Từ những bài học của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh - Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, cho rằng sức mạnh của dân tộc Việt Nam được tạo nên từ sự lãnh đạo đúng đắn, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tinh thần tự lực, tự cường, bản lĩnh văn hóa và khát vọng vươn lên. Trong kỷ nguyên mới, giáo dục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc biến những giá trị ấy thành năng lực, bản lĩnh và khát vọng phát triển của thế hệ trẻ.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh chia sẻ, nhìn lại 81 năm kể từ mùa Thu lịch sử năm 1945, điều có ý nghĩa sâu sắc không chỉ nằm ở những khó khăn, thử thách mà dân tộc đã vượt qua, mà còn ở quá trình hình thành và bồi đắp một hệ giá trị tạo nên sức mạnh trường tồn của Việt Nam. Theo ông, có ba nhân tố cốt lõi làm nên sức mạnh ấy.
Thứ nhất là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo và bản lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trước hết là thắng lợi của một đường lối cách mạng đúng đắn, của nghệ thuật nhận diện và chớp lấy thời cơ lịch sử. Trong những thời khắc có ý nghĩa bước ngoặt, Đảng ta đã biết kết hợp giữa kiên định mục tiêu chiến lược với linh hoạt về sách lược; giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giữa lý luận cách mạng với thực tiễn Việt Nam.
Giá trị đó tiếp tục được khẳng định trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, công cuộc đổi mới và hiện nay là quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng.
"Một dân tộc muốn đi xa phải có một tầm nhìn phát triển đúng, một năng lực tổ chức thực tiễn hiệu quả và một bản lĩnh chính trị đủ sức vượt qua những biến động của thời đại", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh nhấn mạnh.
Thứ hai là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Cách mạng Tháng Tám là minh chứng điển hình cho khả năng quy tụ hàng triệu người thành một ý chí chung, đó là ý chí giành độc lập và quyền làm chủ vận mệnh dân tộc.
Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, mỗi khi lợi ích quốc gia, dân tộc trở thành điểm hội tụ, sức dân được khơi dậy, niềm tin của Nhân dân được củng cố và các nguồn lực xã hội được tập hợp, đất nước lại tạo ra những sức mạnh vượt lên trên giới hạn vật chất thông thường.
Trong giai đoạn hiện nay, theo Phó Giáo sư Vinh, đại đoàn kết toàn dân tộc cần tiếp tục được nâng lên thành đồng thuận xã hội, niềm tin phát triển và khả năng huy động trí tuệ, tài năng, nguồn lực của hơn một trăm triệu người Việt Nam ở trong và ngoài nước cho mục tiêu phát triển đất nước.
Thứ ba là tinh thần tự lực, tự cường, bản lĩnh văn hóa và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam.
Từ tư tưởng "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" của Cách mạng Tháng Tám, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh cho rằng, có thể rút ra một chân lý phát triển sâu sắc: Độc lập chính trị phải đi liền với năng lực tự chủ; tự chủ quốc gia trước hết phải được xây dựng từ nội lực của chính dân tộc.
Trong kỷ nguyên mới, tự lực, tự cường không đồng nghĩa với khép kín. Đó là khả năng hội nhập mà không lệ thuộc, hợp tác nhưng không đánh mất khả năng tự quyết, tiếp thu tri thức của nhân loại nhưng đồng thời phải hình thành được năng lực sáng tạo của chính mình.
Từ góc nhìn đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh cho rằng, tầm vóc lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 chính là việc mở ra một thời đại mới của dân tộc Việt Nam: Từ thân phận mất nước trở thành một quốc gia độc lập; từ một dân tộc bị áp đặt số phận trở thành một dân tộc tự quyết định con đường phát triển của mình.
Nếu năm 1945, khát vọng lớn nhất là độc lập dân tộc, thì trong giai đoạn hiện nay, sự tiếp nối xứng đáng nhất đối với khát vọng ấy là xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.
"Đó cũng chính là sự gặp nhau giữa giá trị lịch sử của năm 1945 và khát vọng phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh đúc kết.
