Nỗi niềm thầm kín của cô giáo trên đỉnh Ngải Thầu

30/11/2020 05:53 Trần Phương
GDVN- Những năm trước, những thầy cô giáo gan dạ nhất, quyết tâm nhất cũng đã từng không ít lần “chông chênh” khi nhận công tác tại vùng biên giới của huyện Nậm Pồ.

Theo nghĩa tiếng Mông, Ngải Thầu là chân tảng đá, Nà Bủng là ruộng sâu róm. Dãy Ngải Thầu cao 1.500m so với mặt nước biển.

Nhìn trên bản đồ, điểm nhô ra xa nhất trên đường biên tiếp giáp nước bạn Lào của tỉnh Điện Biên, ấy là vùng Ngải Thầu.

Ở đó, có tiếng trẻ thơ ê a những bài học đầu đời, những đứa trẻ bắt đầu chập chững với ước mơ về những bữa cơm no, áo ấm.

Từ những năm tháng ấy, việc “gieo chữ” ở xã biên giới còn nhiều khó khăn của huyện Nậm Pồ là cả một hành trình dài, không chỉ đòi hỏi sự quyết tâm của các cấp các ngành mà hơn cả là sự vượt qua những gian khó của các cô giáo mầm non.

Những năm trước, những thầy cô giáo gan dạ nhất, quyết tâm nhất cũng đã từng không ít lần “chông chênh” khi nhận công tác tại vùng biên giới của Nậm Pồ.

Thế nhưng, nhiệt huyết, thanh xuân và hơn cả là lòng yêu mến con trẻ đã níu chân các thầy, cô giáo ở lại.

Hạnh phúc của cô giáo Phạm Thị Tuyến trong ngày nhà giáo Việt Nam. Ảnh: NVCC

Các thế hệ thầy cô giáo vẫn đang khắc phục nhiều khó khăn bám trường, bám lớp dạy chữ cho con em đồng bào các dân tộc nơi đây.

Hành trình của các cô giáo, thầy giáo đã mang lại lớp người mới, lớp tương lai của rất nhiều thế hệ học sinh các dân tộc thân yêu.

Trên đỉnh Ngải Thầu, bản Ngải Thầu 2, ngoài lớp học tiểu học còn có điểm trường mầm non của trường Mầm non Nà Bủng (xã Nà Bủng, Nậm Pồ, Điện Biên) với 2 lớp nhà trẻ và lớp mẫu giáo ghép 3 độ tuổi tổng số 45 học sinh, nhưng chỉ có 2 cô giáo phụ trách.

Trong đó, cô giáo Phạm Thị Tuyến, sinh năm 1985, đã có 9 năm gắn bó với nghề, với xã khó khăn Nà Bủng, và đó cũng là 9 năm cô xa gia đình, xa quê nhà Sông Mã (Sơn La).

Tuổi thanh xuân của cô Tuyến đã gắn bó với khắp các bản vùng cao, khó khăn nhất của xã biên giới Nà Bủng.

Trong 9 năm với vùng cao, cô giáo Phạm Thị Tuyến đã mang trái tim, nhiệt huyết của tuổi thanh xuân để giao chữ cho những trẻ em trên bản vùng cao gian khó.

Với bước chân của tuổi trẻ, dấu chân của cô giáo mầm non đã in hằn trên những vạt đồi, những bản làng của Nà Bủng.

Có những ngày ngã tím mặt mũi, hay những ngày bập bềnh trong sương sớm đón học trò… những ngày đó song hành với thanh xuân đang dần qua đi của cô Tuyến.

Cô Tuyến lưu lại khoảnh khắc đi qua trường cũ. Ảnh: NVCC

Nhớ lại những ngày đầu vào Nậm Pồ (xưa là Mường Nhé) cô giáo Tuyến cho biết: “Lúc đó em cũng chông chênh lắm. Không biết những ngày tháng sau như thế nào. Đoàn chị em cùng nhận quyết định, đi vào đến nơi công tác đến đêm. Sáng hôm sau tưởng chừng như bị lạc giữa núi đồi. Không biết đường nào là đường về nhà. Thân là con gái cũng có chút sợ….”

Ngày ấy, những giáo viên, cán bộ công tác ở Nà Bủng nửa đùa, nửa thật với nhau rằng: “Chưa đi chưa biết Ngải Thầu/ Đi rồi mới biết đầu rạp xuống chân” để chỉ hành trình vào với Ngải Thầu.

Cô Tuyến bảo, những năm ấy, những bản khó khăn, nhất là về giao thông, chỉ cần trời đổ cơn mưa, là con đường đất chảy bùn nhão, cộng với đường dốc cao thì chỉ có thể đi bộ đến độ “đầu rạp xuống chân”.

Nhưng Ngải Thầu hôm nay đã đổi khác, có điện, có đường, có những điểm trường khang trang, sạch đẹp.

Bởi vậy, sự nghiệp “trồng người” của các thầy cô giáo nơi đây cũng giảm bớt đi bội phần gian nan.

Dẫu còn khó khăn, nhưng Ngải Thầu đã khoác lên mình bộ mặt mới, nhìn Ngải Thầu hôm nay, nhiều người vẫn nhắc nhau, ngày xưa, có mơ cũng chẳng tưởng tượng ra mọi thứ được như bây giờ.

