Con đường thứ năm chi viện cho chiến trường miền Nam thời đánh Mỹ

Xã hội

Đại tá ĐẶNG VIỆT THỦY

(GDVN) - Con đường tài chính, chuyển ngân này là hình thức rất đặc biệt: nó là con đường vô hình, chỉ "ai làm thì người ấy biết", kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao.

LTS: Với mong muốn giúp bạn đọc nắm được những con đường chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, từ đó góp phần tạo nên thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta, Đại tá Đặng Việt Thủy có bài viết chia sẻ.

Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, bên cạnh bốn con đường chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam là:

Đường bộ theo dãy Trường Sơn (đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh); đường thủy trên biển Đông (đường Hồ Chí Minh trên biển); đường ống nhiên liệu xăng dầu, đường hàng không; còn có con đường thứ năm tham gia chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Đó là con đường tài chính, chuyển ngân.

Con đường tài chính, chuyển ngân này là hình thức rất đặc biệt: nó là con đường vô hình, chỉ "ai làm thì người ấy biết", kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao.

Tình báo Mỹ không biết, chính quyền ngụy Sài Gòn không biết, trong 20 năm không có một cuộc đánh phá nào và không một ai bị bắt.

Vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam (Ảnh tư liệu).

Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã bắt đầu lo chuyện tiền bạc cho miền Nam, trong đó chủ yếu là loại tiền do chính quyền Sài Gòn phát hành.

Sở Quản lý ngoại hối (sau là Cục Ngoại hối) được giao đảm nhiệm công tác này.

Biện pháp đầu tiên mà Sở Quản lý ngoại hối tiến hành là dùng ngân sách nhà nước để mua tiền Sài Gòn tại thị trường nước ngoài, chủ yếu là tại Hồng Kông.

Sở còn chỉ đạo cho các đơn vị đào số tiền được chôn giấu từ trước khi các lực lượng lên đường ra Bắc tập kết, đem đổi sang tiền Sài Gòn. Thời kỳ đầu, số tiền hàng năm lo cho miền Nam khoảng 1 triệu đô la.        

Cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến, nhu cầu tiền trở nên cấp thiết và ngày càng tăng, ta đã dùng nhiều cách thức để đưa tiền vào chiến trường. Sau đó khối lượng, hình thức cũng tăng dần và hoạt động với nhiều phương thức khác nhau.

Lập Quỹ ngoại tệ đặc biệt: Năm 1965, khi đế quốc Mỹ tiến hành "Chiến tranh cục bộ", Bộ Chính trị Trung ương Đảng cho lập tại miền Bắc "Quỹ ngoại tệ đặc biệt", lấy từ các nguồn quốc tế viện trợ để chi viện trực tiếp cho miền Nam.

Với các nước anh em lúc bấy giờ, ngoài đề nghị viện trợ bằng vật chất như vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng, ta còn đề nghị viện trợ bằng ngoại tệ (chủ yếu là đồng đô la Mỹ) để chi viện cho những vùng, miền mà ta chưa thể đưa hàng tới nơi được.

Lần đầu tiên công bố nhiều hình ảnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Nhu cầu của các chiến trường lúc bấy giờ là tiền Ngân hàng Sài Gòn và một số loại tiền của các nước lân cận như đồng Bạt (Thái Lan), Riêl (Cam pu chia), Kíp (Lào)...

Vì vậy, ta phải tổ chức đổi đô la ra các loại tiền nói trên. Địa bàn quan trọng đầu tiên để thực hiện nghiệp vụ này là Hồng Kông với thể chế chính trị đặc biệt và một nền kinh tế mở, có nhiều mối quan hệ quốc tế, lại rất gần nước ta về mặt địa lý, là một thuận lợi rất lớn.            

Ngoài Hồng Kông, nguồn viện trợ ngoại tệ từ các cá nhân và các nước Tây Âu thì "chuyển" ra đô la Mỹ, rồi qua đường "giao thông ngoại giao" chuyển từ Pa-ri qua Mát-xcơ-va về Hà Nội.

Từ Hồng Kông và Hà Nội, ta chuyển tiền vào miền Nam qua hai hình thức chuyển khoản và chuyển bằng tiền mặt.

Trong lớp lớp những đoàn xe chở hàng ra mặt trận, có những chuyến xe đặc biệt chở những hòm sắt hàn kín được giao nhận theo những quy định nghiêm ngặt, có mật danh là "hàng Z". Đó chính là những hòm ngoại tệ chi viện cho miền Nam.

