Phát huy văn hóa bản địa trong giáo dục Đại học thời kỳ đổi mới

(GDVN) - Theo toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa của UNESCO “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”.

Văn hóa dân tộc – Văn hóa bản địa

“Văn hóa theo nghĩa chung nhất là tất cả những gì không phải từ thiên nhiên mà từ con người”. Theo toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa của UNESCO “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”.

Ngoài ra, văn hóa còn được hiểu là tất cả những sinh hoạt của một cộng đồng, một dân tộc bao gồm văn học, nghệ thuật, lễ hội, tôn giáo, về cách cư xử và giao tiếp, về văn học nghệ thuật... Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì là sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra, phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày. Về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những phát minh đó là văn hóa”.

Trong khái niệm của Hồ Chí Minh, nét đặc trưng cơ bản nhất của Văn hóa chính là sáng tạo và phát minh, tức là “tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần và tìm ra cái có ý nghĩa, có giá trị lớn cho khoa học và cho loài người những giá trị đó tạo nên cốt lõi, bản sắc văn hóa dân tộc. “ Cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với ý nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả một hệ thống giá trị: Tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng , sức nhạy cảm tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ bản lĩnh và bản sắc cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để tự bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”.

Hệ thống giá trị Văn hóa Việt Nam là bản sắc văn hóa do cộng đồng người Việt Nam sáng tạo nên, được sàng lọc và đứng vững suốt chiều dài của lịch sử, với những cuộc đấu tranh sinh tồn trong quá trình giữ nước, đó là sự kết tinh trí tuệ và tình cảm, quan niệm về đạo đức và lý tưởng thẩm mỹ của cả cộng đồng. Theo TS. Nguyễn Thị Hồng – Giảng viên khoa Văn hóa và phát triển: “Văn hóa thực chất là sự hoàn thiện và vận dụng bản sắc dân tộc trong toàn bộ chiều sâu cốt lõi của nó vào quá trình xây dựng và phát triển xã hội và do vậy, văn hóa đồng nghĩa với cuộc sống, và nói đến văn hóa là nói đến sự phát triển. Mà sự sống và sự phát triển của cộng động dân tộc bao giờ cũng phải gắn liền với cội nguồn, tức là với những điều kiện tự nhiên và xã hội, môi trường phát sinh và phát triển của văn hóa dân tộc. Bản sắc văn hóa dân tộc biểu hiện trước hết ở tính dân tộc của văn hóa, bởi văn hóa phát sinh và phát triển trong đời sống của cộng đồng dân tộc, làm nên sức sống và diện mạo của văn hóa dân tộc, làm nên bản sắc văn hóa”.

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc

Việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là một chủ trương hết sức đúng đắn được nhiều Đại hội Đảng khẳng định, cần phải được thực hiện bằng các chương trình hành động cụ thể, thiết thực đưa vào đời sống xã hội. Làm được như vậy cũng chính là chúng ta luôn nắm bắt quy luật văn hóa nhưng đồng thời hướng theo việc thỏa mãn nhu cầu nâng cao việc thụ hưởng văn hóa. Rõ ràng hơn bất cứ lúc nào, trong bối cảnh hội nhập hiện nay việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đang là nhiệm vụ cấp bách trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế, tạo cho bản sắc văn hóa có một sức sống mãnh liệt cả trong không gian lẫn thời gian. Việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là nền tảng, tạo nên cốt cách của nền văn hóa mới, để Việt Nam hòa nhập mà không hòa tan, vẫn phát huy được niềm tự hào của dân tộc trong quá trình giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa bạn trên thế giới.

