EMagazine

Cô giáo xin trở lại điểm trường khó khăn, nơi khan hiếm nguồn nước sạch
sapo-6647.png

Cô Đặng Thị Thuyên (sinh năm 1991, quê ở xã Minh Quang, tỉnh Tuyên Quang) hiện đang là giáo viên tại điểm trường Tả Lủng, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Vần Chải (xã Yên Minh, tỉnh Tuyên Quang). Trong quá trình công tác tại điểm trường đầu tiên (điểm trường Đăng Vai), nhờ có nhiều thành tích trong hoạt động giảng dạy, cô Thuyên được điều động về trường chính từ năm 2015. Tại đây, cô đã đồng hành cùng nhiều học sinh “phá kén”, giúp nhiều em từ ngày đầu rụt rè, khép kín trở thành những tấm gương học sinh tiêu biểu, đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp trường, huyện (cũ), cấp tỉnh…

Tuy nhiên, đến năm học 2026-2027, cô giáo Đặng Thị Thuyên đã chủ động xin được quay trở lại điểm trường, để có thể dành nhiều thời gian hơn cho các em học sinh ở những nẻo xa xôi, khó khăn nhất.

8-1605.png

Sinh ra trong gia đình có truyền thống làm nghề giáo, ngay từ nhỏ, cô bé Đặng Thị Thuyên đã nuôi trong mình ước mơ trở thành một giáo viên.

Sau khi tốt nghiệp sư phạm vào tháng 6/2012, cô thi đỗ viên chức vào tháng 12/2012. Đến tháng 3/2013, cô Thuyên chính thức nhận quyết định công tác tại Trường Phổ thông cơ sở Vần Chải (huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang cũ), nay là Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Vần Chải (xã Yên Minh, tỉnh Tuyên Quang).

0.png

Thời điểm ấy, nữ giáo viên trẻ vừa mới ra trường, được phân công dạy lớp ghép 2-3 tại điểm trường Đăng Vai. Đối với cô giáo Thuyên, những kỷ niệm của điểm trường trong những ngày đầu lên lớp có lẽ sẽ trở thành những ký ức đặc biệt, không thể nào quên.

Cô Thuyên nhớ lại: “Lần đầu tiên tôi được đặt chân đến điểm trường cũng là khi tôi được trực tiếp chứng kiến những khó khăn, thiếu thốn mà trước đó tôi chưa từng mường tượng hết được. Trước khi đến đây, tôi không nghĩ rằng, vào năm 2013, vẫn còn một nơi có sương mù bao phủ quanh năm, khí hậu khắc nghiệt với mùa Đông thì rét buốt, và cũng không có điện, không có nước sạch, không có sóng điện thoại như vậy.

Con đường từ trường chính vào đến điểm trường Đăng Vai khi ấy chỉ toàn đá là đá - xã Vần Chải của huyện Đồng Văn cũ nhắc đến ai cũng biết là một xã xa huyện nhất và khó khăn nhất huyện, vì ở nơi đây cơ sở vật chất thiếu thốn đường xã đi lại rất khó khăn. Thời gian ấy, do không quen đường và tay lái cũng không vững, tôi không dám đi xe máy vào điểm trường, mà chủ yếu dành thời gian đi bộ. Mỗi sáng thứ Hai, tôi đều dậy từ rất sớm, chuẩn bị kỹ lưỡng, dùng một thanh tre để gánh hành lý, dụng cụ thiết yếu, rồi 5 rưỡi sáng bắt đầu đi bộ vào điểm trường. Nếu thời tiết thuận lợi thì chỉ mất tầm 45 phút là vào đến nơi, nhưng gặp hôm mưa gió, đường trơn trượt, bùn bám dính chặt bàn chân, thì vừa đi vừa nghỉ phải mất hơn 1 tiếng, tôi mới đến được điểm trường”.

Điểm trường khi ấy còn khó khăn bộn bề, không có điện lưới, nên nhiều hôm, trời âm u, không có đủ ánh sáng cho học sinh học tập. Thấy thế, cô Thuyên cũng như các cô giáo khác ở điểm trường cùng góp tiền túi mua đèn pin và chiếu sáng không gian trong lớp học cho các em. Cứ 6 quả pin thì dùng được từ 2-4 ngày, tuỳ thuộc vào ngày âm u nhiều hay ít.