Ba sứ mệnh lớn của giáo dục trong kỷ nguyên số
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh, nhìn xuyên suốt tiến trình phát triển đất nước từ năm 1945 đến nay có thể thấy một tư tưởng nhất quán: Muốn dân tộc mạnh thì trước hết con người phải mạnh; muốn đất nước phát triển thì trí tuệ và năng lực của con người phải được giải phóng và phát huy.
Phó Giáo sư lý giải: "Ngay sau khi giành được độc lập, trong hoàn cảnh đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt "giặc dốt" cùng với "giặc đói" và "giặc ngoại xâm" trong những nguy cơ cấp bách cần giải quyết. Quan điểm "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" không chỉ có ý nghĩa đối với hoàn cảnh năm 1945 mà còn mang giá trị vượt thời đại.
Bởi suy cho cùng, sức mạnh lâu dài của một quốc gia không chỉ được quyết định bởi tài nguyên thiên nhiên hay quy mô dân số, mà ngày càng được quyết định bởi chất lượng con người, trình độ tri thức, năng lực sáng tạo và khả năng tổ chức xã hội".
Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức, trí tuệ nhân tạo và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh, giáo dục Việt Nam phải thực hiện đồng thời ba sứ mệnh lớn.
Một là, phát triển con người từ chỗ chủ yếu tiếp nhận tri thức sang năng lực tạo ra tri thức và giá trị mới.
Giáo dục trong kỷ nguyên mới không thể chỉ đào tạo những con người “biết nhiều”, mà phải đào tạo những con người biết tư duy, biết đặt vấn đề, biết giải quyết những vấn đề mới và có khả năng sáng tạo.
Hai là, giáo dục phải trở thành nền tảng của năng lực tự chủ chiến lược quốc gia.
Một quốc gia không làm chủ được khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và tri thức chiến lược thì rất khó có được sự tự chủ chiến lược toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Do đó, đầu tư cho giáo dục ngày nay không chỉ là đầu tư cho một lĩnh vực xã hội mà sâu xa hơn là đầu tư cho năng suất tương lai, cho khoa học, công nghệ, sức cạnh tranh quốc gia và năng lực tự chủ của đất nước.
Ba là, giáo dục tri thức phải gắn chặt với giáo dục văn hóa, đạo đức, lý tưởng và trách nhiệm công dân.
Theo Phó Giáo sư, chúng ta cần những công dân có năng lực toàn cầu nhưng đồng thời phải có căn tính Việt Nam, lòng yêu nước, trách nhiệm xã hội và ý thức về lợi ích quốc gia, dân tộc.
"Một đất nước có thể có nhiều người giỏi, nhưng nếu những người giỏi ấy thiếu khát vọng phụng sự cộng đồng và Tổ quốc thì nguồn lực trí tuệ chưa chắc đã chuyển hóa đầy đủ thành sức mạnh quốc gia. Bởi vậy, tôi nhìn nhận giáo dục chính là cây cầu nối giữa khát vọng phát triển và năng lực hiện thực hóa khát vọng ấy.
Muốn đến năm 2045 Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, thì những con người làm nên Việt Nam năm 2045 phải được chuẩn bị ngay từ hôm nay", Phó Giáo sư Vinh phân tích.
Không chỉ dạy người trẻ biết lịch sử, mà phải giúp họ tư duy bằng lịch sử
Một trong những thách thức lớn đối với giáo dục lịch sử và truyền thống trong thời đại số, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh, nằm ở nghịch lý: Chưa bao giờ con người có nhiều thông tin như hiện nay, nhưng cũng chưa bao giờ năng lực phân biệt giữa thông tin, tri thức và sự thật lại trở nên quan trọng như hiện nay.
Thế hệ trẻ có thể tiếp cận gần như tức thời với kho tri thức khổng lồ của nhân loại. Tuy nhiên, các em cũng phải đối mặt với sự pha trộn giữa thông tin đúng và sai, giữa sự thật lịch sử với những diễn giải phiến diện, thậm chí xuyên tạc.