Làm được như vậy tức chúng ta không chỉ tiếp thu, học hỏi những nét hay, nét đẹp của các nền văn hóa khác trên thế giới mà vẫn phát huy được bản sắc của dân tộc mình, niềm tự hào chính đáng của dân tộc mình, như Nguyễn Trãi đã từng hịch:

“Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước
 Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương
 Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau 
 Song hào kiệt thời nào cũng có”

Về giáo dục truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc các trường đại học

Giáo dục đại học nói chung và giáo dục đại học Việt Nam nói riêng có nhiệm vụ là đào tạo nguồn nhân lực tri thức cho đất nước để bảo vệ phát huy và xây dựng Tổ quốc giàu mạnh. Giáo dục Đại học Việt Nam ra đời từ năm 1076 với việc thành lập Quốc tử giám của nước Đại Việt –Triều đại nhà Lý và ngày càng phát triển lớn mạnh cho đến ngày nay. Đặc biệt, trong 20 năm đổi mới vừa qua, nền giáo dục nước ta ngày càng hoàn thiện và phát triển, cung cấp cho xã hội những nhân lực tri thức cao phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay, góp phần thực hiện thành công vào các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, song song với những đóng góp trên, giáo dục của chúng ta vẫn còn tồn tại những yếu kém, bất cập, đặc biệt là chiến lược và chất lượng đào tạo. Nhìn sang nước bạn Singapore, một đất nước mới được tách ra từ Malaysia năm 1965 với dân số chưa đến 10 triệu dân trong đó 70% là người Hoa và 30% là người Ấn và Malaysia thế mà hùng mạnh đã thu hút hơn 10.000 sinh viên Việt Nam thuộc top đầu (tinh hoa) (từ các Trường chuyên, từ các em đạt giải toàn quốc và quốc tế..) vào học và theo thống kê đến nay hơn 95% các em trên đều không về nước phục vụ. Tình trạng này cũng diễn ra tương tự ở quốc gia phát triển khác. Đây là vấn đề nhức nhối mà ta cần nghiêm túc xem xét lại cả các cấp quản lý Vi mô và Vĩ mô.

Chúng ta đều công nhận rằng đất nước có nhiều hiền tài là phải nhờ vào các cơ sở đào tạo nhân lực. Do vậy, nền giáo dục Đại học Việt Nam cần lập chiến lược đào tạo phù hợp, cho từng giai đoạn cụ thể, để tạo được môi trường tích cực quy tụ và phát triển nhân tài cho đất nước là vấn đề cấp bách. Từ đó, cần đặt ra vấn đề đào tạo những tri thức với bản lĩnh của người Việt Nam, xem bản lĩnh văn hóa bản địa là hạt nhân cơ bản, duy lý xuyên suốt quá trình đào tạo tại các trường đại học.

Những trí thức Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, những hiền tài - nguyên khí của quốc gia, phải mang bản lĩnh, bản sắc và tinh hoa của người Việt Nam. Các trường Đại học Việt Nam phải nhận phần lớn nhất trách nhiệm này, phải là nơi đào tạo, tôi luyện và tỏa sáng các truyền thống văn hóa dân tộc. Hãy hành động để những giá trị truyền thống bản địa của chúng ta chẳng những không bị hòa tan mà còn có cơ hội để quảng bá, phát triển những giá trị cao quý, những tinh hoa của văn hóa Việt ra thế giới.

Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 06-08-2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khẳng định: “Trong mọi thời đại, trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá trí thức. Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành đội ngũ đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”. Đội ngũ trí thức đã được đào tạo bằng nhiều con đường khác nhau đang hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế và xã hội, các trường Đại học trong nước chính là nới đào tạo một lực lượng trí thức đông đảo và chủ yếu phục vụ cho cho quá trình phát triển đất nước. Đội ngũ trí thức mà chúng ta kỳ vọng ở họ không chỉ giỏi về chuyên môn mà phải mang trong họ bản sắc và truyền thống văn hóa để họ mãi xứng đáng là trí thức của một dân tộc với một bề dày lịch sử về văn hóa và truyền thống, rất mực yêu thương, gắn bó với đồng bào mình, luôn vẫn kiên cường, bất khuất trước mọi kẻ thù xâm lược, xứng đáng là con dân một đất nước anh hùng:

“Đất nước của những người con gái, con trai

Đẹp như hoa hồng, cứng hơn sắt thép

Xa nhau không hề rơi nước mắt

Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt.” (4)

Cơ sở giáo dục Đại học – nơi đào tạo ra lớp trí thức vừa hồng vừa chuyên hiện nay phải thực hiện cho kỳ được các yêu cầu trên. Chúng tôi đề nghị trước mắt cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:

Giáo dục sinh viên sự tôn trọng và giữ gìn các di sản văn hóa của dân tộc

Trong nhiều năm qua, Đảng, nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm đến việc giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc, từ đó tạo tiền đề cần thiết để làm sống dậy một tiềm năng văn hóa, coi đó như là nguồn lực bên trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Thực tiễn hoạt động trong thời gian qua cho thấy, cùng với những thành tựu to lớn đã đạt được vẫn còn những bất cập không nhỏ về quan niệm, về phương thức thực hành, về những hoạt động cụ thể trong đời sống kinh tế và xã hội, trong việc phát triển, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.

Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) đã định nghĩa di sản văn hóa và từ đó định ra nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, khẳng định rằng: “ Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lỗi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa... coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”.

Với nhận thức, di sản văn hóa là sản phẩm sáng tạo trong quá trình hoạt động của con người nhằm vươn đến đỉnh cao giá trị chân-thiện-mỹ. Di sản văn hóa Việt Nam là sự kết tinh của các mối quan hệ, là hoạt động tương tác giữa môi trường-con người-xã hội, là sự vượt qua những thách đố quyết liệt bằng sự kiên trì, lòng dũng cảm, trí thông minh để giữ vững nền độc lập, khát vọng cao cả nhất của mỗi một dân tộc.

Hiện nay, các di tích như quần thể cố đô Huế, thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, thánh địa Mỹ Sơn, ... đã được tổ chức UNESCO công nhận là những di sản thế giới. Tuy nhiên, trong thời gian qua việc bảo tồn, tôn tạo và nâng cao giá trị văn hóa nghệ thuật của những di sản trên chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức. Vai trò về mặt giáo dục hệ tư tuởng văn hóa các giai đoạn lịch sử mà những di sản đang lưu trữ vẫn còn lu mờ, chưa quảng bá cũng như truyền tại đến đại bộ phận công chúng nhằm tôn vinh và lưu truyền những giá trị vô giá của những di sản, di tích văn hóa, lịch sử, chúng ta cần những chiến lược cụ thể. Một trong những giải pháp mang tính lâu dài và bền vững là thông qua giáo dục. Giáo dục chính là kênh truyền thống có tính hiệu quả cao nhất. Đặc biệt là giáo dục Đại học, chính sinh viên là chủ nhân của đất nước. Thông qua những hoạt động ngoại khóa, những chương trình lồng ghép trong các môn học, dần dần đưa những giá trị cốt lõi, hồn dân tộc đến từng sinh viên- từng người chủ quốc gia.

Giáo dục lòng thành kính, tôn thờ tổ tiên, thể hiện lòng hiếu thảo, biết ơn những người đã sinh thành dưỡng dục mình.

Một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam là thành kính, tôn thờ tổ tiên thể hiện lòng hiếu thảo, biết ơn những người đã sinh thành dưỡng dục mình. Thực chất những nét văn hóa, truyền thống đó, mang trong bản thân nó, ý nghĩa nhân văn hết sức sâu sắc, xuất phát từ thiện tâm của mỗi con người và có sức nêu gương trong mỗi gia đình, trong một cộng đồng xã hội, thể hiện ra bên ngoài bằng việc thờ cúng tổ tiên.

