Đài Loan tuyên bố sẽ tăng cường do thám tàu sân bay Thi Lang

13/11/2011 10:09 Đông Bình (Theo báo Quang Minh)
(GDVN) - Khi tàu sân bay Varyag của Trung Quốc hình thành khả năng tác chiến, cán cân sức mạnh ở Eo biển Đài Loan sẽ mất cân bằng.

Ngày 7/11, Ủy ban Tư pháp và Pháp chế - Viện Lập pháp Đài Loan đã thông qua sơ thẩm dự thảo sửa đổi “Luật tổ chức Cục An ninh Quốc gia”.

Cục trưởng Cục An ninh Đài Loan Thái Đắc Thắng cho biết, hoạt động theo dõi, chụp ảnh của vệ tinh do thám Đài Loan, do kinh phí giảm đi, đã từ chụp ảnh mỗi tuần vài lần giảm xuống còn mỗi tháng vài lần.

Tuy nhiên, Thái Đắc Thắng cho biết, sẽ tiến hành theo dõi, chụp ảnh các mục tiêu gây ra sự lo ngại rõ ràng về an ninh, chẳng hạn như tàu sân bay đầu tiên Varyag của Trung Quốc ra biển có tính nguy hại đối với quân đội Đài Loan, nên cần tăng cường theo dõi.

Tàu sân bay Varyag (Thi Lang) Trung Quốc, ảnh chụp ngày 29/10 tại Đại Liên

Còn các trận địa tên lửa cố định trên đất liền, do tính thay đổi không lớn, nên tần suất theo dõi, chụp ảnh sẽ giảm đi.

Việc Trung Quốc cho chạy thử tàu sân bay đầu tiên Varyag ít nhiều gây sự lo ngại cho Đài Loan, vì nó có thể làm thay đổi cân bằng ở Eo biển Đài Loan, đe dọa an ninh của đảo Đài Loan.

Tuy nhiên, có chuyên gia quân sự cho rằng, “Đài Loan không có gì phải lo lắng”.

Tin cho biết, quân đội Trung Quốc đã triển khai khoảng 400 máy bay chiến đấu tiên tiến thế hệ thứ ba ở ven bờ nhằm vào với Đài Loan, có khả năng tấn công nửa phần phía tây của Đài Loan.

Nhưng do hạn chế về hành trình, những máy bay này không thể tấn công bờ đông của Đài Loan. Song, khi Trung Quốc sở hữu tàu sân bay có khả năng tác chiến, họ sẽ có khả năng tấn công bờ đông của Đài Loan.

J-10 là máy bay chiến đấu thế hệ thứ ba mang tính đại diện của Không quân Trung Quốc

Có chuyên gia quân sự cho rằng, Trung Quốc phát triển tàu sân bay, “ý nghĩa chính trị lớn hơn ý nghĩa quân sự, Đài Loan không có gì phải lo lắng”.

Chuyên gia “Chương trình 2049” của Washington Roger Cliff cho rằng, tàu sân bay Varyag có lượng choán nước 58.000 tấn, thuộc loại tàu sân bay hạng trung, tối đa chỉ có thể mang theo 40 máy bay chiến đấu.

Cho dù xảy ra chiến tranh, một nửa trong số đó phải dùng cho bảo vệ an toàn bản thân tàu sân bay, chỉ có 20 chiếc máy bay có thể dùng để tấn công.

Giáo sư Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ Toshi Yoshihara cho rằng, tàu ngầm của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản đủ khả năng chế áp tàu sân bay Trung Quố..., vì vậy có chuyên gia cho rằng, tàu sân bay Varyag nếu đưa đi đánh trận, có thể chỉ là một “quan tài sắt”.

Tàu ngầm động cơ thông thường Hamashio của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản

Một số chuyên gia quân sự Mỹ thậm chí nghi ngờ Trung Quốc phải chăng thực sự muốn phát triển tàu sân bay, cũng có một số chuyên gia tỏ ra nghi ngờ về khả năng của Trung Quốc trên phương diện này.

Vì vậy, việc chạy thử tàu sân bay Varyag thực sự làm cho một số chuyên gia Mỹ cảm thấy bất ngờ.

Trung Quốc không chỉ nhằm vào Đài Loan

Phó Ưng Xuyên, trung tướng nghỉ hưu Đài Loan, người phụ trách thường trực Hội nghiên cứu học thuật chiến lược Trung Hoa có bài viết cho rằng, tàu sân bay Trung Quốc ra đời, gây sự chú ý đặc biệt của dư luận quốc tế, chủ yếu là dựa vào vị thế của tàu sân bay trong chiến lược quân sự.

