Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045” mở ra kỳ vọng lớn về việc nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị nguồn nhân lực hội nhập. Tuy nhiên, ở những địa bàn khó khăn, mục tiêu này đang đối mặt với không ít trở ngại.

Học sinh dân tộc thiểu số gặp khó khăn khi phải học 3 ngôn ngữ cùng lúc

Nằm cách trung tâm thành phố Điện Biên Phủ khoảng 50-60 km về phía Đông Bắc, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Huổi Lèng (xã Mường Tùng, tỉnh Điện Biên) nép mình giữa một bản vùng cao xa xôi, đường sá gập ghềnh và phần lớn học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Hoàng Thanh Nghị - Hiệu trưởng nhà trường cho biết, hiện trường có gần 500 học sinh với 20 lớp nhưng chỉ có 2 giáo viên dạy tiếng Anh. Điều này đồng nghĩa mỗi giáo viên phải phụ trách khoảng 10 lớp, với sĩ số trung bình mỗi lớp khoảng gần 30 học sinh. Như vậy, một giáo viên dạy tiếng Anh cùng lúc phải giảng dạy hàng trăm học sinh.

542263222-709352828796703-4806038748589609357-n.jpg
Thầy Hoàng Thanh Nghị - Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Huổi Lèng (xã Mường Tùng, tỉnh Điện Biên). Ảnh: website nhà trường

Theo thầy Nghị, khối lượng công việc lớn khiến giáo viên khó theo sát từng học sinh, đặc biệt trong việc rèn luyện các kỹ năng như nghe và nói. Khi thời gian giảng dạy bị phân tán cho nhiều lớp, giáo viên gặp khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động học tập phù hợp với từng đối tượng học sinh.

“Khó khăn càng lớn khi phần lớn học sinh là người dân tộc Mông. Ngay từ lớp 1, các em phải học tiếng Việt và đồng thời làm quen với tiếng Anh, trong khi tiếng mẹ đẻ vẫn là ngôn ngữ giao tiếp chính. Việc tiếp cận cùng lúc ba ngôn ngữ khiến nhiều em lúng túng, đặc biệt ở giai đoạn đầu.

Bên cạnh đó, điều kiện dạy học còn hạn chế. Do hệ thống Internet chưa ổn định, thiết bị dạy học ngoại ngữ còn thiếu và chưa đồng bộ nên giáo viên gặp khó khăn khi áp dụng phương pháp giảng dạy mới. Dù một số lớp có tivi nhưng giáo viên giảng dạy chủ yếu bằng máy tính cá nhân, loa hoặc bằng cách truyền thống”, thầy Nghị cho hay.

Trước những khó khăn nêu trên, thầy Nghị bày tỏ, đội ngũ giáo viên của nhà trường đang nỗ lực thích ứng bằng cách chủ động điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp với điều kiện thực tế. Giáo viên linh hoạt trong tổ chức lớp học, tận dụng các phương tiện sẵn có để truyền đạt kiến thức, đồng thời tăng cường tương tác với học sinh trong khả năng cho phép. Tuy nhiên, trong bối cảnh sĩ số lớp đông, thời lượng giảng dạy bị chia nhỏ và điều kiện hỗ trợ còn hạn chế, việc giáo viên muốn nâng cao chất lượng môn tiếng Anh, đặc biệt ở các kỹ năng nghe và nói vẫn gặp nhiều trở ngại.

“Theo tôi, nhu cầu cấp thiết trước mắt của nhà trường là mong muốn được Nhà nước quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất phục vụ dạy học. Nhà trường rất cần nâng cấp hệ thống Internet ổn định, bổ sung thiết bị dạy học ngoại ngữ như tivi, loa, máy tính và học liệu số để đảm bảo giáo viên có điều kiện triển khai các phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn. Khi các điều kiện tối thiểu này được đảm bảo, giáo viên mới có thể cải thiện chất lượng bài giảng và tăng cơ hội cho học sinh tiếp cận, luyện tập ngoại ngữ một cách thường xuyên, bài bản hơn”, thầy Nghị nêu quan điểm.

Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại Trường Tiểu học Đắk Mang (xã Ân Tường, tỉnh Gia Lai). Theo thầy Nguyễn Quốc Hoài - Hiệu trưởng nhà trường, do hạn chế về kinh phí, hiện trường chỉ có 1 giáo viên tiếng Anh phụ trách toàn bộ chương trình giảng dạy. Dù quy mô trường không lớn, giáo viên này vẫn đảm nhiệm tới 7 lớp, đồng thời xây dựng kế hoạch bài giảng cho nhiều khối khác nhau.

Một thách thức khác là 100% học sinh của trường đều là người dân tộc thiểu số. Do đó, khi bước vào lớp 1, nhiều em vẫn chưa nói sõi tiếng phổ thông, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức cơ bản đã gặp khó khăn, chưa nói đến học thêm tiếng Anh.

“Do các em chưa vững tiếng Việt nên khi học thêm tiếng Anh từ sớm, nhiều học sinh dễ rơi vào tình trạng ‘quá tải ngôn ngữ’. Vì vậy, giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà còn phải hỗ trợ các em làm quen với tiếng phổ thông. Tuy nhiên, do số lượng lớp và học sinh đông, nếu một số em không theo kịp bài thì giáo viên rất khó có đủ thời gian để kèm cặp riêng từng em. Về lâu dài, điều này có thể làm gia tăng khoảng cách về năng lực ngoại ngữ giữa học sinh vùng cao và học sinh ở khu vực thuận lợi.

Ngoài ra, điều kiện sinh hoạt khó khăn, giao thông đi lại vất vả cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút và giữ chân giáo viên tiếng Anh. Nhiều giáo viên có xu hướng lựa chọn công tác tại những nơi thuận lợi hơn, khiến tình trạng thiếu giáo viên ở vùng cao kéo dài và khó được cải thiện trong thời gian ngắn”, thầy Hoài nêu quan điểm.

Theo thầy Hoài, thực tế có thể thấy, câu chuyện một giáo viên dạy tiếng Anh phải đảm nhận nhiều lớp cùng lúc không chỉ là vấn đề từng nhà trường mà còn phản ánh bài toán chung về phân bổ nguồn lực giáo dục. Do đó, để triển khai học ngoại ngữ đạt hiệu quả, các cơ quan quản lý cần có những chính sách linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng vùng, miền.

“Trong đó, tôi cho rằng cần ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin để giúp giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy. Đồng thời, Nhà nước cần có cơ chế thu hút, hỗ trợ giáo viên công tác tại vùng khó khăn, từ đó đảm bảo đủ nguồn lực giảng dạy, cống hiến ở vùng khó.

Đặc biệt, việc xây dựng lộ trình dạy học tiếng Anh cũng cần được điều chỉnh phù hợp với năng lực tiếp nhận của học sinh vùng dân tộc thiểu số. Khi nền tảng tiếng Việt chưa vững, việc đưa ngoại ngữ vào quá sớm có thể khiến học sinh rơi vào tình trạng ‘quá tải ngôn ngữ’, ảnh hưởng đến hiệu quả học tập lâu dài”, thầy Hoài cho biết.

Một giáo viên tiếng Anh vùng cao “cõng” hơn chục lớp học với tổng số 47 tiết/tuần

Theo cô Hoàng Thị Nguyệt - giáo viên tiếng Anh, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Trung Thịnh (xã Trung Thịnh, tỉnh Tuyên Quang), nhìn chung, tình trạng thiếu giáo viên môn tiếng Anh tại địa phương đang ở mức nghiêm trọng, nhiều thầy cô phải đảm nhận khối lượng công việc vượt xa định mức. Hiện nay, toàn trường chỉ có 2 giáo viên dạy tiếng Anh, trong khi số lượng lớp cần học tiếng Anh khá lớn.