Phương thức Đổi tiền bằng tỷ giá "khuyến mại": Chính quyền Sài Gòn ở miền Nam cũng như nhiều nước khác thường quy định giá trị bản tệ cao hơn giá trị thực tế so với đồng đô la.

Vào đầu những năm 1960, cứ 1 đô la thì đổi được 140 đồng Sài Gòn, trong khi tại thị trường chợ đen thì được tới 190 đồng.

Người nước ngoài vào miền Nam phải đổi ngoại tệ với tỷ giá 1/140, nhưng không dễ gì ra thị trường chợ đen để đổi theo tỷ giá 1/190 được, bởi hoạt động này bị cấm.

Lợi dụng tình hình này, ta đã đề ra một tỷ giá "khuyến mại" là 1/160 để thu hút lượng tiền.

Nhật ký Chiến dịch Hồ Chí Minh

Một cơ sở bí mật của ta được cài ngay trong Ngân hàng Sài Gòn mang mật danh là N2683, đã lấy tiền ngay tại ngân hàng này do những chủ doanh nghiệp lớn cung cấp.

Theo thỏa thuận với với N2683, họ lấy tiền mặt ở ngân hàng để "sản xuất kinh doanh", nhưng thực tế là để cung cấp cho cách mạng.

Ta có tiền Ngân hàng Sài Gòn nhận ngay tại Sài Gòn, trong khi họ lại được đổi đô la theo tỷ giá "khuyến mại".

Phương pháp này có thuận lợi lớn là có thể chuyển nhanh một số tiền lớn chỉ trong một ngày thay cho hàng, lại vừa rất an toàn, kín đáo, không bị thiệt hại do tỷ giá mà còn sinh lợi nhờ hưởng lãi suất của ngân hàng. Riêng khoản lãi suất này tính trong 10 năm lên tới gần 25 triệu đô la.

Phương thức Tiền trong va li, tiền đi đường thủy: Tại Hồng Kông, ngoài nghiệp vụ đổi tiền qua chuyển khoản theo kiểu đáo hối nói trên, chúng ta còn thực hiện đổi trực tiếp đô la lấy tiền Sài Gòn. Số tiền thu được ở Hồng Kông ta chuyển về cơ sở ở Quảng Châu, rồi về Hà Nội.

Từ Hà Nội tiền được Đại đội 100 của Đoàn 559 chuyển vào các chiến trường theo sự phân phối của Bộ Quốc phòng.

Đại đội 100 thành lập tháng 7/1970, với nhiệm vụ vận chuyển tiền cho chiến trường B2 (tiền cho T4, Khu 5, B3 do đơn vị khác đảm nhiệm).

Đoàn xe com-măng-ca của C-100 xuất phát từ đèo Mụ Giạ trên đất Quảng Bình mang theo những chiếc va li bằng sắt dài khoảng 70cm, ngang chừng 30cm, cao 20cm, chạy tới ngã ba Lằng Khằng (một địa điểm trên vùng giải phóng Lào).

Từ đây, theo Hiệp định đã được ký kết, Quân giải phóng Lào cho xe con chở tiền chạy trên đất Lào vượt qua Xiêng Phạn, Mường Phìn, La Hay rồi dừng lại tại Bạc giao cho Đoàn 470 - Bộ Tư lệnh Đoàn 559.

Dấu ấn, bài học trong công tác bảo đảm hậu cần chiến lược năm 1975

Từ Bạc, những hòm tiền xuôi theo đường thủy trên ca nô hoặc thuyền để đổ bộ lên ngã ba Phi Hà (còn được gọi là ngã ba Đông Dương).

Tùy theo từng thời điểm, căn cứ vào tình hình địch, nhu cầu của chiến trường, phương tiện vận chuyển...

Bộ Tư lệnh Đoàn 470 quyết định chuyển những kiện đô la ngược sang đất Cam pu chia để bàn giao cho cơ sở của ta tại tỉnh Stung-treng hoặc dùng xe con chạy thẳng tới Bù Gia Mập - nơi đặt trạm giao liên trên đường tiến vào Sài Gòn.

Riêng trong năm 1970, C-100 đã vận chuyển được 1.875 hòm tiền an toàn.

Tiền tệ chi viện cho chiến trường miền Nam ngoài đô la Mỹ, tiền Ngân hàng Sài Gòn còn có một khối lượng lớn tiền bạc Đông Dương là bạc hoa xòe.