Xét trên phương diện quốc gia, từ hàng ngàn đời nay người Việt đã lập đền thờ và thờ cúng ông tổ chung của mình: Các vua Hùng ở núi Nghĩa Lĩnh, hoặc ở từng địa phương nhân dân lập ra các đình, đền, miếu để thờ cúng những người có công với nước, với làng.Trong mỗi gia đình đều có bàn thờ, thờ cúng tổ tiên, những người thân đã khuất. Đó là những việc làm cụ thể tỏ lòng thành kính, hiếu thảo biết ơn đấng sinh thành dưỡng dục mình và biến thành nét văn hóa đặc sắc mà trách nhiệm của từng cá nhân là tiếp tục duy trì và giáo dục cho thế hệ tiếp nối.

Giáo dục việc giữ gìn nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Nhìn chung, các nhà sử học đã thống nhất cho rằng: Việt Nam có một cộng đồng văn hóa khá rộng lớn được hình thành vào khoảng nửa đầu thập niên kỷ thứ nhất trước công nguyên và được phát triển rực rỡ vào giữa thập niên kỷ này. Đó là cộng động văn hóa Đông Sơn. Các con đường phát triển khác nhau của văn hóa bản địa thuộc các khu vực khác nhau đã hội tụ lại, họp thành văn hóa Đông Sơn: Đây chính là nhà nước mang tính “phôi thai” ra đời, từ đó các bộ lạc nguyên thủy phát triển thành dân tộc.

Có thể nói toàn bộ lịch sử của văn hóa bản địa Việt Nam, đã tồn tại 3 lớp văn hóa chồng lên nhau đó là văn hóa bản địa, văn hóa giao lưu với Trung Quốc và lớp văn hóa giao lưu với phương Tây. Mặc dù giao lưu với các nền văn hóa khác, văn hóa của dân tộc Việt Nam đã trãi qua biết bao thử thách, chẳng những vẫn tồn tại vững chắc mà còn không bị văn hóa ngoại lai đồng hóa, biết sử dụng và Việt hóa các ảnh hưởng đó để làm giàu cho nền văn hóa dân tộc. Trách nhiệm của chúng ta ngày nay là phải biết tiếp tục, giữ gìn, bảo vệ, và giáo dục truyền thống cho lớp lớp con cháu để dân tộc Việt Nam mãi mãi là dân tộc Việt Nam. Mặc dù vậy, thực tế vẫn tồn tại một số dấu hiệu lai căn và nổi cộm lên là cách hành xử của một bộ phần lớp trẻ con ngồi trên ghế nhà trường ngày nay mang tính đối lập với những giá trị nhân văn, giá trị đời sống tồn tại hàng ngàn năm của dân tộc. Một số sinh viên còn chạy theo trào lưu sống thử, sống thực dụng mà dần dần rời xa những giá trị của văn hóa văn tộc. Giáo dục Đại học phải làm gì để kéo những tầng lớp thanh niên trên về với những giá trị cuộc sống chung của xã hội của dân tộc.

Chúng ta phải lồng ghép những chuyên đề về truyển thống văn hóa dân tộc vào chương trình giáo dục nhằm biến thời gian từ 3 đến 5 năm ở các Trường Cao Đẳng, Đại học hiện nay thành thời gian rèn luyện đạo đức, tư duy, lối sống và bản lĩnh cho sinh viên. Để các em vào đời với đầy đủ hành trang của người công dân tốt, thông minh, cần cù, sáng tạo, có tính kỷ luật cao mang dáng dấp, tinh hoa của người Việt Nam và sẵn sàng đi lên phía trước vì sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, cũng như tạo đầy đủ các tiên đề tốt nhất để mọi người mọi lứa tuổi tham gia nghiên cứu, rèn luyện đạo đức và học tập suốt đời.

