Phó Thủ tướng Lê Thành Long đã ký Quyết định số 2732/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045.
Một trong những mục tiêu cụ thể giai đoạn 2025-2030 là xây dựng, triển khai thí điểm hoạt động lựa chọn cho trẻ mầm non làm quen với tiếng Trung, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc; tiếp tục thí điểm các chương trình lựa chọn làm quen với tiếng Trung Quốc, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc đối với học sinh lớp 1, lớp 2, chương trình dạy học tiếng Hàn Quốc, tiếng Đức trong giáo dục phổ thông tại các cơ sở giáo dục có nhu cầu và đủ điều kiện triển khai thực hiện.
Đại diện một số trường tiểu học đánh giá mục tiêu trên là đúng đắn, đồng thời nêu nhiều đề xuất, kiến nghị trước những băn khoăn liên quan đến việc triển khai dạy ngoại ngữ dưới hình thức chương trình liên kết.
Vướng mắc lớn nhất là vấn đề giáo viên
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cô Nguyễn Thị Mỹ Lệ - Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lê Bá Trình (phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng) nói: "Việc tăng cường dạy và học ngoại ngữ là cơ hội để học sinh sớm tiếp cận với “thế giới phẳng”, mở rộng hiểu biết và khả năng hội nhập.
Với học sinh lớp 1 và lớp 2, việc dạy ngoại ngữ như tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc... ở mức độ làm quen là phù hợp. Giai đoạn này, học sinh chỉ cần nhận biết ngôn ngữ, sử dụng được một số câu giao tiếp đơn giản, hiểu sơ lược về đất nước, văn hóa gắn với ngôn ngữ đó.
Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, việc này cần được chuẩn bị bài bản, có lộ trình và phải thực hiện ngay từ bây giờ. Điều kiện tiên quyết là phải đảm bảo đầy đủ các nguồn lực, từ đội ngũ giáo viên, sự đồng thuận của phụ huynh, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho đến hệ thống học liệu. Chỉ khi các yếu tố này được chuẩn bị chu đáo thì việc đưa thêm các ngoại ngữ vào trường tiểu học mới khả thi và bền vững".
Liên quan đến đội ngũ giáo viên, cô Lệ nhìn nhận, giáo viên được đào tạo chuyên sâu theo từng ngoại ngữ cụ thể là phương án tối ưu. Mặc dù vậy, trong bối cảnh hiện nay, nguồn nhân lực này đang thiếu hụt nghiêm trọng. Vì vậy, nếu triển khai đại trà, cần có chiến lược phát triển đội ngũ trong khoảng 5–10 năm mới có thể đáp ứng.
Trước mắt, có thể tận dụng đội ngũ giáo viên ngoại ngữ hiện đang giảng dạy tại các trường tiểu học. Phần lớn giáo viên này tốt nghiệp từ các trường đại học ngoại ngữ và đều được yêu cầu có ngoại ngữ thứ hai. Với nền tảng phương pháp sư phạm, hiểu tâm lý học sinh tiểu học, cùng trình độ ngoại ngữ đạt chuẩn đầu ra đại học, họ có thể đảm nhận việc dạy làm quen ngoại ngữ cho học sinh lớp 1, lớp 2. Khi nguồn nhân lực chuyên sâu được bổ sung đầy đủ, việc chuyển sang giáo viên chuyên biệt sẽ là bước đi hợp lý tiếp theo.
Một vấn đề quan trọng khác là học liệu. Theo cô Lệ, không thể chỉ dừng lại ở sách giáo khoa hay tài liệu giấy, mà cần bổ sung học liệu số, tài liệu nghe, nhìn để tăng hiệu quả tiếp thu cho học sinh. Đặc biệt, cần xây dựng một hệ thống học liệu thống nhất, xuyên suốt từ lớp 1 lên các lớp trên, có yêu cầu cần đạt rõ ràng theo từng cấp độ, từng kỹ năng nghe – nói – đọc – viết.
Ngay cả khi chỉ là làm quen, cũng phải có chuẩn đầu ra cụ thể. Có như vậy mới đảm bảo tính hệ thống và tạo nền tảng cho học sinh tiếp tục học ở các lớp trên nếu có nhu cầu. Học liệu này cần được biên soạn bởi đội ngũ chuyên gia, thay vì để các trường hoặc giáo viên tự xây dựng manh mún, dễ dẫn đến thiếu đồng bộ và không đảm bảo chất lượng.
Theo quan điểm của cô Nguyễn Thị Huệ - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên (phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang), việc thí điểm các chương trình lựa chọn làm quen với tiếng Trung Quốc, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc đối với học sinh lớp 1, lớp 2 là một hướng đi đúng đắn nhưng không thể làm ồ ạt, mà cần thí điểm có chọn lọc, phù hợp điều kiện từng địa phương.
Đặc biệt để triển khai hiệu quả việc làm quen với các ngoại ngữ ngoài tiếng Anh ở bậc tiểu học, yếu tố then chốt là sự đồng thuận của phụ huynh.
Hiện nay, phụ huynh chủ yếu vẫn quan tâm đến tiếng Anh. Với các ngoại ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn… Nếu không có chiến lược dài hạn, không làm rõ mục tiêu học để làm gì, lộ trình học ra sao, học sinh có được học liên thông lên các lớp trên, các cấp học tiếp theo hay không, thì rất khó thuyết phục phụ huynh lựa chọn.
Là đơn vị từng thí điểm dạy tiếng Hàn Quốc cho học sinh, cô Nguyễn Thị Hoa Hương - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lê Hồng Phong (phường Gia Viên, thành phố Hải Phòng) cho biết, nhà trường từng được lựa chọn tham gia thí điểm dạy tiếng Hàn Quốc theo hình thức câu lạc bộ nhưng sau một thời gian triển khai, mô hình này không được duy trì.
