Hiệu trưởng mong có hướng dẫn rõ về xác định khoảng cách để hưởng chính sách theo Nghị định 66

20/03/2026 08:32
Thanh Trà
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Việc xác định khoảng cách từ nhà đến trường để xét học sinh hưởng chế độ theo Nghị định 66 tại nhiều trường còn lúng túng do thiếu hướng dẫn cụ thể.

Nghị định 66/2025/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/3/2025 quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách nêu, điều kiện được hưởng chính sách trẻ em nhà trẻ bán trú, học sinh bán trú, học viên bán trú thuộc một trong các trường hợp sau:

Bản thân và bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn; Hoặc người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều theo quy định của Chính phủ mà bản thân và bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ thường trú tại xã khu vực II, khu vực I vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đặc biệt, Nghị định 66/2025/NĐ-CP nêu rõ đối tượng được hưởng là học sinh bán trú tiểu học và học sinh trung học cơ sở đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông (hoặc điểm trường) thuộc xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo, nhà ở xa trường từ 4km trở lên đối với học sinh tiểu học và từ 7km trở lên đối với học sinh trung học cơ sở, hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn phải qua biển, hồ, sông, suối, qua đèo, núi cao, qua vùng sạt lở đất, đá.

Có trường hợp nhà ở gần trường nhưng lại gửi con sang họ hàng để hưởng chính sách

Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, một số trường phổ thông dân tộc bán trú, trường tiểu học có tổ chức bán trú còn đang vướng mắc trong khâu xác định điều kiện được hưởng chính sách này.

2025-11-15-15-31-1112-8508.jpg
Học sinh bán trú tại các trường vùng đặc biệt khó khăn thuộc diện được hưởng chính sách từ Nghị định 66. Ảnh: Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Sam Kha.

Theo phản ánh của một hiệu trưởng trường tiểu học tại xã Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, với trường hợp học sinh là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, việc xác định đối tượng hưởng chính sách khá rõ ràng và ít phát sinh vướng mắc. Tuy nhiên, quy định liên quan đến “người giám hộ” chưa được cụ thể, dẫn đến những lúng túng và bất cập trong quá trình thực hiện tại cơ sở.

"Học sinh bán trú trong trường hợp bản thân và bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn sẽ được hưởng chính sách. Thực tế cho thấy, từ quy định này đã xuất hiện tình trạng một số gia đình có nhà ở gần trường nhưng lại gửi con về ở nhờ nhà ông, bà hoặc người thân ở xa trường, đồng thời làm lại địa chỉ thường trú cho học sinh để đủ điều kiện hưởng chính sách.

Có những trường hợp học sinh vẫn sinh sống thực tế tại nhà gần trường, song trên giấy tờ lại đăng ký thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn, thậm chí ở địa bàn khác. Điều này khiến việc xác định đối tượng thụ hưởng chủ yếu dựa trên hồ sơ hành chính, chưa phản ánh đúng điều kiện thực tế", vị hiệu trưởng này cho hay.

Theo đó, nhà trường dù nắm rõ hoàn cảnh gia đình học sinh nhưng vẫn buộc phải lập hồ sơ đề nghị hưởng chính sách theo đúng quy định về nơi thường trú. Điều này không chỉ gây khó khăn cho công tác quản lý mà còn tiềm ẩn nguy cơ làm sai lệch mục tiêu hỗ trợ đúng đối tượng của chính sách.

Vị hiệu trưởng này cho rằng, cần có hướng dẫn cụ thể hơn về khái niệm “người giám hộ”, đồng thời siết chặt các điều kiện liên quan đến cư trú thực tế, nhằm hạn chế tình trạng “gửi con ở nhà khác” để hưởng chế độ. Qua khảo sát của nhà trường, tình trạng học sinh ở gần trường nhưng vẫn được hưởng chính sách do giấy tờ hợp lệ không phải là hiếm, đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện quy định để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của chính sách.

Ngoài những vướng mắc về điều kiện cư trú, việc xác định đối tượng thụ hưởng theo quy định về khoảng cách và địa hình cũng đang đặt ra không ít băn khoăn trong thực tế. Theo Nghị định 66/2025/NĐ-CP, đây là căn cứ quan trọng để xét học sinh bán trú, chẳng hạn học sinh tiểu học phải có nhà cách trường từ 4km trở lên hoặc thuộc khu vực giao thông đi lại khó khăn. Tuy nhiên, cách xác định cụ thể lại chưa có hướng dẫn rõ ràng.

Còn lúng túng trong xác định khoảng cách để hưởng chế độ

Trao đổi với phóng viên, thầy Nguyễn Trung Hiếu - Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Sam Kha (xã Púng Bánh, tỉnh Sơn La) chia sẻ, trong quá trình triển khai Nghị định 66/2025/NĐ-CP, việc xác định khoảng cách từ nhà đến trường của học sinh hiện nay chủ yếu được nhà trường căn cứ vào thông tin thường trú. Cụ thể, dựa trên địa chỉ hộ khẩu như học sinh thuộc thôn, bản nào để xác định sơ bộ khoảng cách đến trường.

Theo thầy Hiếu, mặc dù trong Nghị định 66 không quy định cụ thể giấy tờ liên quan đến khoảng cách là thành phần bắt buộc trong hồ sơ, song đây lại là căn cứ rất quan trọng để nhà trường xác định học sinh có đủ điều kiện hưởng chính sách hay không. Do đó, để đảm bảo đúng đối tượng, nhà trường không chỉ dựa vào hộ khẩu thường trú mà còn tiến hành xác minh thực tế tại địa phương.

