Dù số lượng giảng viên có trình độ tiến sĩ tại Việt Nam đã đạt tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay (35,7%), song hệ thống giáo dục đại học vẫn đang đối mặt với những thách thức lớn khi các quy định mới về chuẩn cơ sở giáo dục và chỉ tiêu tuyển sinh bắt đầu siết chặt theo lộ trình đến năm 2030.
Theo số liệu thống kê mới nhất từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến tháng 9/2025, đội ngũ giảng viên đại học trên cả nước đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ về chất lượng. Trong tổng số khoảng 94.000 giảng viên, với 33.504 giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên.
Tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ hiện chiếm 35,7% tổng số giảng viên toàn quốc, tăng 1,4% so với năm 2024. Dù đạt mức cao nhất từ trước đến nay, tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ tại Việt Nam vẫn thấp hơn so với mức phổ biến khoảng 50-75% tại một số quốc gia như Mỹ, Anh hay Malaysia.
Để có thêm góc nhìn về thực trạng đội ngũ giảng viên trình độ tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục đại học hiện nay, phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam tiến hành thống kê số liệu từ Báo cáo thường niên năm 2025 của hơn 100 cơ sở giáo dục đại học trên cả nước.
Kết quả thống kê cho thấy tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ có sự chênh lệch đáng kể không chỉ giữa các vùng miền mà còn giữa từng cơ sở giáo dục đại học.
Xét theo vùng miền, Đồng bằng sông Hồng hiện có tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ cao nhất cả nước. Khu vực này có 12.922 tiến sĩ trên tổng số 31.722 giảng viên cơ hữu, tương ứng 40,74%. Đây cũng là khu vực duy nhất có tỷ lệ tiến sĩ vượt mốc 40%.
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đứng thứ hai với tỷ lệ 34,88%, tương ứng 4.124 tiến sĩ trên 11.822 giảng viên cơ hữu.
Trong khi đó, Đông Nam Bộ là khu vực có tỷ lệ tiến sĩ thấp nhất cả nước, đạt 23,96%. Tây Nguyên đạt 25,9%, còn Đồng bằng sông Cửu Long đạt 31,62%.
Riêng tại hai đô thị lớn nhất cả nước, Hà Nội đang dẫn đầu về tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ với 43,7%, tương ứng 11.143 tiến sĩ trên tổng số 25.499 giảng viên cơ hữu.
Thành phố Hồ Chí Minh có 7.317 tiến sĩ trên 22.959 giảng viên cơ hữu, đạt tỷ lệ 31,87%.
Xét riêng 13 đại học hiện nay, bao gồm 2 đại học quốc gia, 3 đại học vùng và 8 đại học được nâng cấp từ “trường đại học”, Đại học Bách khoa Hà Nội đang dẫn đầu với tỷ lệ tiến sĩ đạt 76,19%.
Đại học Quốc gia Hà Nội xếp thứ hai với 64,3%, tiếp đến là Đại học Kinh tế Quốc dân với 63,87%.
Một số đại học khác có tỷ lệ tiến sĩ trên 50% gồm Đại học Cần Thơ (58,5%) và Đại học Đà Nẵng (52%).
Trong khi đó, 3 đại học có tỷ lệ tiến sĩ thấp nhất gồm Đại học Duy Tân (33,82%), Đại học Công nghiệp Hà Nội (33,45%) và Đại học Trà Vinh (33,3%).
Theo thống kê từ báo cáo thường niên năm 2025 của hơn 100 cơ sở giáo dục đại học trên cả nước, tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ đang có độ phân hóa lớn.
Nhóm các cơ sở có tỷ lệ tiến sĩ cao chủ yếu tập trung ở các trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội và các trường đại học nghiên cứu, kỹ thuật, sư phạm lâu năm.
Cụ thể, dẫn đầu là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội với tỷ lệ tiến sĩ đạt 85,89%. Tiếp theo là Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội với 83,48% và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đạt 78,8%.
Đại học Bách khoa Hà Nội đạt tỷ lệ 76,19%, trong khi Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đạt 74,02%. Một số cơ sở khác cũng duy trì tỷ lệ trên 60% như Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên (69%), Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (66,01%)...
Ở nhóm từ 50-60%, nhiều trường thuộc khối kỹ thuật, sư phạm và y dược xuất hiện như Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng (62,13%), Trường Đại học Thủy lợi (61,65%), Trường Đại học Dược Hà Nội (61,59%), Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng (61,03%), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (60,7%), Trường Đại học Vinh (60,1%) và Đại học Cần Thơ (58,5%).
Trong khi đó, phần lớn các cơ sở giáo dục đại học hiện nằm trong khoảng 40-50% giảng viên có trình độ tiến sĩ. Nhóm này gồm nhiều trường đại học lớn như Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (56,3%), Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (54,32%), Học viện Tài chính (52,03%), Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (50%), Trường Đại học Giao thông vận tải (48,9%), Trường Đại học Y Hà Nội (48,01%), Trường Đại học Ngoại thương (45,65%), Đại học Phenikaa (45,62%), Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (44,14%) hay Trường Đại học Tôn Đức Thắng (40,09%).