2.png

“Ngày đầu vào nhận công tác ở điểm trường, tôi được bố mẹ sắm cho chiếc nồi cơm điện và ấm điện để thuận tiện trong sinh hoạt. Nhưng vào đến nơi mới biết, điểm trường chưa có điện. Thế là mất bao nhiêu công sức đưa vào được đến nơi lại không dùng được” - nữ giáo viên bật cười.

Điện đã vậy, đến nước sạch lại càng khó khăn hơn. “Đối với các thầy cô “cắm bản” như chúng tôi, hầu như ai cũng có những kỷ niệm gắn liền với địa bàn. Và đối với tôi, đáng nhớ nhất có lẽ là những buổi đi địu nước từ các hố nước của bà con dân bản. Nước sạch đối với các điểm trường là một từ có lẽ vẫn còn khá xa lạ. Bởi, đến tận bây giờ, nhiều điểm trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước. “Cao nguyên đá” mà, mưa ít, cấu trúc địa chất lại chẳng giữ được nước bao nhiêu, nên gần như chúng tôi không thể tìm được mạch nước ngầm hay mương, suối gì…

Mỗi ngày, cô giáo sẽ mượn “quẩy tấu” của người dân rồi đi địu nước về phục vụ sinh hoạt cũng như vệ sinh cá nhân cho học sinh. Lâu lâu, trời đổ mưa, giáo viên sẽ hứng lại các téc để dự trữ” - cô Thuyên kể.

3.png

Vì đi bộ vào điểm trường, nên hầu như cô Thuyên chỉ về trường chính vào chiều thứ Sáu và sáng thứ Hai lại khăn gói trở vào. Hành lý khi ấy không phải chỉ có mỗi quần áo, giáo án và các dụng cụ dạy học, mà đầu kia của “chiếc đòn gánh tự chế” chính là thực phẩm cho cả tuần: nào gạo, nào cá khô, trứng, lạc…

“Hồi ấy, chúng tôi mua khoảng 2kg thịt lợn, mang vào điểm trường, sơ chế sạch sẽ, chao lên rồi để vào âu để ăn dần. Tuy không có điện để dùng tủ lạnh, nhưng không khí ở đó có khi còn mát hơn cả tủ, nên hoàn toàn có thể trữ thịt lại ăn cả tuần” - cô kể.

Đến năm 2014, cô Thuyên mới bắt đầu đủ can đảm để thỉnh thoảng đi xe vào điểm trường, đó chỉ là vào những ngày thời tiết đẹp.

Còn vào những hôm mưa to gió lớn, nếu gặp được người dân tiện đường, cô sẽ nhờ đưa xe theo, còn nếu chỉ có một mình, cô sẽ bỏ xe lại giữa đường để đi bộ vào điểm trường. Với cô, con đường toàn đá với đá quá xóc, cô không dám đi khi thời tiết không ủng hộ, nhất là nhiều hôm còn chứng kiến cảnh sạt lở ngay trước mắt.

9.png

Không chỉ quan tâm việc học tập của học sinh, cô Thuyên còn dành nhiều thời gian để tâm sự, hỗ trợ các em có hoàn cảnh khó khăn và kết nối từ thiện để giúp các em tự tin hơn trong cuộc sống của mình.

Từ những ngày đầu chưa biết một từ tiếng H’mông nào, khác biệt ngôn ngữ chính là “rào cản” lớn nhất khi lên lớp, đến nay, cô giáo Thuyên đã tự tin có thể tâm sự với các em học sinh bằng chính ngôn ngữ này và bằng cả ngôn ngữ hình thể khi cần.

Nhờ vậy, có những lần đi vận động học sinh, cô và các đồng nghiệp đã trực tiếp giao tiếp bằng tiếng H’mông, lắng nghe những tâm tư, trải lòng của học sinh một cách chân thật nhất, để từ đó có những lời khuyên đầy ấm áp, giúp các em tiếp tục đến trường.