Giáo dục lòng yêu đồng bào, lòng yêu đất nước, lòng yêu thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên

Lòng yêu đồng bào, đất nước là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam:

“ Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

Đức tính này đã chảy xuyên suốt trong dòng máu của từng người Việt ,vì hạnh phúc của con người, vì sự phát triển toàn diện và hài hòa của con người. Lòng nhân đạo, bao gồm trong nó tình yêu thương người lớn đối với trẻ em, của người trẻ đối với người già, của người khỏe mạnh, lành lặn đối với người ốm đau, tàn tật, của người có hạnh phúc với người bất hạnh, đặc biệt là thái độ đối xử với kẻ thù, không kêu căng, không công thần, không kiêu binh v.v...

Lòng yêu nước cũng là một nét văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, thể hiện sâu sắc ở: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” chính là câu tục ngữ đã tồn tại từ lâu đời, thể hiện lòng yêu nước trước kẻ thù xâm lược. Lòng yêu nước là một tình cảm sâu sắc của con người đối với đất nước. Đó là nét văn hóa đặc sắc mang tính truyền thống của nhiều thế hệ nối tiếp nhau trong suốt chiều dài lịch sử.Trong xã hội có đối kháng giai cấp, lòng yêu nước cũng mang tính giai cấp và có mâu thuẫn.Trong xã hội phong kiến, quan niệm yêu nước đồng nghĩa với trung với vua, trung quân là ái quốc. (Tuy nhiên cần phân định rõ ràng, trong một số trường hợp trung quân một cách mù quáng mà trở thành phản quốc). Cùng với lòng yêu nước, một nét văn hóa đặc sắc cần phải được đề cao đó là chủ nghĩa tập thể. Chủ nghĩa tập thể là sự thống nhất của các cá nhân về những lý tưởng của con người. Đó là tình đồng bào, thái độ tôn trọng đối với phụ nữ và dành tình thương trong việc chăm sóc lẫn nhau, nhằm đảm bảo cho các cá nhân thành viên phát triển cao nhất phục vụ lợi ích của xã hội. Chủ nghĩa tập thể là cơ sở của chủ nghĩa nhân đạo chân chính, giúp cho sự thống nhất trí tuệ, tài năng của các cá nhân thành viên xã hội, tạo nên sức mạnh to lớn để ứng phó với mọi khó khăn, ứng phó với nguy cơ mất nước trước kẻ thù xâm lược chủ nghĩa tập thể là chìa khóa vàng để giải quyết các tình huống ách tắc, khó khăn hiện nay...

Những nét văn hóa đặc sắc vừa nêu trên đã có từ ngàn xưa, duy trì, phát triển cho đến ngày nay, đòi hỏi chúng ta phải biết trân trọng, bảo vệ và phát huy trong hoàn cảnh mới, và coi đó là nét văn hóa đặc sắc cần giáo dục cho các thế hệ mai sau.

Ngoài ra lòng yêu thiên nhiên, thái độ đối với thiên nhiên cũng là biểu hiện của đạo đức, là cơ sở tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, là nét văn hóa đã từng tồn tại từ ngàn xưa cần được duy trì và bảo vệ. Bên cạnh giáo dục tri thức và đạo làm người đối với thanh niên “vì lợi ích trăm năm trồng người”, nhiệm vụ với thiên nhiên cũng không kém phần quan trọng “vì lợi ích mười năm trồng cây”. Diện tích rừng ngày càng thu hẹp, số lượng động vật hoang dã vào sách đỏ ngày càng tăng, khí hậu không ngừng thay đổi thất thường là những hậu quả mà chính loài người đã tự mình gây ra. Và nay, chính chúng ta phải hành động, “Trồng cây gây rừng”, “sống xanh”, “sản xuẩ xanh” và hãy dừng ngay việc “vay mượn tài nguyên của thế hệ con cháu”. Để làm được tất cả những điều trên, giáo dục phải thực hiện nhiệm vụ tiên phong, chính là nâng cao ý thức và trách nhiệm từng sinh viên về những vấn nạn mà trái đất – nhân loại đang gánh chịu, kêu gọi họ hành động. Một lần nữa, giáo dục phải khẳng định được vai trò vô cùng quan trọng của mình.