z7655011868380-c3f717caf9d6b25f8c0ee6687081858d.jpg
Cô Hoàng Thị Nguyệt - giáo viên tiếng Anh, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Trung Thịnh (xã Trung Thịnh, tỉnh Tuyên Quang) trong tiết dạy môn tiếng Anh. Ảnh: NVCC

Riêng cô Nguyệt đang giảng dạy 6 lớp tại trường với 18 tiết/tuần, cộng thêm 2 tiết phụ đạo. Bên cạnh đó, cô còn được phân công tăng cường cho một trường tiểu học trên địa bàn xã và phụ trách thêm 6 lớp với 24 tiết/tuần. Như vậy, mỗi tuần cô phải dạy tới 44 tiết, chưa kể các tiết phụ đạo nâng tổng số lên khoảng 47 tiết/tuần, tức là gần gấp 3 lần định mức tiêu chuẩn (17 tiết/tuần đối với giáo viên bán trú).

“Điều này có nghĩa, mỗi tuần tôi phải đảm nhận cùng lúc 12 lớp, vừa dạy chính ở trường trung học cơ sở, vừa dạy tăng cường cho trường tiểu học. Khối lượng công việc rất lớn, gần như tôi không có thời gian nghỉ ngơi hay đầu tư thêm cho chuyên môn.

Không chỉ quá tải về số tiết, việc di chuyển giữa các điểm trường cũng là một thử thách với tôi. Trường tiểu học nơi tôi tăng cường nằm trên địa bàn xã, nhưng đường đi khó khăn và mất nhiều thời gian. Vì không thể bố trí dạy rải đều trong tuần, tôi buộc phải dạy dồn tiết, mỗi lớp tiểu học học 4 tiết liên tiếp trong một buổi để hoàn thành chương trình.

Về lâu dài, cách dạy ‘cuốn chiếu’ này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp thu của học sinh, đặc biệt là các em người dân tộc thiểu số. Bởi, hầu hết các em chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ như Dao, Mông, trong khi tiếng Việt còn chưa thành thạo, nên việc học tiếng Anh càng trở nên khó khăn. Khi phải học dồn 4 tiết liên tục, các em dễ bị quá tải và khó ghi nhớ kiến thức”, cô Nguyệt trăn trở.

Tại nhà trường, cô Nguyệt cho biết do thiếu giáo viên, có những buổi cô phải gộp 2 lớp để dạy cùng lúc, với sĩ số lên tới 70-80 học sinh. Bên cạnh đó, điều kiện học tập của học sinh vùng cao còn nhiều hạn chế. Phần lớn các em chưa tiếp cận được các thiết bị công nghệ như máy tính, điện thoại hay phần mềm học tiếng Anh, nên việc tự học hay củng cố kiến thức ngoài giờ hầu như không có. Điều này khiến giáo viên phải truyền đạt hầu hết kiến thức ngay trên lớp, càng làm tăng áp lực cho công việc giảng dạy.

“Dù gặp nhiều khó khăn, tôi vẫn thấy học sinh rất hào hứng với môn tiếng Anh, đặc biệt là khi học theo chương trình giáo dục phổ thông mới với nhiều hoạt động qua trò chơi, bài hát. Mỗi lần tôi đến lớp, các em đều rất vui và chính niềm vui đó đã trở thành động lực để tôi cố gắng tiếp tục công việc của mình.

Tuy nhiên, tôi cũng nhận thấy nếu tình trạng thiếu giáo viên không được cải thiện, việc dạy học khó có thể đạt hiệu quả như mong muốn. Nếu được dạy đúng định mức, tôi sẽ có thêm thời gian chuẩn bị bài và nghiên cứu chuyên môn, chắc chắn chất lượng giảng dạy sẽ tốt hơn so với việc phải ‘chạy sô’ như hiện tại”, cô Nguyệt bày tỏ.

Thu Thuỷ