“Tôi nhớ nhất một lần đi vận động học sinh khi ở điểm Phìn Chải B, nhà các em ở cách điểm trường khoảng 4km đường vắt qua những khoảnh đồi toàn đá. Đến tận nhà các em, tôi mới thực sự hiểu, vì sao ở vùng cao, các em lại nghỉ học giữa chừng nhiều đến vậy? Nhà em học sinh ấy có 5 anh em, ai cũng đều lỡ dở việc học, đứa lớn trông đứa bé, rồi còn phải phụ bố mẹ chăn dê, cắt cỏ bò… trong khi cả bố và mẹ đều đi làm ăn xa.

Khi các cô giáo đến nhà vận động, em học sinh mặc dù rất muốn được đi học, nhưng lại vô cùng băn khoăn vì không có ai lo việc nhà. Các cô giáo đã đưa ra nhiều phương án để hỗ trợ học sinh. Sau cùng, nhờ có sự hỗ trợ của chính quyền xã, đã vận động được mẹ của các em trở về nhà để chăm sóc gia đình, và điều tuyệt vời nhất là cả 5 anh em trong gia đình đều được đi học trở lại” - cô Thuyên chia sẻ.

4.png

Trong suốt hành trình 14 năm gắn bó với nghề giáo, một trong những điều khiến cô Thuyên cảm thấy ấm lòng nhất chính là sự yêu thương của bà con dân bản và những trái tim ấm áp của chính những học sinh mà cô đang giảng dạy.

“Tôi nhớ, quãng độ năm học 2014-2015, có một phụ huynh chở con đến trường, mang theo một cành hoa hồng đến tặng cô giáo nhân ngày 20/11. Chỉ một cành hoa chưa được cắt tỉa gọn gàng, không giấy gói hoa, không nơ buộc, nhưng chứa đựng tấm lòng của cả phụ huynh lẫn học sinh. Và đó là một trong những món quà ấn tượng đầu tiên tôi nhận được từ khi đứng trên bục giảng.

Đặc biệt hơn nữa, tôi cũng từng nhận được những món quà rất đỗi đơn sơ đến từ chính các em học sinh của mình. Có những em tranh thủ trên đường tới trường, hái thật nhiều hoa tam giác mạch và tết vào tặng cô. Đôi khi, các em chỉ biết nói đúng một câu: “Chúc cô vui vẻ!”, cũng chẳng cầu kỳ là nhân dịp gì, lễ gì… nhưng với tôi, học sinh lớp 1, lớp 2 ở điểm trường nói được như vậy đã là “100% hạnh phúc” rồi.

Món quà mà tôi được nhận nhiều nhất, có lẽ là những tấm thiệp vẽ tay, những bức thư tay đầy cảm xúc do chính các em tự chuẩn bị. Với tôi, gom hết tất cả lại trở thành một “kho báu” độc bản, không phải ai cũng có thể chạm tay tới” - ánh mắt nữ giáo viên trở nên rạng rỡ.

6.png
10.png

Mặc dù, mong muốn theo đuổi nghề giáo từ tấm bé, nhưng trải qua những ngày đầu tại điểm trường, có lẽ, với cô gái trẻ mới 22 tuổi vẫn là quá “khắc nghiệt”. Vì lẽ đó, đã có lúc, cô muốn dừng lại.

Cô Thuyên không ngần ngại giãi bày: “Hồi đó, ở điểm trường gần như không có sóng điện thoại di động. Tôi dùng túi nilon bọc chiếc điện thoại đen trắng lại, rồi buộc lên lừng chừng cột cờ để… hứng sóng, phòng khi có cuộc gọi khẩn từ gia đình hay thông tin chỉ đạo từ trường chính.