Ở nhóm thấp hơn, một số cơ sở giáo dục đại học có tỷ lệ tiến sĩ dưới 25%, gồm Trường Đại học Thủ Dầu Một (24,31%), Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (23,57%), Trường Đại học Hạ Long (22%), Trường Đại học Hà Nội (21,6%), Trường Đại học Kiên Giang (21,2%), Trường Đại học Hoa Sen (20%).
Một số trường có tỷ lệ tiến sĩ dưới 20%, như Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh (17,48%). Thấp nhất trong thống kê của Tạp chí là Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định với tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ đạt 9,65%.
Số liệu cũng cho thấy sự khác biệt giữa các nhóm ngành đào tạo. Các trường thuộc khối khoa học cơ bản, kỹ thuật, sư phạm và nghiên cứu thường có tỷ lệ tiến sĩ cao hơn mặt bằng chung. Trong khi đó, nhiều cơ sở đào tạo định hướng ứng dụng hoặc tư thục hiện có tỷ lệ tiến sĩ thấp hơn.
Trong bối cảnh hiện nay, việc gia tăng đội ngũ giảng viên trình độ tiến sĩ đang trở thành áp lực lớn đối với nhiều cơ sở giáo dục đại học, nhất là khi các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục đại học, mở ngành đào tạo, duy trì tuyển sinh và công nhận “đại học” ngày càng chặt chẽ hơn.
Theo Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT về Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, các trường không đào tạo tiến sĩ phải bảo đảm tối thiểu 20% giảng viên có trình độ tiến sĩ và nâng lên trên 30% vào năm 2030. Đối với nhóm cơ sở có đào tạo trình độ tiến sĩ, tỷ lệ này lần lượt là 40% và 50% trở lên.
Đầu tháng 4 năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục ban hành lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, với nhiều yêu cầu mới liên quan đến đội ngũ giảng viên, nghiên cứu khoa học và điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo.
Theo dự thảo, một chương trình đào tạo trình độ đại học thông thường muốn triển khai phải có tối thiểu 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì. Đối với các ngành đặc thù như sức khỏe, pháp luật, kỹ thuật then chốt hay công nghệ chiến lược, yêu cầu về đội ngũ còn được thiết kế chặt chẽ hơn theo từng lĩnh vực.
Giảng viên chủ trì không chỉ cần đúng chuyên môn mà còn phải đáp ứng yêu cầu về nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế hoặc thành tựu học thuật tương đương. Trong thời gian tối thiểu ba năm tính đến ngày 31/12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân mỗi năm một giảng viên chủ trì phải có ít nhất một bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản, bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích...
Bên cạnh đó, quy định mới về công nhận “đại học” cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ. Theo Nghị định 91/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, để được công nhận là “đại học”, các “trường đại học” phải đáp ứng nhiều tiêu chí về tổ chức, quy mô, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và tài chính.
Riêng đối với đội ngũ giảng viên, quy định mới yêu cầu tối thiểu 60% giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ. Trong khi đó, Nghị định 99/2019/NĐ-CP trước đây chưa quy định cụ thể về tỷ lệ này.
Cùng với đó, Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT quy định việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non, cũng điều chỉnh hệ số quy đổi của giảng viên trình độ thạc sĩ.
Theo quy định mới, giảng viên có trình độ tiến sĩ, phó giáo sư và giáo sư được tính hệ số 1; giảng viên trình độ thạc sĩ được tính hệ số 0,75, giảm so với mức 1,0 theo Thông tư 03/2022/TT-BGDĐT; giảng viên trình độ đại học được tính hệ số 0,5. Đồng thời, trần tối đa được xác định là 40 người học trên một giảng viên quy đổi.
Trong khi đó, số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy đến tháng 9/2025, giảng viên trình độ tiến sĩ mới chiếm hơn 35%, còn giảng viên trình độ thạc sĩ vẫn chiếm trên 54%. Điều này cho thấy lực lượng giảng viên đại học hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào đội ngũ trình độ thạc sĩ.
Như vậy, trong bối cảnh các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục đại học, mở ngành đào tạo, xác định chỉ tiêu tuyển sinh và công nhận “đại học” đồng loạt được nâng lên, tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ đang trở thành một trong những chỉ số quan trọng phản ánh năng lực đào tạo và nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học.
Trong khi nhiều trường đã tiệm cận hoặc vượt các ngưỡng mới về đội ngũ giảng viên trình độ tiến sĩ, không ít cơ sở đào tạo hiện vẫn phụ thuộc chủ yếu vào lực lượng giảng viên trình độ thạc sĩ. Sự chênh lệch lớn về tỷ lệ tiến sĩ giữa các vùng miền và giữa các trường đại học cho thấy quá trình nâng chuẩn đội ngũ giảng viên đại học đang diễn ra không đồng đều.
Theo lộ trình hiện hành, từ năm 2030, các cơ sở giáo dục đại học phải đạt tối thiểu 30% giảng viên có trình độ tiến sĩ; riêng các cơ sở có đào tạo tiến sĩ phải đạt từ 50% trở lên, trong khi các đại học phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 60%. Đây được xem là áp lực lớn đối với nhiều cơ sở giáo dục đại học trong giai đoạn tới, nhất là trong bối cảnh yêu cầu về nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế và bảo đảm chất lượng đào tạo ngày càng cao.