Cô giáo ‘siêu nhân’ ở Nộc Cốc
Cô giáo ‘siêu nhân’ ở Nộc Cốc

Nhưng chừng ấy năm gian khó cũng qua đi, mọi thứ cũng trở thành ngày hôm qua, các em nhỏ trong những bản làng đã trở thành một phần cuộc sống của cô giáo Tuyến.

Khi nói về gia đình riêng, câu chuyện của chúng tôi như trùng xuống, bởi thanh xuân của cô Tuyến đã qua đi trên những triền mây trắng, những ngày gắt nắng, mưa dầm với học trò vùng cao. Cô Tuyến vẫn chưa kịp tìm cho mình gia đình nhỏ.

Các con của cô Tuyến trên đỉnh Ngải Thầu. Ảnh: NVCC

Cô Lường Thị Chim, Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Nà Bủng cho biết: Cô Tuyến yêu nghề và mến trẻ lắm, mà đặc biệt lại cô xung phong đăng ký đi dạy ở những điểm bản khó khăn, vất vả nhất với lý do là mình còn “son dỗi”.

Thế nhưng Ban giám hiệu Nhà trường cũng đã luân chuyển hàng năm, để có có nhiều điều kiện, nhiều cơ hội hơn tìm hiểu trong chuyện tình cảm.

Hễ cứ ai nhắc khéo cô chuyện lấy chồng, cô cũng chỉ cười và trả lời: Lấy chồng là để sinh con, nhưng cô có một đàn con rồi!

Câu chuyện của chúng tôi lảng đi sang một chủ đề khác, câu chuyện của ngày 20/11. Câu chuyện khiến cô Tuyến cũng chỉ biết cười gượng bởi học sinh vùng khó, nhận thức của phụ huynh về ngày nhà giáo cũng còn hạn chế nên 20/11 của các cô là một bữa cơm thân mật với đồng nghiệp.

Hạnh phúc của cô Tuyến đơn giản là thấy các em ngủ ngon, ăn ngon khi lên lớp và không ốm đau, ngoan ngoãn ê a học hát là các cô vui rồi.

Cô Tuyến coi Nà Bủng là quê hương thứ 2 của mình, nhìn Nà Bủng của mình dần thay đổi, các con ngày càng lớn hơn, thể chất khỏe mạnh cô Tuyến thấy hạnh phúc.

Giáo dục bằng tình thương từ câu chuyện cổ tích của thầy trò vùng cao xứ Quảng
Giáo dục bằng tình thương từ câu chuyện cổ tích của thầy trò vùng cao xứ Quảng

Thế nhưng, trong sâu thẳm tâm tư của cô giáo Tuyến, nếu được các cấp, các ngành tạo điều kiện, cô mong được về gần nhà (huyện Sông Mã, Sơn La) công tác.

Thanh xuân rồi cũng qua đi, những khó khăn về vật chất, khó khăn về điều kiện sống có thể được khắc phục nhưng ở một góc nào đó cô Tuyến vẫn mong được về gần cha mẹ, gần anh em.

Có lẽ nhiều người cũng hiểu, đối diện với khó khăn về vật chất có thể vượt qua nhưng, nỗi cô đơn khi đêm về, cảnh thân gái dặm trường, giường đơn, gối chiếc… không mấy ai dễ vượt qua.

Khi đàn con thơ ríu rít về lại với gia đình, bên ngọn đèn leo lét giữa triền đồi mấy ai thấu hiểu những nỗi niềm thầm kín của cô giáo vùng cao vò võ một mình.

Trùng xuống sau câu chuyện mong muốn về quê công tác, cô Tuyến cho biết, cô cũng có đơn rồi, mong các cấp tạo điều kiện cô hi vọng rằng nguyện vong của mình sẽ được đáp ứng.

“Nếu được về với gia đình em cũng cảm thấy vui, nhưng thực sự là nếu xa nơi đây em cũng thấy buồn lắm, trên này là quên hương thứ 2 của em, có đồng nghiệp có các con thơ… tất cả như gắn bó máu thịt với mình rồi”, cô Tuyến chia sẻ.

Những ánh mắt ngây thơ của những đứa trẻ nơi non cao, những tình cảm chân thành, giản dị của phụ huynh học sinh đã tiếp thêm động lực để ngày ngày các thầy giáo cô giáo lại tiếp tục gieo chữ với hy vọng được góp sức mình vào sự phát triển chung của dải đất biên cương của Tổ quốc.

Nà Bủng một xã biên giới giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, và cũng là xã khó khăn bậc nhất nhì của cả huyện.

Tuy chỉ cách trung tâm huyện lỵ khoảng 30 km, nhưng giao thông chưa được đầu tư đồng bộ là trở ngại khiến xã cách xa hơn với trung tâm huyện và các xã khác. Đây cũng là xã với gần 100% là đồng bào dân tộc Mông sinh sống, trong đó có tới 77% các hộ dân thuộc diện hộ nghèo.

Bởi vậy, tập thể sư phạm 3 trường học trên địa bàn xã trong nhiều năm qua đã không ngừng nỗ lực, để phát triển công tác giáo dục ở một xã còn nhiều khó khăn như Nà Bủng.

Đại đa số cán bộ, giáo viên nhà trường đều đến từ các tỉnh: Hòa Bình, Ninh Bình, Cao Bằng, Sơn La… tuy nhiên các thầy cô giáo đều yên tâm công tác, bám trường, bám lớp, dành nhiệt huyết cho sự nghiệp trông người ở xã biên giới Nà Bủng.

Trần Phương