Theo ông, có ba thách thức đáng chú ý.
Trước hết là thách thức về năng lực kiểm chứng sự thật. Trong môi trường mạng xã hội, một nội dung hấp dẫn hoặc gây cảm xúc mạnh có thể lan truyền nhanh hơn nhiều so với một công trình nghiên cứu nghiêm túc. Nếu người trẻ thiếu kiến thức nền và phương pháp kiểm chứng nguồn tin, họ có thể bị dẫn dắt bởi những thông tin thiếu căn cứ, xuyên tạc hoặc bóp méo lịch sử.
Thách thức thứ hai là sự thay đổi căn bản trong phương thức tiếp nhận tri thức. Thế hệ trẻ đang sống trong một hệ sinh thái truyền thông nhanh, trực quan, tương tác và cá nhân hóa cao. Nếu lịch sử vẫn chỉ được chuyển tải bằng cách ghi nhớ ngày tháng, sự kiện và những bài học một chiều thì khó tạo ra sự rung động cũng như tư duy lịch sử thực sự.
Thách thức thứ ba là làm thế nào để hội nhập sâu rộng nhưng không hòa tan về văn hóa và bản sắc.
Thanh niên Việt Nam cần trở thành những công dân có khả năng đối thoại với thế giới, tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhưng đồng thời phải hiểu mình là ai, dân tộc mình đã đi qua con đường nào và bản thân có trách nhiệm gì đối với tương lai đất nước.
Vì vậy, vấn đề ngày nay không còn chỉ là "dạy cho người trẻ biết lịch sử", mà phải tiến tới "giúp người trẻ tư duy bằng lịch sử". Đó là khả năng tìm nguồn, đối chiếu chứng cứ, phân tích bối cảnh, hiểu nguyên nhân và hệ quả, từ đó tự hình thành nhận thức có căn cứ. Khi đó, tri thức lịch sử sẽ tạo ra một yếu tố đặc biệt quan trọng: sức đề kháng về nhận thức và bản lĩnh văn hóa của người công dân trong xã hội số.
Từ yêu cầu đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh cho rằng, giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên cần chuyển từ truyền đạt sang kiến tạo bằng hiểu biết, trải nghiệm và hành động. Trân trọng lịch sử không có nghĩa là chỉ thuộc lòng lịch sử. Giáo dục cần hướng tới ba sự chuyển hóa.
Đầu tiên là từ ghi nhớ lịch sử sang hiểu và tư duy về lịch sử. Muốn tự hào đúng thì trước hết phải hiểu đúng. Lịch sử cần được tiếp cận bằng thái độ khoa học, tôn trọng sự thật, có chứng cứ và khả năng đối chiếu nguồn tư liệu.
Học sinh, sinh viên cần được khuyến khích đặt câu hỏi: Sự kiện diễn ra trong bối cảnh nào? Vì sao dân tộc lựa chọn con đường ấy? Những quyết định lịch sử nào đã tạo ra bước ngoặt? Bài học nào vẫn còn giá trị đối với ngày hôm nay? Khi người trẻ tự tìm ra câu trả lời bằng tư duy và bằng chứng, niềm tin được hình thành sẽ sâu sắc và bền vững hơn.
Tiếp đó là từ niềm tự hào lịch sử sang trách nhiệm công dân. "Yêu nước trong thời chiến có những biểu hiện của thời chiến. Yêu nước trong thời bình và phát triển cũng phải có những biểu hiện của thời đại mới.
Đó có thể là học tập nghiêm túc, lao động có năng suất, làm chủ khoa học và công nghệ, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường, có trách nhiệm với cộng đồng, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và sẵn sàng đóng góp trí tuệ cho đất nước. Mỗi người hôm nay không chỉ là người thừa hưởng lịch sử mà còn là người đang trực tiếp viết tiếp lịch sử", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh nhìn nhận.