“Với những em ở các thôn, bản cách xa trường rõ ràng thì việc xác định khá thuận lợi. Tuy nhiên, với những trường hợp nằm trong ngưỡng quy định, như khoảng 4km đối với tiểu học hoặc 7km đối với trung học cơ sở thì việc xác định còn khá khó khăn", thầy Hiếu bộc bạch.

Bên cạnh yếu tố khoảng cách, đặc thù địa bàn miền núi như xã Púng Bánh còn tồn tại nhiều khu vực có địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn. Nhiều tuyến đường phải đi qua suối, đồi núi, đường dốc, trơn trượt, đặc biệt vào mùa mưa càng tiềm ẩn nguy hiểm. Trong những trường hợp này, việc xác định khoảng cách theo số ki-lô-mét đơn thuần không còn phản ánh đúng mức độ khó khăn mà học sinh phải đối mặt khi đến trường.

“Có những em quãng đường không quá xa về mặt số liệu, nhưng do phải đi qua suối, leo đồi, đường rừng nên việc đi lại rất vất vả. Vì vậy, nhà trường phải linh hoạt vận dụng quy định, kết hợp với thực tế để xem xét.

Với học sinh tiểu học, dù quy định là từ 4km trở lên, nhưng nếu thực tế cung đường đi lại khó khăn, trắc trở, dù khoảng cách ngắn hơn học sinh vẫn sẽ được hưởng chính sách. Cách làm tương tự cũng được áp dụng với cấp trung học cơ sở", thầy Hiếu cho hay.

Để đảm bảo tính khách quan, nhà trường tiến hành rà soát, lập danh sách các học sinh thuộc diện có địa hình đi lại khó khăn, sau đó trình lên chính quyền xã để xác nhận. Quá trình này có sự phối hợp của nhiều bên, bao gồm cán bộ xã, trưởng bản và các tổ chức đoàn thể tại địa phương nhằm kiểm tra, xác minh thực tế điều kiện đi lại của học sinh.

“Sau khi lập danh sách, các cơ quan chức năng ở xã sẽ phối hợp cùng trưởng bản và các đoàn thể để xác minh. Nếu đúng là các em gặp khó khăn trong việc đi lại thì dù không đủ số ki-lô-mét theo quy định, vẫn được xem xét hưởng chính sách”, thầy Hiếu nói.

Theo thầy Hiếu, mục tiêu cốt lõi của chính sách không chỉ là căn cứ vào con số khoảng cách, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện cho học sinh vùng khó khăn được đến trường, giảm bớt gánh nặng cho gia đình. Đây là một chính sách nhân văn, giúp phụ huynh yên tâm cho con em đi học, nhất là ở những vùng còn nhiều khó khăn như hiện nay.

8f4fb386fb0f4e51171e12-3126.jpg
Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Mường Lạn hiện có hơn 500 học sinh được hưởng chế độ theo Nghị định 66. Ảnh: Website Trường.

Cô Lò Thị Hặc - Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Mường Lạn (xã Mường Lạn, tỉnh Sơn La) cũng cho biết, do chưa có quy định cụ thể về phương pháp đo khoảng cách, nhà trường thường phải phối hợp với chính quyền xã để khảo sát thực tế. Việc xác định chủ yếu dựa trên việc di chuyển trực tiếp đến từng thôn, bản, ước lượng quãng đường bằng đồng hồ xe máy hoặc dựa vào kinh nghiệm thực tế. Mỗi lần như vậy đều phải kết hợp với phía xã để đi kiểm tra, xem xét cụ thể từng trường hợp.

Cô Hặc chia sẻ: "Tại địa bàn Mường Lạn, việc xác định khoảng cách tương đối thuận lợi do hầu hết học sinh đều sinh sống ở các bản vùng cao, cách xa trường trên 4km, thậm chí nhiều em ở cách trường hơn chục km. Nhà nhiều em ở rất xa, có khi đi bộ phải mất cả buổi mới đến nơi nên việc xác định khoảng cách là khá rõ ràng. Do đó, nhà trường hiện có hơn 500 học sinh đang được hưởng chính sách theo quy định".

Tuy nhiên, khó khăn lại phát sinh với những trường hợp có khoảng cách “xấp xỉ” ngưỡng quy định, như gần 4km. Khi đó, việc đo bằng đồng hồ xe máy hay các ứng dụng bản đồ điện tử có thể cho kết quả chênh lệch, khiến nhà trường lúng túng trong việc xác định đủ hay không đủ điều kiện.

Bên cạnh đó, hiện cũng chưa có quy định cụ thể về việc xác nhận khoảng cách: có cần giấy xác nhận hay không, nếu có thì do đơn vị nào xác nhận, và sử dụng phương pháp đo nào, đo thủ công, bản đồ địa hình hay bản đồ điện tử. Thực tế hiện nay, nhà trường chủ yếu phối hợp với chính quyền xã để xác minh và sử dụng cách đo thủ công, song vẫn thiếu tính thống nhất và độ chính xác cao.

Từ thực tế này, cô Hặc cho hay, cần sớm có hướng dẫn cụ thể, áp dụng phương pháp đo được công nhận và sử dụng đồng bộ trên toàn quốc, nhằm đảm bảo công bằng và thuận lợi trong quá trình triển khai chính sách.

Thanh Trà