Giáo dục truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, quan niệm tôn trọng phụ nữ, người lớn tuổi

Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam được lưu truyền từ ngàn đời. Điều đó được thể hiện qua nhiều tấm gương tiêu biểu như Mạc Đỉnh Chi – vị Trạng nguyên tài trí vẹn toàn, nhà nghèo nhưng rất ham học vì đã bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng làm “đèn” học, hay như thầy Nguyễn Ngọc Ký dùng chân viết nên số phận, ... hay qua những câu ca dao, tực ngữ mà ai ai cũng thuộc nằm lòng:

“Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”,

“Một chữ cũng thầy, nữa chữ cũng thầy”, (Nhất tự vi sư, bán tự vi sư)

“Không thầy đố mày làm nên”,

“Kính thầy mới được làm thầy”,

“Ngọc bất trác bất thành khí

Nhân bất học bất tri lý v.v...

 Ở nước ta,  nông nghiệp lúa nước đã góp phần tích hợp các kinh nghiệm của các lão nông, trí, điền, và giai cấp quản lý xã hội qua Lệ và Luật; tạo nên tập quán tuyệt đẹp của một xã hội theo một trật tự thứ bậc như biết trân trọng người lớn tuổi

“Kính lão đắc thọ”,

“Kính già, già để tuổi cho”,

Hoặc vai trò của các vị trưởng lão cũng được nêu cao qua sự kiện vua Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Diên Hồng tập hợp ý kiến các bô lão để có quyết sách trước kẻ thù (năm 1284) v.v...

 Trong suốt bề dày lịch sử Việt Nam, phụ nữ luôn được tôn trọng và vinh danh, học là nữ tướng là anh hùng, giỏi việc nước đảm việc nhà như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyễn Thị Định, những người Mẹ anh hùng của thời đại ngày nay v.v...

Tất cả những đức tính trên vô cùng cao quý và luôn được người Việt Nam giáo dục dạy dỗ cho con cháu từ tuổi nhỏ đến khi trưởng thành. Từng người Việt đã và phải “ngấm” thật sâu, thật bền dòng chảy truyền thống văn hóa dân tộc này.

Duy trì và bảo vệ văn hóa bản địa – văn hóa làng xã

Suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, chúng ta có thể tự hào mà nói rằng, văn hóa bản địa, văn hóa làng xã là tài sản vô giá của dân tộc, cần phải được giữ gìn, phát huy trên cơ sở sàn lọc, loại bỏ những gì phi văn hóa. Tất cả đã kết thành những tinh hoa có khả năng tỏa sáng, hình thành bản sắc văn hóa vốn có của người Việt suốt từ thế hệ này đến thế hệ khác. Bên cạnh lũy tre, cây đa, bến nước, thì những làn điệu dân ca, câu hò, bài vè, ca dao, tục ngữ, ... luôn sánh bước cùng những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong một bức thư gửi thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được công bố trước đây có đề cập: “... Tôi nghĩ rằng, tôn trọng và ứng dụng văn hoa địa phương, và coi đó là văn hóa Việt Nam... có ý nghĩa to lớn trong việc bảo tồn văn hóa dân tộc, góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc...” lời nhắn nhủ đó rất có ý nghĩa khi chúng ta đang tập trung sự quan tâm đến bảo tồn văn hóa dân tộc cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Nói đến bản sắc văn hóa dân tộc là nói đến giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc; Hạt nhân của giá trị văn hóa, là những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, được biểu hiện trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, sân khấu, hội họa..., và cả trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hàng ngày của mỗi người. Do vậy, khi đề cập đến bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là xác định cả một hệ thống giá trị, như tình yêu quê hương, tình yêu Tổ quốc, tình nhân ái đối với đồng bào, thái độ yêu lao động, ham học hỏi... những giá trị đó gắn kết hữu cơ với nhau, thậm chí có thể chuyển đổi cho nhau v.v...

