, các nhà trường phải đảm bảo tính minh bạch tuyệt đối. Tôi cho rằng, nếu chúng ta làm tốt công tác quản trị và giữ đúng đạo đức nghề nghiệp, mô hình này sẽ là "bàn đạp" quan trọng để thực hiện mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai. Khi phụ huynh tin tưởng vào sự minh bạch của nhà trường và thấy được sự tiến bộ thực chất của con em mình, họ sẽ trở thành nguồn lực xã hội hóa mạnh mẽ nhất, đồng hành cùng ngành giáo dục trong công cuộc đổi mới", đại biểu kỳ vọng.

Cơ chế đảm bảo chất lượng trong liên kết đào tạo

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga khẳng định, liên kết đào tạo là cần thiết, nhưng điều cốt lõi là phải lựa chọn đúng đối tác và đảm bảo chất lượng thực sự.

Trong bối cảnh xã hội hóa, nếu không có cơ chế kiểm soát tốt, rất dễ xảy ra tình trạng "vàng thau lẫn lộn" - nơi mà các đơn vị không đủ năng lực vẫn tham gia cung cấp dịch vụ, làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà trường và quyền lợi của học sinh.

Theo đại biểu, cần thiết lập một số cơ chế trọng tâm:

Một là, chuẩn hóa điều kiện tham gia. Các đơn vị liên kết phải đáp ứng các tiêu chí rõ ràng về đội ngũ giáo viên, chương trình giảng dạy, cơ sở vật chất và kinh nghiệm triển khai. Đây có thể là một hệ thống "giấy phép có điều kiện", được đánh giá định kỳ.

Hai là, công khai, minh bạch thông tin. Tất cả các chương trình liên kết cần được công bố rõ ràng về nội dung, chi phí, thời lượng, kết quả đầu ra… để phụ huynh và học sinh có cơ sở lựa chọn.

Ba là, cơ chế giám sát độc lập. Không chỉ giao cho nhà trường tự đánh giá, mà cần có sự tham gia của cơ quan quản lý giáo dục, thậm chí là các tổ chức kiểm định độc lập, nhằm đảm bảo khách quan.

Bốn là, đảm bảo nguyên tắc tự nguyện. Mọi chương trình xã hội hóa phải dựa trên sự đồng thuận của phụ huynh, không được "ẩn" trong các khoản thu bắt buộc.

Cuối cùng, cần làm rõ trách nhiệm của từng bên: Nhà trường, đơn vị liên kết và cơ quan quản lý. Khi trách nhiệm được phân định rõ ràng, thì xã hội hóa mới thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục, chứ không phải là gánh nặng hay rủi ro.

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh nhìn nhận, liên kết đào tạo chỉ có ý nghĩa khi tạo được "giá trị gia tăng" - học sinh đạt được năng lực ngôn ngữ vượt trội hơn.

Để xã hội hóa đi đúng hướng, theo đại biểu cần có một "kiềng ba chân" về mặt quản lý:

Thứ nhất, thẩm định chặt chẽ. Không phê duyệt đối tác chỉ dựa hồ sơ hình thức; phải có tiêu chuẩn rõ về giáo viên (bằng cấp, chứng chỉ quốc tế), chương trình được kiểm định uy tín. Học phí phải minh bạch, được cơ quan tài chính thẩm định, tránh “thổi giá”, chi hoa hồng gây thiệt hại cho phụ huynh.

Thứ hai, giám sát độc lập và hậu kiểm. Quyền tự chủ của hiệu trưởng phải gắn với trách nhiệm giải trình. Cần đánh giá định kỳ chất lượng đầu ra; nếu không đạt cam kết, phải chấm dứt hợp đồng. Vai trò giám sát của Hội đồng trường và phụ huynh cần được luật hóa rõ ràng.

Thứ ba, tổ chức linh hoạt, đảm bảo tự nguyện. Không "cài" lớp liên kết vào giờ chính khóa để ép buộc. Phải có phương án riêng cho học sinh không tham gia, đảm bảo quyền lựa chọn dựa trên thông tin đầy đủ và điều kiện tài chính.

Khi có hành lang pháp lý minh bạch và hậu kiểm nghiêm, các đơn vị yếu kém sẽ bị đào thải, chỉ còn những đơn vị thực sự có chất lượng đồng hành cùng nhà trường, tạo giá trị thực cho người học.

Cùng trao đổi, ông Trương Xuân Cừ - Đại biểu Quốc hội Khóa XV cho rằng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc nâng cao năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với nguồn nhân lực. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh còn chưa đồng đều, trong khi nhu cầu học tập, đặc biệt là nhu cầu được thực hành, giao tiếp của học sinh ngày càng cao. Chính vì vậy, chủ trương xã hội hóa giáo dục tiếng Anh là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với xu thế phát triển.

image-6.jpg
Ông Trương Xuân Cừ - Đại biểu Quốc hội Khóa XV . Ảnh: Thi Thi.

Theo ông Trương Xuân Cừ, để triển khai hiệu quả, cần mạnh dạn trao quyền nhiều hơn cho các cơ sở giáo dục trong việc lựa chọn đối tác, xây dựng chương trình và tổ chức thực hiện các hoạt động liên kết. Khi nhà trường được chủ động, linh hoạt, họ sẽ dễ dàng thiết kế các mô hình phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu của người học, từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Tuy nhiên, đi cùng với trao quyền phải là cơ chế quản lý, giám sát chặt chẽ. Các chương trình liên kết cần được lựa chọn từ những đơn vị có uy tín, đảm bảo chất lượng chuyên môn và tính sư phạm. Đồng thời, cần xây dựng khung quy định rõ ràng về mức phí đối với các hoạt động này, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công khai, tránh phát sinh tiêu cực và tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Nếu làm tốt các yếu tố trên, việc xã hội hóa giáo dục tiếng Anh không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường, mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận giữa các nhóm học sinh, hướng tới một nền giáo dục mở, linh hoạt và hội nhập.

Thi Thi