Tại buổi sinh hoạt, TS, BS Bùi Thị Mai Hương, Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã có những chia sẻ về vấn đề đảm bảo dinh dưỡng học đường.
Dựa trên các báo cáo khoa học, đánh giá về thực trạng dinh dưỡng và bữa ăn học đường tại Việt Nam, TS, BS Bùi Thị Mai Hương cho biết đang có gánh nặng kép là sự song hành nghịch lý giữa suy dinh dưỡng thể thiếu và thừa cân, béo phì; sự thiếu hụt nghiêm trọng các vi chất sinh hóa ở cấp độ tế bào tại các vùng lõi nghèo; khoảng trống hạ tầng vật lý và nhân sự làm tê liệt khả năng cung cấp bữa ăn chuẩn.
Mặc dù chúng ta đã có các chương trình và đề án lớn (Quyết định 02/QĐ-TTg, Quyết định 1660/QĐ-TTg, Quyết định 41/QĐ-TTg), công tác triển khai bữa ăn học đường thực tế đang vấp phải 3 "điểm nghẽn" cốt lõi.
Thứ nhất là thiếu tiêu chuẩn dinh dưỡng học đường bắt buộc (Mandatory Standards): Việt Nam hiện chưa ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mang tính bắt buộc pháp lý về dinh dưỡng học đường. Việc lập thực đơn bán trú tại phần lớn các trường hiện nay vẫn dựa vào kinh nghiệm cảm tính của cán bộ cấp dưỡng hoặc nhà cung cấp suất ăn bên ngoài, dẫn đến tình trạng khẩu phần ăn hằng ngày thiếu hụt trầm trọng Canxi (mới đạt 30,2% RDA), Vitamin A (39,0% RDA) và Vitamin D (5,5% RDA).
Thứ hai là khoảng trống về nhân lực chuyên trách dinh dưỡng: Hệ thống giáo dục quốc dân hiện chưa có định biên vị trí việc làm cho Cán bộ/Chuyên viên Dinh dưỡng tại các cơ sở giáo dục. Nhiệm vụ lên thực đơn, quản lý an toàn thực phẩm và theo dõi sức khỏe học sinh kiêm nhiệm bởi nhân viên y tế trường học (ít có chuyên môn sâu về khoa học dinh dưỡng).
Thứ ba là bất bình đẳng về hạ tầng kỹ thuật và mức thu tiền ăn: Sự chênh lệch lớn về cơ sở vật chất giữa các vùng miền: các trường vùng sâu, vùng xa thiếu nghiêm trọng không gian nhà bếp một chiều, nước sạch và trang thiết bị bảo quản. Mức thu tiền ăn bán trú phụ thuộc vào đóng góp của phụ huynh, dẫn đến chất lượng khẩu phần ăn học sinh giữa các vùng miền chưa đạt tính bình đẳng.
Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xây dựng thực đơn khoa học, cân đối khẩu phần và duy trì chất lượng bữa ăn phù hợp với nhu cầu phát triển của học sinh.
Để khắc phục tình trạng hạn chế của bữa ăn học đường, một trong những giải pháp được đề xuất là ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dinh dưỡng học đường như: Nhóm giải pháp thể chế và tiêu chuẩn hóa bắt buộc. Tiếp đó là nhóm giải pháp công nghệ và nhân lực (chuyển đổi số và chuyên môn hoá); nhóm giải pháp tài chính bền vững và cơ chế phối hợp liên ngành.
Trong đó, nhóm giải pháp thứ nhất về thể chế và tiêu chuẩn hóa bắt buộc ưu tiên tập trung ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia: Áp dụng ngưỡng giới hạn nghiêm ngặt về đường tự do, muối, và chất béo bão hòa cho 100% suất ăn bán trú (theo chuẩn WHO). Cùng với đó, bán kính 100m quanh trường học: cấm/hạn chế kinh doanh, tiếp thị đồ uống có đường và thực phẩm chế biến sẵn giàu năng lượng, thiết lập môi trường thực phẩm học đường an toàn. Xây dựng hàng trăm thực đơn chuẩn hóa theo lứa tuổi, có tính đến nguồn nguyên liệu địa phương phù hợp.
Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn đã thành công, ThS Hà Thị Phương, Quản lý dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng TH giới thiệu mô hình điểm bữa ăn học đường do Tập đoàn TH khởi xướng, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế triển khai trong năm học 2020-2021 tại 10 tỉnh, thành phố, đại diện cho 5 vùng sinh thái. Mô hình xây dựng hơn 400 thực đơn dựa trên nhu cầu dinh dưỡng của học sinh, kết hợp với nguồn nguyên liệu và văn hóa ẩm thực từng địa phương; đồng thời lồng ghép giáo dục dinh dưỡng với hoạt động thể lực phù hợp lứa tuổi.
Theo số liệu do đơn vị triển khai công bố, 95,8% số trường tham gia đánh giá mô hình đạt hiệu quả hoặc rất hiệu quả; tỷ lệ học sinh tiểu học có hiểu biết đầy đủ về bữa ăn cân đối tăng 23,6%. Những kết quả này cho thấy việc kết hợp giữa thực đơn khoa học, giáo dục dinh dưỡng và vận động thể chất có thể góp phần nâng cao nhận thức, hình thành thói quen ăn uống lành mạnh cho học sinh.
Theo các chuyên gia, một hệ thống dinh dưỡng học đường được thể chế hóa, áp dụng công nghệ và tài chính bền vững không chỉ là giải pháp kỹ thuật để giải quyết gánh nặng kép. Đó là khoản đầu tư cốt lõi quyết định bình đẳng sức khỏe và chất lượng nguồn nhân lực cho thế hệ tương lai của Việt Nam.