Như những gì đã đề cập ở trên, ta có thể hiểu bản sắc văn hóa dân tộc là một khái niệm bao quát, làm nên diện mạo của cả dân tộc, gắn với những giá trị cơ bản của dân tộc, và thể hiện cả trong cuộc sống hằng ngày.

Tại sao phải duy trì và phasthuy bản sắc văn hóa dân tộc như là một yêu cầu bức bách để giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống

Mỗi một dân tộc bao giờ cũng có những sắc thái văn hóa đặc thù, phản ánh những phong cách, diện mạo của chính dân tộc đó, để phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác. Xuất phát từ thực tế đó, Đảng ta coi việc xây dựng và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài của quá trình phát triển đi lên của đất nước.

 Thực tế chỉ ra rằng, khi một dân tộc quay lưng với truyền thống, đánh mất bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đồng nghĩa với việc cắt đứt sợi dây thiêng liêng liên kết hiện tại với quá khứ thì khó lường hết được những hậu quả của nó.

Trong quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Việt Nam đã sáng tạo ra những loại hình văn hóa nghệ thuật độc đáo như dân ca, cải lương, hát bội, tuồng, chèo, múa rối, ca trù, nhã nhạc... Những thể loại văn hóa trình diễn rất riêng của nhân dân Việt Nam được bạn bè thế giới mến mộ và tôn vinh, bằng chứng là nhã nhạc cung đình Huế, ca trù Bắc Ninh đều đã được UNESCO công nhân là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới cần bảo và phát huy. Đó là một ví dụ điển hình cho niềm vinh dự và cũng là niềm tự hào rất to lớn của dân tộc nói chung và của lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Việt Nam nói riêng. Cùng với việc hình thành và phát triển các loại hình văn hóa độc đáo, văn hóa lễ hội, văn hóa đình làng...cũng là những nét văn hóa đặc sắc mà tổ tiên để lại và được các thế hệ người Việt duy trì cho đến ngày nay.

Nhằm duy trì và phát huy những giá trị tinh túy của văn hóa dân tộc để ta vẫn là ta không chỉ là yêu cầu bức bách trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới mà còn tạo nên bức tranh nhiều màu sắc, tạo nên vẻ đẹp về tính đa dạng của nền văn hóa thế giới. Việc chạy theo tâm lý sùng ngoại sẽ có nguy cơ và khả năng bị nô dịch về chính trị, kéo theo là nô dịch về kinh tế mà hậu quả của nó, chắc chắn sẽ vô cùng nguy hiểm. Khi mà một dân tộc bị đánh mất bản sắc văn hóa của mình, nghĩa là tự mình đoạn tuyệt với quá khứ, từ bỏ mọi giá trị văn hóa dân tộc để chạy theo một thứ văn hóa ngoại lai, sẽ dẫn dắt dân tộc đó không còn là chính mình nữa. Việt Nam trãi qua, mấy nghìn năm lịch sử tồn tại và phát triển đến nay “ Ta vẫn là ta” đó là nhờ chúng ta luôn đề cao và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên cũng cần hết sức tránh hai xu hướng: Một là dựa vào những giá trị đã có dẫn đến tự hào hoặc tự ti, nghi ngại, tự đóng cửa không tự mình chủ động tiếp thu cái mới và hai là, đề cao thái quá bản sắc văn hóa của dân tộc khác.

TS. Lê Đình Viên
Chủ tịch HĐQT, Hiệu trưởng ĐH Kinh tế CN Long An

ĐIỂM NÓNG

Tuyển sinh 2012

Thi tốt nghiệp THTP 2012

Hoa khôi các trường ĐH

Ngôi sao học đường

Đổi mới Giáo dục

Xem nhiều nhất trong tháng


Đang tải tin...