Thời kỳ giao nhận bạc hoa xòe kéo dài từ năm 1961-1964, tháng nào cũng có nhiều chuyến, mỗi lần giao nhận khoảng 10 hòm, mỗi hòm nặng gần 20kg. Số tiền này Quân khu 5 giao hết cho Khu ủy để cấp phát thẳng cho các đơn vị.

Ngoài những con đường chi viện tiền tệ nói trên, chúng ta còn chuyển tiền qua Phnôm Pênh, từ đó bí mật vận chuyển về Sài Gòn, hoặc cấp ngay cho Đoàn hậu cần K20 để để thu mua hàng hóa tại 3 vùng biên giới.

Ngoài ra, tiền còn được theo những con tàu không số đến với các chiến trường cực Nam của Tổ quốc.

Việc đổi đô la ra tiền Ngân hàng Sài Gòn để chi tiêu là một hoạt động khó khăn, gian khổ. Gánh vác phần lớn công việc này là những chiến sĩ tình báo.

Hình thức đổi cũng rất đa dạng, phong phú. Một trong những hình thức rất hiệu quả là thông qua các tiệm buôn bán vàng. Các tiệm buôn vàng này đều có buôn đô la.

Để đề phòng bị lộ, cứ mỗi ngày cơ sở của ta đổi cho bốn tiệm vàng, mỗi tiệm 500 đô la. Ngày hôm sau lại qua bốn tiệm vàng khác.

Đại thắng mùa Xuân 1975 - Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định có hàng trăm tiệm vàng, nên bình quân khoảng 10 ngày sau mới quay lại tiệm vàng cũ nên địch không phát hiện được, còn ta đổi được số lượng lớn tiền mặt.

Ở đây cũng cần nói thêm rằng, có ngoại tệ - nhất là ngoại tệ mạnh - có thể mua được mọi thứ.

Nhưng để mua và vận chuyển được những thứ đó đến dự trữ ở các địa bàn chiến lược rồi cấp phát, sử dụng, đáp ứng yêu cầu chiến đấu là cả một quá trình đấu tranh với địch một cách linh hoạt, khôn khéo và cũng đầy quyết liệt, gian khổ.

Trước hết, phải tìm mọi cách đưa ngoại tệ vào vùng địch để "chế biến" ra loại tiền thích hợp - chủ yếu và phổ biến nhất là từ đô la Mỹ đổi lấy tiền của ngụy quyền Sài Gòn và tiền Riêl của Cam pu chia.

Cơ quan tài vụ các mặt trận, quân khu và Ban Kinh tại các khu, tỉnh đều tổ chức được các "đường dây đổi tiền bí mật, độc lập" gồm những cơ sở quần chúng đáng tin cậy, móc nối được cả với nhân viên trong bộ máy hành chính, quân sự của địch làm việc cho ta.

Thực hiện nhiệm vụ này, các cán bộ tài vụ Quân giải phóng ngày càng dày dạn kinh nghiệm: vừa nắm vững quy luật kinh tế, giá cả thị trường để trao đổi có lợi không thiệt hại cho công quỹ, vừa tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng tự nguyện giúp đỡ cách mạng để giảm các chi phí về giao dịch, môi giới, thuê mướn.

Kế hoạch đổi tiền được quản lý chặt, bảo vệ tốt nên thực hiện thường xuyên liên tục, an toàn, ít tổn thất.

Phương thức Tiền gùi trên vai: Tại Quân khu 5, việc tiếp nhận đô la, tiền Ngân hàng Sài Gòn lúc đầu do Cục Hành lang thực hiện.

Cục Hành lang là tổ chức trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (sau đó sáp nhập với Cục Hậu cần thành Cục Hậu cần - Hành lang), có nhiệm vụ tiếp nhận hàng hóa chi viện của ta (trong đó có đô la và bạc hoa xòe) từ miền Bắc qua Đoàn 70 (sau này là Đoàn 559) chuyển vào và vận chuyển giao về cho Khu ủy Khu 5.

Khu ủy Khu 5 tổ chức đưa vào Ngân hàng Đà Nẵng đổi ra tiền Sài Gòn. Sau đó, thông báo sẽ cấp bao nhiêu tiền cho quân khu tại cửa khẩu, cơ quan tài vụ phải đưa lực lượng xuống cửa khẩu, tận vùng giáp ranh để nhận.