Sở dĩ tàu sân bay trở thành lợi khí tác chiến trên biển và mở rộng quyền kiểm soát biển, “lực lượng trung tâm kiểm soát biển”, là có nguồn gốc của nó.

Năm 1942, cuộc tranh giành quyền kiểm soát biển của Hải quân Mỹ, Nhật ở Thái Bình Dương, trải qua 4 trận hải chiến ở biển Coral, đảo Midway, quần đảo East Solomon và Santa Cruz, theo đó đã xác lập vị thế của tàu sân bay trong chiến tranh trên biển.

Trung Quốc muốn khẳng định vị thế tàu sân bay

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do Mỹ đã thiết kế khuôn khổ quyền lực địa-chính trị toàn cầu, đồng thời dựa vào các nghị quyết của Liên Hợp Quốc, chủ đạo trật tự quốc tế, duy trì hòa bình thế giới.

Quân Mỹ hoàn toàn dựa vào khả năng can dự binh lực để đảm đương nhiệm vụ giữ gìn hòa bình, và tàu sân bay đã trở thành công cụ chủ yếu nhất để điều động binh lực.

Quân Mỹ với thực lực siêu cường, đóng vai trò quan trọng cảnh sát toàn cầu nửa thế kỷ, đến đầu thế kỷ 21 cũng chưa thay đổi, trước năm 2015 sẽ không xuất hiện “đối thủ cạnh tranh có khả năng tương đương”.

Tên lửa đạn đạo DF-21D tăng cường rất lớn khả năng chống can dự cho Quân đội Trung Quốc

Nhưng sau khi “Trung Quốc trỗi dậy”, lần lượt hoàn thành hệ thống chống vệ tinh, phòng thủ tên lửa tầm trung, từng bước hình thành khả năng chiến đấu của tên lửa “sát thủ” tàu sân bay DF-21D, tăng cường lớn khả năng chống can dự (chống can dự của Mỹ vào Đài Loan…), vị thế của tàu sân bay trong chiến tranh trên biển chịu thách thức, ảnh hưởng đến sự phát triển của tình hình địa-chiến lược, đặc biệt là tình hình chiến lược của Tây Thái Bình Dương.

Máy bay trang bị cho tàu sân bay của Trung Quốc hiện vẫn đang trong quá trình lựa chọn và phát triển, dự đoán rất có khả năng sử dụng máy bay chiến đấu J-15. Do hạn chế về nghiên cứu phát triển động cơ, J-15 mãi không thể xuất hiện, ảnh hưởng đến tiến độ biên chế cho tàu sân bay.

Vấn đề khó khăn thực sự là ở chỗ, Trung Quốc không có kinh nghiệm trong vận hành tàu sân bay, đào tạo phi công cho máy bay trang bị cho tàu sân bay, biên chế đội/cụm tàu chiến cho tàu sân bay, sử dụng chiến lược, chiến thuật… Do đó, hình thành khả năng chiến đấu của tàu sân bay ít nhất phải mất 8 – 10 năm nữa.

J-15 được cho là máy bay chiến đấu trang bị cho tàu sân bay Trung Quốc và đã phát triển thành công

Hơn nữa, với đặc tính tác chiến, sức chiến đấu tổng thể của tàu sân bay nếu không vượt qua được quân Mỹ ở trong khu vực, tất yếu sẽ giống như Hải quân Nhật Bản, bị nhấn chìm ở Thái Bình Dương khi tham gia tác chiến.

So sánh sức chiến đấu tàu sân bay của Trung Quốc và Mỹ, tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc sẽ có hiệu ứng chiến lược gì, hiện vẫn chưa nhìn thấy.

Từ con đường phát triển tàu sân bay, Trung Quốc muốn nhấn mạnh đến vị thế và giá trị hiện có của tàu sân bay và nhu cầu thực tế về chiến lược. Sự phát triển của tư tưởng quyền kiểm soát biển gần đây được Trung Quốc coi trọng, chủ yếu là do họ phát triển về kinh tế và thương mại.

Trung Quốc đã liên tục phát triển nhanh về kinh tế, năm 2010 GDP đứng thứ hai thế giới, kim ngạch xuất khẩu ra nước ngoài đã sớm đứng đầu thế giới, đội tàu thương mại của họ cũng là số 1.

Để bảo đảm lợi ích phát triển quốc gia, nhu cầu về thương mại và năng lượng, bảo đảm an ninh về tài chính, thông tin và các tuyến đường vận tải của Trung Quốc không ngừng tăng lên; theo đó nhu cầu về quốc phòng, điều động binh lực ra nước ngoài cũng được họ tính đến.

Đông Bình (Theo báo Quang Minh)