Ấy thế mà, đầu năm 2014, khi bố tôi bị ốm phải đi cấp cứu, mẹ tôi gọi không biết bao nhiêu cuộc, tôi vẫn không nhận được. Đến cuối tuần, về trường chính, tôi gọi cho mẹ mới hay tin. Sau đó, mặc dù tôi đã xin nghỉ phép để về chăm sóc bố, nhưng trong lòng tôi vẫn cứ day dứt mãi. Cứ nghĩ, lúc gia đình cần mình nhất mà gọi một cuộc điện thoại cũng không được, mình không hay biết gì…

Mùa hè năm ấy, khi trở về quê, tôi đã từng muốn dừng lại, không dám trở lại điểm bản. Ngay khi đó, mẹ tôi - cũng là giáo viên đã thủ thỉ, khuyên tôi những lời thật chân thành. Mẹ động viên: ‘Con chỉ mới đi bộ có hơn 4km vào điểm trường, hồi xưa mẹ còn đi hơn 14km, vất vả hơn còn bây giờ rất nhiều, nhưng vẫn gắn bó với nghề suốt bao nhiêu năm. Nếu ai cũng sợ nơi heo hút, xa xôi, thì ai sẽ là người gắn bó, ai sẽ mang con chữ đến cho các em nhỏ ở đó?’...

Tôi thầm nghĩ, thì ra là vậy. Tôi vẫn từng nghe các đồng nghiệp đi trước tâm sự rằng, khi giáo viên đã gắn bó với điểm trường một thời gian, bà con thường rất mong muốn “giữ” giáo viên đó ở lại để dạy con em mình thật lâu… Sau đó, tôi nhận ra, mình thật sự không thể bỏ các em được. Và hành trình của tôi đã nối tiếp đến tận bây giờ”.

Sau mỗi buổi học trên lớp, cô Thuyên thường xuyên dành thêm thời gian kèm cặp học sinh theo từng trình độ khác nhau, tổ chức câu lạc bộ Toán, Tiếng Việt ở trường. Nhờ có sự tận tâm ấy, nhiều em học sinh từ ngày đầu rụt rè, khép kín, ngại giao tiếp, đã trở thành những tấm gương học sinh tiêu biểu, đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp trường, huyện (cũ), cấp tỉnh…

7.png

Không chỉ vậy, học sinh ở điểm trường nơi cô công tác hầu hết là con em người dân tộc H’mông, bố mẹ hoặc đi làm ăn xa, hoặc không được quan tâm sát sao, nên nhiều khi, các cô giáo còn thay phần bố mẹ chăm lo cho các em. Từ việc cắt tóc, cắt móng tay, gội đầu,... các cô đúng như hình ảnh người mẹ hiền của mỗi học trò. Ở những điểm trường có học sinh đi học xa nhà, thấy các em chỉ mang vỏn vẹn có chút mèn mén hay bắp ngô, củ sắn để ăn trưa, nhiều hôm, cô lại bỏ những gói mì tôm đã mua để dự trữ cả tuần ra nấu cho các em cùng ăn.

Nhiều năm công tác, xúc động trước những tình cảm mộc mạc, chân thành của bà con thôn bản, năm 2026, sau một thời gian được điều động về giảng dạy tại trường chính ở trung tâm, cô giáo Đặng Thị Thuyên đã đề xuất được tiếp tục gắn bó với điểm trường. Vì vậy, năm học này, cô Thuyên sẽ bắt đầu viết tiếp những câu chuyện đầy cảm xúc cùng học trò tại điểm trường Tả Lủng.

“Tôi mong, sẽ có thêm nhiều thời gian để gắn bó với các em học sinh ở những vùng khó khăn nhất” - nữ giáo viên bộc bạch.

1.png

Chia sẻ về cô giáo Đặng Thị Thuyên, thầy Đặng Ngọc Bường - Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Vần Chải cho hay: “Cô giáo Thuyên là một giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, tâm huyết, tận tụy với nghề và có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển của nhà trường.

Trong điều kiện giảng dạy tại địa bàn miền núi, nơi có nhiều học sinh dân tộc H’mông với những khó khăn về ngôn ngữ và điều kiện học tập, cô luôn nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học, quan tâm, hỗ trợ học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục. Cô đã đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, bồi dưỡng học sinh đạt giải cấp tỉnh, góp phần khẳng định chất lượng giáo dục và nâng cao uy tín của nhà trường. Cô Thuyên thực sự là tấm gương nhà giáo tiêu biểu, có tinh thần vượt khó, trách nhiệm và cống hiến, xứng đáng được ghi nhận, biểu dương”.

Mộc Trà