Cuối cùng là từ tiếp nhận thông tin sang làm chủ không gian số. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh, không thể bảo vệ sự thật lịch sử chỉ bằng cách yêu cầu thanh niên "không đọc" những thông tin sai lệch. Cách hiệu quả hơn là trang bị cho họ khả năng nhận diện, kiểm chứng và phản biện những thông tin đó bằng tri thức, tư liệu và lập luận khoa học.
Cùng với đó, cần mạnh dạn số hóa sử liệu, xây dựng bảo tàng số, học liệu tương tác, phim tài liệu, sản phẩm truyền thông ngắn và những không gian trải nghiệm lịch sử hiện đại.
Theo Phó Giáo sư, mục tiêu cao nhất của giáo dục lịch sử không phải tạo ra những con người thuộc lòng quá khứ, mà là hình thành những công dân hiểu quá khứ, có bản lĩnh trong hiện tại và có trách nhiệm kiến tạo tương lai.
"Đó mới là cách sâu sắc nhất để lòng yêu nước trở thành một nguồn lực phát triển", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh nhấn mạnh.
Khi nói về kỳ vọng đối với giáo dục Việt Nam trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho giai đoạn phát triển mới, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh đặt kỳ vọng vào việc kiến tạo một thế hệ "công dân Việt Nam có năng lực toàn cầu và căn tính Việt Nam sâu sắc".
Đó phải là những con người hội tụ ba phẩm chất lớn: Bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng. Bản lĩnh để đứng vững trước những biến động nhanh chóng của thế giới, có năng lực độc lập suy nghĩ, không bị dẫn dắt bởi thông tin sai lệch, biết bảo vệ những giá trị nền tảng và luôn ý thức về lợi ích quốc gia, dân tộc.
Trí tuệ để làm chủ khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số; không chỉ tiếp nhận những thành tựu của thế giới mà từng bước tham gia sáng tạo tri thức, công nghệ và những giá trị mới cho nhân loại.
Khát vọng để không thỏa mãn với những thành tựu đã đạt được, dám đặt ra những mục tiêu lớn, dám đổi mới, sáng tạo và cống hiến vì một Việt Nam phát triển.
Nhìn từ chiều dài lịch sử, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh cho rằng có một sự tiếp nối rõ nét giữa các thế hệ.
"Thế hệ năm 1945 nhận lấy sứ mệnh giành lại quyền độc lập và quyền tự quyết cho dân tộc. Các thế hệ sau đó nhận lấy sứ mệnh bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước. Còn thế hệ hôm nay đang đứng trước một sứ mệnh lịch sử mới: Biến nền độc lập mà cha ông đã giành được thành sức mạnh phát triển, biến khát vọng hùng cường thành những thành tựu cụ thể về kinh tế, khoa học, công nghệ, văn hóa và vị thế quốc gia.
Nếu năm 1945 đặt ra câu hỏi "làm thế nào để Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập?", thì thời đại hôm nay đặt ra một câu hỏi mới: "Làm thế nào để một Việt Nam độc lập trở thành một Việt Nam phát triển, thịnh vượng, hùng cường và có đóng góp ngày càng lớn cho thế giới?". Tôi cho rằng đó chính là chiều sâu thời đại của thông điệp Quốc khánh 2/9 đối với thế hệ hôm nay. Độc lập là tiền đề, tự chủ là năng lực, hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu, phát triển hùng cường là khát vọng. Và con người Việt Nam chính là chủ thể quyết định biến khát vọng ấy thành hiện thực", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Vinh chia sẻ thêm.
Bởi vậy, sứ mệnh của giáo dục trong kỷ nguyên mới không chỉ là trao cho thế hệ trẻ một nghề nghiệp, mà cao hơn là trao cho họ năng lực làm chủ tương lai, bản lĩnh gánh vác trách nhiệm quốc gia và khát vọng cùng dân tộc kiến tạo những kỳ tích phát triển mới.
Đó cũng là cách thiết thực nhất để thế hệ hôm nay tri ân những người đã làm nên mùa Thu năm 1945: Không chỉ tự hào về lịch sử, mà phải tiếp tục làm nên lịch sử.