Các trận đánh then chốt, xuất hiện thời cơ cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng

Đây là một công việc khó khăn, nguy hiểm nên lực lượng đi nhận tiền được tuyển chọn rất kỹ lưỡng, phải là những người dũng cảm, thông thạo địa hình, địa vật, đường sá.

Có lần, đoàn nhận tiền với năm người gùi trên đường về bị địch phục kích, đã chiến đấu rất dũng cảm chở tiền về đến nơi và giao nộp đầy đủ. Việc nhận tiền từ Khu ủy kéo dài cho tới khi Khu ủy giải tán.

Phương thức Tiền trong thùng dầu: Có tiền Ngân hàng Sài Gòn rồi, việc vận chuyển cho các chiến trường cũng là một công việc không dễ.

Nhóm cán bộ tình báo ở Sài Gòn, do đồng chí Trần Quốc Trung (tức Mười Tiến) chỉ huy, có nhiệm vụ tổ chức vận chuyển tiền cho nhiều chiến trường.

Với các Quân khu 8, 9 cán bộ ta lợi dụng các thuyền chở gạo từ miền Tây lên Sài Gòn bán, khi về phải mang vỏ bao không về, bỏ tiền vào các vỏ bao không này để che mắt quân địch; hoặc giao cho các chủ ghe "hai đáy" của ta vận chuyển về địa bàn Quân khu 9.

Với Quân khu 5, nhóm tình báo thuê tàu biển đổ tiền lên một vị trí đã thống nhất.

Tại Quân khu 6, tiền được bỏ vào các thùng dầu hỏa, buộc hớ hênh trên ô tô, khiến quân địch không ngờ, nên vận chuyển được rất nhiều tiền.

Việc vận chuyển tiền cho các Quân khu 5, 6 được tiến hành theo cách này cho đến khi Tuyến vận tải 559 trực tiếp chuyển được các hòm tiền cho hai quân khu này.

Ngoài nguồn tiền do nhóm tình báo ở Sài Gòn cung cấp, các quân khu cũng tự thực hiện việc đổi đô la ra tiền Ngân hàng Sài Gòn.

Độc lập, tự do - khát vọng ngàn đời của người dân đất Việt

Quân khu 9 tổ chức nhiều đường dây đổi tiền, trong đó có đường dây của đồng chí Trần Văn Ba (tức Ba Xê), một cán bộ tài chính giàu kinh nghiệm.

Ba Xê đóng giả làm tư sản, có ô tô riêng, ăn mặc sang trọng, thường xuyên lên Sài Gòn, quan hệ với các nhà tư sản để đổi tiền.

Cho đến khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng năm 1975, đồng chí Ba Xê đã đổi được 1,5 triệu đô la.

Tiền đổi được, Quân khu 9 giao cho đội vận tải của Phòng tài chính vận chuyển bằng xuồng, ghe qua các kênh rạch rất khó khăn, gian khổ để đưa xuống các đơn vị.

Quân khu 7 cũng tổ chức những đơn vị chuyên làm nhiệm vụ đổi tiền, còn việc vận chuyển tiền chủ yếu do đội vận tải bằng xe Hon đa 90 thực hiện. Lực lượng này đông tới hàng trăm người.

Những chiếc xe Hon đa 90 ngang dọc trong những cánh rừng cao su, rừng khộp vận chuyển tiền cho các đơn vị, tạo nên nét lãng mạn riêng của những chiến sĩ tài chính trên chiến trường miền Đông Nam Bộ "gian lao mà anh dũng".

Con đường thứ năm chi viện cho chiến trường miền Nam - con đường tài chính, con đường chuyển ngân đã mang đến sức mạnh vật chất vô cùng to lớn, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn quân, toàn dân ta.

Tài liệu tham khảo:

- Góp phần tìm hiểu về 30 năm chiến tranh giải phóng ở Việt Nam (1945 - 1975) - Hỏi và đáp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội - 2009.

- Những điều ít biết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (Hỏi và đáp), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội - 2010.

Đại tá ĐẶNG VIỆT THỦY
Từ khóa :
chiến trường miền Nam , kháng chiến chống Mỹ , Ngân hàng Sài Gòn , con đường tài chính , chuyển ngân
Con đường thứ năm chi viện cho chiến trường miền Nam thời đánh Mỹ
Chủ đề : Lịch Sử Quân Sự Việt Nam
Bình luận
Xem thêm bình luận
Tin khác