Hiện nay, trường chỉ tổ chức dạy một ngoại ngữ duy nhất là tiếng Anh; trong đó, tiếng Anh là môn học bắt buộc với các khối lớp 3, 4, 5 và là môn tự chọn đối với khối lớp 1, 2.
Theo vị Hiệu trưởng, rào cản lớn nhất trong việc thực hiện thí điểm dạy các ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh là vấn đề nguồn nhân lực. Ngay cả khi nhà trường nhận được sự đồng thuận của phụ huynh trong việc thí điểm, được cung cấp thiết bị, nâng cấp phòng học thì việc tìm kiếm giáo viên đáp ứng yêu cầu vẫn rất khó khăn.
Thực tế cho thấy, số lượng trung tâm được cấp phép và giáo viên giảng dạy các ngoại ngữ như tiếng Hàn, tiếng Nhật... không nhiều, khó đáp ứng nhất là khi triển khai trên diện rộng. Tiếng Anh là ngoại ngữ phổ biến nên việc tìm giáo viên có phần thuận lợi hơn nhưng với các ngoại ngữ khác, thực sự rất khó, thậm chí không tìm được người đáp ứng yêu cầu.
Để huy động nguồn lực xã hội hóa cần có hướng dẫn thống nhất trong thực hiện
Trước một số lo ngại về việc tăng cường dạy ngoại ngữ làm sao để hiệu quả, cô Nguyễn Thị Mỹ Lệ bày tỏ, hiện nay, học sinh tiểu học học 2 buổi/ngày và không thu học phí, nhưng việc đưa nhiều chương trình liên kết vào thời khóa biểu chính khóa, thu tiền đã làm nảy sinh mâu thuẫn.
Để huy động nguồn lực xã hội hóa một cách hợp lý, cần có văn bản pháp lý, hướng dẫn thống nhất từ cấp trên. Các hoạt động liên kết nên được tổ chức ngoài giờ học chính khóa, có quy định rõ ràng về mức thu, tránh tình trạng doanh nghiệp, đơn vị liên kết tự áp giá. Chỉ khi có cơ chế minh bạch, rõ ràng thì xã hội hóa mới không đi vào ‘vết xe đổ’ của các chương trình trước đây,
Có thể tận dụng khoảng thời gian ngoài giờ, sau khi học sinh tan trường (khoảng 16–16h30), nhất là với những phụ huynh chưa thể đón con ngay. Việc tổ chức dạy học ngoài giờ trong khung thời gian này, nếu được quản lý chặt chẽ và thu phí đúng quy định, sẽ hợp lý hơn và hạn chế phản ứng từ phụ huynh.
Cuối cùng, cô Lệ nhấn mạnh, với học sinh lớp 1 và lớp 2, nếu nhà trường đảm bảo được đủ giáo viên, cơ sở vật chất và học liệu trong khung 35 tiết/tuần theo quy định thì hoàn toàn có thể triển khai dạy làm quen ngoại ngữ mà không cần huy động thêm đóng góp từ phụ huynh. Vấn đề cốt lõi vẫn là sự chuẩn bị nguồn lực và một chiến lược dài hạn.
Cùng quan điểm, cô Nguyễn Thị Huệ nói: "Nếu chương trình làm quen ngoại ngữ được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, không thu phí và có giáo viên đảm nhiệm thì phụ huynh sẽ dễ đồng thuận hơn.
Ngược lại, nếu phải xã hội hóa, thu phí trong khi chưa có đầu ra rõ ràng, chưa thấy lợi ích lâu dài sẽ không dễ để triển khai.
Bên cạnh đó, tính khả thi của đề án còn phụ thuộc lớn vào thời lượng chương trình và đội ngũ giáo viên. Hiện nay, chương trình chính khóa đã được quy định không quá 7 tiết/ngày. Nếu bổ sung thêm ngoại ngữ mới, cần làm rõ sẽ bố trí thời gian ra sao để không gây quá tải cho học sinh
Nếu dạy trong giờ chính khóa thì không được thu tiền, đồng thời phải có giáo viên đủ chuẩn. Nhưng thực tế, ngay cả giáo viên tiếng Anh hiện nay cũng mới đáp ứng tốt cho lớp 3, 4, 5; với lớp 1, lớp 2 còn rất thiếu.
Các ngoại ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn thì càng khan hiếm, đặc biệt ở các địa phương. Do đó, cần có lộ trình rõ ràng về đào tạo, bổ sung giáo viên; đồng thời các cơ sở đào tạo sư phạm và ngành giáo dục địa phương cần có chỉ tiêu, kế hoạch dài hạn để chuẩn bị nguồn nhân lực”.
Dưới góc nhìn của cô Nguyễn Thị Hoa Hương, để các mô hình thí điểm dạy ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh đạt hiệu quả, cần có sự chuẩn bị đầy đủ đặc biệt là về nguồn nhân lực và ngân sách. Quan trọng hơn, các địa phương cần có văn bản hướng dẫn cụ thể, cơ chế rõ ràng về phân công, hỗ trợ chuyên môn, tài chính và đầu mối phối hợp để các trường có thể triển khai thống nhất, tránh tình trạng trường tự xoay xở.
Nhà trường mong muốn có chính sách về nhân lực và ngân sách để được cấp giáo viên hoặc hỗ trợ chi trả. Khi đó, việc triển khai sẽ thuận lợi hơn và không phải đặt nặng bài toán xã hội hóa, vốn dễ phát sinh phản ứng từ phụ huynh.